Lý Diệu Tâm Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 84.2026 với chủ đề: Lý Diệu Tâm Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!
Lại có thêm các câu trả lời của Sư Muội Lý Diệu Tâm (MB 465)...!!!
Để tránh ùn ứ các câu trả lời quá nhiều...Cho nên, nhận được trả lời của HĐ nào, chuyên mục lập tức đăng các câu trả lời ấy lên fanpage...Điều này, có thể dẫn tới quá tải đối với một số bạn đọc không quen đọc tụng...Tuy nhiên, chẳng biết làm sao hơn...!!! Thôi thì, mong quý bạn đọc và hành giả Pháp Quang kham nhẫn vậy...!!!
Sau đây, là trả lời của Lý Diệu Tâm:
"Thưa thầy, thưa toàn thể các HĐTM Lý Gia,
Con là Lý Diệu Tâm, học trò số 465 của Thầy. Trong Chuyên mục Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời số 80/2026, Hành giả Pháp Quang có gửi đến chuyên mục và đặc biệt là dành cho HĐTM Lý Gia 15 câu hỏi. Nhân dịp này, con xin phép được cùng HĐTM Lý Gia làm rõ 15 câu hỏi của Hành giả Pháp Quang.
Kính gửi Hành Giả Pháp Quang!
Trước tiên, Diệu Tâm xin được bày tỏ sự trân trọng đối với vị tiền bối đi trước đã dành thời gian quý báu đến tham dự Sự kiện Ra mắt sách ngày 12 tháng 4 vừa qua. Tiếp theo, khi đọc 15 câu hỏi của Hành Giả, Diệu Tâm nhận thấy 15 câu hỏi này đều có nội dung nằm trong cuốn Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.
Như HĐTM Lý Gia được dạy, Kinh điển giống như sách giáo khoa, mỗi cuốn Kinh đều tương ưng với một tầng bậc thực chứng nào đó, vì vậy, trước khi cùng nhau khảo cứu 15 câu hỏi của Hành Giả, Diệu Tâm xin phép được xác nhận sơ qua về cuốn Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. Có thống nhất được những điều này, chúng ta mới có thể thống nhất được các quan điểm để trả lời 15 câu hỏi mà Hành Giả đưa ra.
Chúng ta đều biết, quá trình Đức Phật giáo hoá chúng sanh được chia thành 5 thời kỳ (gọi là Ngũ Thời thuyết pháp): “Theo Đại sư Trí Giả, giáo pháp được Đức Phật thuyết giảng chia làm 5 thời kỳ (Ngũ thời) gồm: Thời Hoa nghiêm (21 ngày đầu tiên sau khi Phật thành đạo), thời A hàm (12 năm kế tiếp), thời Phương đẳng (8 năm kế tiếp), thời Bát nhã (22 năm kế tiếp), thời Pháp hoa và Niết bàn (8 năm cuối cùng)...”! (Trích GiacNgo.Vn!)
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa được đặt trong Bộ Kinh Pháp Hoa, như vậy, nội dung Kinh này được Phật thuyết trong thời Pháp hoa và Niết bàn, là giai đoạn cuối của hành trình giáo hoá. Kinh cũng ghi rõ là dành cho hàng Đại Thừa, chính vì vậy Kinh hàm chứa những điều sâu xa của đạo pháp, chỉ có những người đã hoàn thành giải quyết tự thân, dấn thân vào quá trình học tập trí tuệ, thậm chí đã thành tựu một vài quả vị trong hệ thống Thập Địa mới có thể thâm nhập giáo pháp được chỉ bày trong Kinh này. Nói cách khác, đây là bộ kinh thuộc về chuyên môn cao cấp của Phật Đạo, “nếu chưa chứng thánh quả xuất thế vạn lần nghe xong chỉ như vịt nghe sấm, đây là lí do 500 con vịt tăng thượng mạn đành rời hội Pháp Hoa” (Trích Rồng Rắn Lên Mây – tác giả Lý Tứ).
