Lý Minh Tuân Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 852026 với chủ đề: Lý Minh Tuân Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Các bạn !!!
Mình lại tiếp tục nhận đươc trả lời của Lý Minh Tuân, Lý Diệu Thảo và Lý Thái Đăng...!!! Hôm nay, chuyên mục sẽ lần lượt đăng trả lời của từng vị, nếu có thêm các trả lời của HĐ khác, chuyên mục sẽ đăng theo cách cuốn chiếu...!!!
Thầy giáo Lý Minh Tuân là môn đệ của Lý Gia (MB 1349)...Và, cũng là vị HĐ tham gia toạ đàm hôm 12/04 trong sự kiện ra mắt Vô Thanh Luận và tập thơ Nhặt Nhạnh tại Hà Nội...!!!
Sau đây, là trả lời của Sư Đệ Lý Minh Tuân:
"Con xin kính chào Thầy!!!
Xin kính kính chào hành giả Pháp Quang!!!
Con là Lý Minh Tuân, học trò thứ 1349 của thầy Lý Tứ. Trước tiên, con xin gửi lời cảm ơn chân thành tới hành giả Pháp Quang đã gửi đến chuyên mục những câu hỏi rất trí tuệ, thấm đậm mùi vị Đạo pháp. Và đây chính là một đương cơ rất tuyệt vời để con cũng như các HĐTM Lý Gia có dịp tự kiểm chứng mình và tiếp tục tư duy, thâm nhập những tầng nghĩa thẳm sâu của Đạo pháp.
Con xin phép được trả lời 15 câu hỏi của hành giả Pháp Quang như sau:
1. Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Điều này muốn nói đến bản chất không tánh, không tướng của các pháp. Một pháp hay một nhận thức tự nó không có tính chất hay tướng mạo...
Ví dụ: Khi nói bông hoa đẹp, trong suy nghĩ ấy không có tính đẹp; khi nói lửa nóng, trong suy nghĩ ấy không có tính nóng; khi nói ăn cái bánh sẽ no thì trong suy nghĩ ấy không có tánh no. Nói chung, đẹp, xấu, nóng, lạnh, no, đói, ghét, thương, to, nhỏ…không nằm trong nghĩ suy hay nhận thức. Chính vì tính chất không tánh, không tướng này nên mỗi pháp tự nó “như như, rỗng lặng” như vậy. Do đó Phật dạy: "Bản lai các pháp tự nó rỗng lặng, ví như hư không, không có hai pháp. Vì “như hư không” nên các pháp bình đẳng như nhau, không thể phân biệt pháp này với pháp kia" (không có 2 pháp).
b) Nếu các pháp có tánh, có tướng thì với mỗi pháp nó sẽ chỉ có một nghĩa nhất định (tức là ta sẽ bị đóng khung vào một nhận thức cố định, không thể nói khác đi). Chính vì tính chất không tánh, không tướng như vậy nên từ một pháp, Bồ tát có thể hoạt dụng để đưa ra vô lượng nghĩa cho vô lượng căn tánh sai biệt nhằm giúp hành giả có thểthành tựu các mục tiêu trong Phật đạo.
Ví dụ: Tuy cùng nói về Tứ đế, nhưng tùy theo từng tầng bậc: Tục đế, Thánh đế, Chân đế mà Bồ tát tuyên nói các ý nghĩa khác nhau cũng chỉ chung một mục đích là đoạn mê, khai giác, giúp hành giả giác ngộ.
c) Ý nghĩa của đoạn Kinh: Bồ tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa thì phải quán sát để thấu suốt bản chất của các pháp là không tánh, không tướng, ví hư hư không, không có 2 pháp đối đãi. Chính vì ý nghĩa này Bồ tát mới có thể thiện xảo sử dụng các pháp để cho ra vô lượng nghĩa. Ở đây, pháp chỉ là phương tiện, là “ngón tay chỉ trăng” còn nghĩa lại do người nghe thầm hội. Cùng một pháp nhưng nếu với vô lượng căn tánh sai biệt thì cũng sẽ cho ra vô lượng nghĩa sai biệt. Lời thuyết pháp của Bồ tát giống như một cơn mưa, cây nhỏ thì hưởng lợi ích nhỏ, cây lớn sẽ hưởng lợi ích lớn.
2. Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Ở đây, ta cần rành rõ 2 khái niệm Pháp và Trần (thế giới). Pháp là quan điểm, quan niệm, nhận thức của ta về thế giới (chứ không phải là thế giới). Tự trong 1 pháp (hay một nhận thức) không có tự tánh, tự tướng (vô tướng).
Ví dụ: Khi ta suy nghĩ rằng ngọn núi cao thì trong suy nghĩ ấy không có tướng cao của quả núi. Còn khi ta cảm nhận về thế giới, nó vẫn có 1 tướng nào đó nhưng đó chỉ là hư vọng tướng (vì thế giới do duyên sinh và tuân theo quy luật thành, trụ, hoại, không). Nhưng do chúng sanh mê mờ, bị nghiệp thức chi phối, mải chạy theo hư vọng tướng mà quên mất rằng mình đang nhìn nhận thế giới qua một chiếc “áo pháp”. Phật đạo không dạy ta chạy theo thế giới (hư vọng tướng) mà dạy ta quay lại quan sát thân tâm này (tức là quan sát các pháp). Và khi quan sát thấu suốt các pháp không thông qua lăng kính nghiệp thức ta mới nhận ra rằng: Vô tướng (bản chất thật của các pháp) mới là Thật tướng.
b) Giải thích ý nghĩa đoạn Kinh: Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.
Đoạn Kinh trên dịch hơi khó hiểu, tuy nhiên, theo những gì đã được Thầy Lý Tứ giáo dạy, ta có thể hiểu ý nghĩa của đoạn Kinh như sau: Trong cái vô tướng ấy chẳng hàm chứa bất kỳ tướng nào; chẳng hàm chứa bất kỳ tướng nào mới gọi là vô tướng. Vô tướng như thế thì mới gọi là “thật tướng”.
3. Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời: Hai cái thấy này không hề trái ngược nhau. Lí do: Khi nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là đang nói đến “bản chất, tự tánh” của các pháp (các pháp không tánh, không tướng).
Còn khi nói: Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là nói đến “bản chất duyên sinh” của các pháp. Các pháp do 3 duyên căn, trần, thức hòa hợp sinh ra nên nó tuân theo quy luật sanh, trụ, dị, diệt.
Như vậy, trong 2 mệnh đề trên tuy đều nói về pháp nhưng một mệnh đề nói về “bản chất, tự tánh” của các pháp còn một mệnh đề nói về “bản chất duyên sinh”của các pháp. Hai mệnh đề này tuy khác nhau nhưng ý nghĩa không hề trái ngược nhau.
4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
a) Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó?
Câu này chỉ đúng trong giai đoạn Phật dùng giáo pháp như một phương tiện quyền tiểu để giúp Ba thừa tịch diệt tâm hư vọng và pháp hư vọng, ra khỏi sự mê muội của một chúng sanh. Khi cái thấy biết hư vọng không còn nữa, bây giờ vị này mới có cơ may hiểu được ý nghĩa chân thật mà chư Phật đã thuyết. Tức là, họ có thể biết đâu là chân thật ngữ, đâu là phương tiện ngữ của Như Lai. Kinh gọi cái thấy chân thật này là “thấy thiệt tướng”, nghe chân thật này là “nghe thật ngữ”.
b) “Vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?
Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy “Tứ Y”, trong đó có “Y kinh liễu nghĩa, không y kinh bất liễu nghĩa”. Có nghĩa muốn thấu suốt chân lý, chỉ nên y vào lời chân thật (liễu nghĩa), không nên y cứ vào những gì còn nằm trong phạm vi phương tiện (bất liễu nghĩa). Phật cũng dạy: “Trong ngữ có nghĩa, trong nghĩa có ngữ” hoặc “ngữ ấy tức nghĩa ấy”… Tất cả những lời dạy này, tùy theo đương cơ, đều giúp người giác ngộ, trực nhận được tánh rỗng lặng của các pháp mà không làm người giác ngộ động lay tâm thức. Đó chính là minh chứng cho thấy từ cái nền “vô tướng” vẫn sinh ra vô lượng nghĩa mà không mất đi tánh rỗng lặng của các pháp.
5. Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời: Bản chất sự sai khác này là sai khác về mặt nhận thức (tri kiến) của từng giai đoạn. Khi ở thành Ba La Nại, Phật quay bánh xe pháp Tứ đế, nói các pháp bản lai rỗng lặng để giúp chúng sinh tự độ (cảnh giới Li cho Thanh Văn; cảnh giới Bất cho Duyên Giác; cảnh giới Vô cho Bồ Tát). Và bây giờ (khi thuyết Kinh Đại thừa vô lượng nghĩa), Phật vẫn nói các pháp bản lai rỗng lặng nhưng để giúp Bồ tát hoạt dụng tất cả các pháp thành Phật pháp để hoàn thành xứ mệnh độ tha (cảnh giới Phi).
6. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời: Bồ tát sơ phát tâm (người chưa giác ngộ) khi đọc tụng và giảng nói kinh này sẽ tiếp cận nghĩa lý bằng niềm tin (tín tâm). Họ y như lời Kinh mà tư suy, suy ngẫm và thực hành (như lý tác ý). Do có chủng tử Bồ tát nên họ thường sinh hoan hỉ tâm, nỗ lực học tập và cũng hiểu được một số nghĩa lý trong Kinh; thấy được an vui; phiền não, mê mờ bắt đầu mỏng lược. Nhờ những thành tựu ban đầu này họ chuyển dần từ tín tâm sang tín căn. Nhờ những dấu hiệu này họ có đủ tự tin rằng, mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng.
7. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
a) Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Câu này đúng.
b) “Ngôi nhà chư Phật” ở đây chính là Bản Giác (Phật tánh, Phật trí) hoặc Pháp thân Phật. Ta có thể làm rõ vòng tròn khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân như sau:
Kinh này “từ nhà chư Phật đi ra”: Hóa thân được hóa hiện (sinh ra) từ Pháp thân. "Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ đề”: Chúng sanh dùng Báo thân để học tập, thể nhập Kinh. Khi vị này đạt được địa vị Đẳng Giác Bồ tát (Chư Phật từ Bản giác chiếu ra, chúng sanh từ thỉ giác đi vào, chỗ gặp nhau gọi là Đẳng) thì vị này chính là Ứng thân Phật (Kinh và vị này là một) cho nên gọi là “Trụ ở Bồ tát sở trụ”.
8. Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
a) Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ vẫn có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh nếu người này có nguyện lớn: Trên cầu tròn thành Phật đạo, dưới nguyện hóa độ vô lượng chúng sanh. Hình ảnh “Người thuyền trưởng ở đây” không có nghĩa vị này đã hoàn toàn tự tại chèo lái con thuyền “Đại thừa vô lượng nghĩa”. Nhưng nhờ có tâm đại bi mà vị này biết cách cung cấp các phương tiện từ con thuyền (Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa) để giúp người qua sông (đáo bỉ ngạn). Tuy rằng việc cứu độ chúng sanh của vị này vẫn chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn hơn là để tất cả chúng sanh đều “chết chìm” trong dòng sông phiền não.
b) Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?
Nhận định này đúng, vì con đường của Bồ tát là “học đi đôi với hành”. Giống như một người học nghề Bác sỹ, học đến đâu họ phải thực hành đến đó thì kết quả cuối cùng mới mau thành tựu. Còn nếu một vị học xong tấm bằng Bác sỹ là lại đi làm nghề đánh cá thì sau một thời gian cũng sẽ bị mai một kiến thức và vị ấy không thể trở thành một Bác sỹ thực thụ. Khi một vị chưa giác ngộ viên mãn, thì “đại bi” và “phương tiện”vẫn có thể giúp Bồ tát độ sinh, chỉ có điều hiệu quả độ sinh chưa viên mãn.
9. Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
a) Phẩm vị vừa đến từ năng lực vừa đến từ dòng dõi. Bởi vì có năng lực ắt sẽ có phẩm vị (luật nhân quả). Và ngược lại đã thuộc giòng dõi (con vua) ắt sẽ có phẩm vị (luật kế thừa tài sản và ngôi vị!!!).
b) Quan điểm “thái tử sơ sinh” tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính….không hề mâu thuẫn với tinh thần bình đẳng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Lí do: Bản lai, mọi chúng sanh đều là “thái tử” vì đều có Phật tánh như nhau. Tuy nhiên, khi chúng sanh còn ngụp lặn trong vô minh thì không thể biết mình mình cũng đang là giòng dõi vương giả.
10. Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
a) Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh ẩn dụ cho năng lực bất khả tư nghì công đức của kinh này. Nếu như người này vẫn còn đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu nhưng chỉ cần được nghe Kinh này và phát đại tâm dõng mãnh của Bồ tát, nguyện cứu giúp hết thảy chúng sanh ra khỏi khổ đau thì tâm thức của vị này sẽ được chuyển hóa cực kỳ mau lẹ (thị hiện một ngày thành trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày).
b) Việc chuyển hóa tâm thức nêu trên không phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm mà nó nói đến năng lực đốn ngộ của kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.
11. Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
a) Thẩm quyền giáo hóa nằm ở cả ở sự chứng lượng của bản thân và cả sự trung thành với lời Phật dạy. Xét cho cùng, muốn chứng lượng thì cũng phải trung thành với lời Phật dạy. Khi đã trung thành với lời Phật dạy thì sớm hay muộn cũng sẽ chứng lượng.
b) Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về cả ba (Kinh, Phật và chính vị phàm phu ấy) vì Phật và Kinh chính là vị thầy của người ấy.
Ví dụ: Một đứa trẻ học cấp 1 mặc dù chưa được học hỏi nhiều về lĩnh vực cấp cứu người bị nạn nhưng nhờ y theo lời thầy dạy mà cứu sống được một người đuối nước. Công lao “cứu sống người” thuộc về cả đứa trẻ, cả về giáo trình giảng dạy và người thầy.
12. Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
a)Vô sanh pháp nhẫn (không sanh pháp) tương đương với địa vị Thất địa Bồ tát (Viễn hành địa) và sẽ viên mãn ở Bát địa Bồ tát (Bất động địa)
b) “Lục độ tự nhiên hiện ra” vừa là kết quả của việc đốn ngộ trong hiện tại khi được Kinh này khai mở, đồng thừa nó cũng là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ (nay đủ duyên thì sẽ bùng vỡ, hiển lộ).
13. Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
a) Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây chính là trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh này đã làm tan rã gốc rễ vô minh. Kinh không thể có sức mạnh như một dòng nước làm cuốn trôi nghiệp cũ. Muốn nghiệp cũ tiêu tan, vị này phải học tập, khế hợp với Kinh để phát sinh trí tuệ thì mới làm tan rã gốc rễ vô minh. Nếu nói rằng “Kinh có sức mạnh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ” thì tại sao rất nhiều người đọc Kinh này mà vẫn mãi khổ đau.
b) Sám hối trong Phật đạo và tu tập giới – định – tuệ thực chất là một quá trình học tập dài lâu để thay đổi nhận thức, đoạn dứt 3 tầng bậc vô minh. Cho nên, sự “tiêu tan nhất thời này” về bản chất không khác gì sự chuyển nghiệp từ từ qua việc sám hối và tu tập giới định tuệ theo quá trình tiệm tu. Tuy rằng việc đốn ngộ thì thời gian mau lẹ hơn nhiều nhưng nó vẫn là “Quả” của một quá trình học tập lâu dài trước đó.
14. Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
a) “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Đây chính là sự thọ ký của Phật cho tất cả những ai nếu thực hiện được lời dạy trên thì chắc chắn sẽ đạt đến địa vị “Pháp vân địa” trong tương lai. Phật đạo không đề cập đến những vấn đề tâm linh, siêu hình mà chỉ dạy con người nỗ lực học tập để giác ngộ và có trí tuệ. Việc một phàm phu thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị Pháp Vân địa cũng đã thể hiện đúng tiến trình từ nhân đến quả theo triết lý nhà Phật.
b) “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Đúng như vậy. Việc cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại này là một tiến trình đi từ Giác đến Ngộ, từ Nhân đến Quả mà bất kỳ người tu hành chân chánh nào cũng có thể đạt được.
Ví như một người tuy chưa bao giờ đặt chân lên Mặt Trăng nhưng họ lại được những người lên trước cung cấp toàn bộ dữ liệu, hình ảnh về Mặt Trăng thì họ cũng dần cảm nhận được thực địa nơi đó.
15. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời: Cả 2 nhận định trên đều đúng!!! Một bản Kinh hay một bài pháp mà Phật thuyết ra giống như một trận mưa rơi xuống, cây to sẽ hưởng được nhiều mưa, cây bé sẽ hưởng được ít mưa. Dù hưởng được nhiều hay hưởng được ít nhưng “mưa” đã đem đến một lợi ích chung, đó là giúp cho cây sinh trưởng. Và điều này cũng thể hiện tính chất “vô lượng nghĩa” của kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.
Con, Lý Minh Tuân - MB 1349" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
06/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