Dưới đây là câu trả lời dành cho 15 câu hỏi của Hành Giả:
Hỏi:
1. Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Bồ Tát nhờ thấu suốt tánh tướng bản lai rỗng lặng, tự không mà thành tựu tâm như hư không. Tâm như hư không là điều kiện để thành tựu Trí như hư không. Trí như hư không nên tương ưng với tất cả tâm ý của vạn loại hữu tình. Tương ưng với tâm ý vạn loại hữu tình chính là ý nghĩa chân thật của Vô Lượng Nghĩa.
Hỏi:
2. Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Chúng sanh theo nghiệp mà thấy thế giới có các tướng khác nhau, vì có các tướng khác nhau nên tướng đấy không phải chân thật tướng. Cũng vì có các tướng khác nhau nên biết thế giới chẳng có tướng, chẳng tướng nên gọi là vô tướng. Vô tướng chính là chân thật tướng.
Hỏi:
3. Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời:
Không phải trái, cũng không phải không trái. Kinh nói về bản lai chân thật. Bồ Tát tuyên thuyết về hữu tình khi mê.
Giống như người giàu ngủ mê mình nghèo, nói trái cũng phải, nói không trái cũng phải.
Hỏi:
4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
Vô Tướng là thể, Vô Lượng là dụng. Giống như ánh sáng là thể, hơi nóng là dụng. Có ánh sáng thì có hơi nóng. Cái nóng của đèn không làm mất đi cái sáng của nó.
Hỏi:
5. Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
Giống như vị ngọt ở rìa đĩa mật, vị ngọt ở giữa đĩa mật, vị ngọt khi ăn xong cả đĩa mật. Tuy vị ngọt giống nhau nhưng thực chứng của người ăn thì khác.
Hỏi:
6. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
Kinh Đại Thừa dành cho Bồ Tát đã vào Địa (Từ Sơ Hoan Hỉ Địa trở lên), hàng Bồ Tát sơ phát tâm (Thập Trụ) đọc Kinh này được coi là ngồi nhầm lớp.
Hỏi:
7. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
- Từ nhà chư Phật mà ra, nghĩa là Kinh này từ trí tuệ của Đức Phật mà tuyên thuyết (Phật trí).
- Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ Đề, nghĩa là mục đích của Kinh là giáo hoá hàng Bồ Tát phát tâm nguyện Đại Thừa cứu độ chúng sanh.
- Trụ ở Bồ Tát sở trụ, nghĩa là yêu cầu của Kinh là Bồ Tát đang trong quá trình học tập trí tuệ (sai biệt trí).
Hỏi:
8. Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
Nguyên văn đoạn Kinh là:
“Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu, thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa rồi. Tuy có phiền não thì cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt; đối với chúng sanh thì sanh ra tư tưởng thương xót; đối với nhứt thiết pháp thì được tư tưởng mạnh mẽ; như người tráng sĩ hay mang hay giữ những món nặng nề, người trì kinh nầy cũng lại như thế, hay gánh trọng trách của đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ-đề; hay mang đội chúng sanh ra khỏi đường sanh tử. Tuy chưa độ được mình mà đã hay độ cho người. Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy cũng lại như thế, tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử."
Đọc kỹ đoạn Kinh thấy rõ, thuyền trưởng dụ cho Nhục Thân (Báo Thân), thuyền bè dụ cho Pháp thân của Bồ Tát. Bồ Tát lấy trí tuệ là tài sản.
Hỏi:
9. Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
Đây chính là tinh thần “Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh”. Mặc dù chúng sanh nào cũng có Phật Tánh (hạt giống) nhưng phải học tập (gieo trồng) mới thành quả Phật. Ví dụ này nhắc nhở hàng Bồ Tát trong giáo hoá nhận thức rõ: “chúng sanh chẳng phải chúng sanh” như tinh thần của Kinh Kim Cang.
Hỏi:
10. Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
Kinh dạy là “chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu” chứ Kinh không nói là “phàm phu”. Ví dụ này mô tả điều kiện của Bồ Tát đủ điều kiện cầu học trí tuệ: 1) Phải thành tựu hai vô ngã; 2) Phải ra khỏi Bất Động; 3) Phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề; 4) Phải dám bán thân cầu đạo; 5) Phải thường xuyên thân cận Thiện Tri Thức;… Một trăm kiếp là nói về quá trình sai biệt trí của Bồ Tát.
Hỏi:
11. Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
Khả năng thuyết pháp khác với hiệu quả thuyết pháp. Bồ Tát hoàn thành thập trụ đủ điều kiện học trí tuệ, có thể gọi là có khả năng thuyết pháp. Khi bắt đầu vào địa, Bồ Tát vừa học vừa làm để nâng cao năng lực thuyết pháp. Kinh nói: Bồ Tát y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn. Bồ Tát thuyết pháp được công đức này.
Hỏi:
12. Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
- Quá trình tu hành Phật Đạo chia thành hai giai đoạn là Tự Độ và Độ Tha.
- Ở giai đoạn tự độ, mục tiêu của người học là thành tựu cấp học Diệt Đế. Để thành tựu rốt ráo Diệt Đế, đối với riêng Bồ Tát phải tu Ba La Mật để giải quyết hoàn toàn những thừa sót còn lại. Vô sanh pháp nhẫn là thuật ngữ mô tả cảnh giới của người thành tựu rốt ráo Diệt Đế, thành tựu cảnh giới Xuất thế. Xét về các địa vị trong Thập Trụ, Vô Sanh Pháp Nhẫn tương đương từ Chánh Tâm Trụ đến Quán Đảnh Trụ.
- Ở giai đoạn độ tha, Bồ Tát Nhất Thừa lần lượt trải qua thập địa bằng cách tu 4 ba la mật còn lại. Từ Sơ Hoan Hỉ Địa đến Thất Địa (Viễn Hành Địa) người này thấu suốt các cảnh giới xuất thế và có khả năng đưa chúng sanh đi qua các cảnh giới khác nhau.
- Như vậy có thể thấy lời Kinh trên đây là một cách nói tượng trưng để mô tả 2 giai đoạn tốc lực tâm, tốc lực trí của người tu hành, hay nói cách khác là nói lên ý chí của người tu hành nhiều hơn là việc đốn hay ngộ.
(1) Giai đoạn 1 là nhanh chóng hoàn thiện 6 ba la mật, chứng quả vi vô sanh pháp nhẫn, hoàn thành quá trình tự độ.
(2) Giai đoạn 2 là giai đoạn tốc lực cầu học trí tuệ, hoàn thành các quả vị để giúp người một cách hiệu quả.
Hỏi:
13. Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
Bồ Tát do thấu suốt bản chất của thân – tâm và thế giới mà không còn bị nghiệp chi phối nên gọi là tiêu trừ nghiệp chướng (nghiệp không còn trở thành chướng ngại). Phật Đạo dạy người tu hành hiểu rõ về nghiệp và cơ chế viên mãn của nghiệp, từ đó mà nghiệp tự chuyển hoá từ hữu lậu sang vô lậu.
Hỏi:
14. Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
Pháp Vân Địa là mô tả năng lực nổi mây mưa Pháp của Bồ Tát. Kinh nói: “Ở chốn phàm phu” (chứ Kinh không nói là Phàm phu), nghĩa là Bồ Tát nổi mưa pháp ở chốn phàm phu! Điều này hoàn toàn đúng đắn. Tất cả các địa của Thập Địa đều được thực chứng trong hiện tại nếu chịu khó học tập, Phật không hứa suông.
Hỏi:
15. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Ý của đoạn Kinh nói lên rằng, Bồ Tát thấu suốt Kinh này có năng lực giúp cho phàm phù đều chứng thánh quả, xa lìa sanh tử khổ, tự tại an vui!
Con, Lý Diệu Tâm - MB 0465" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
05/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


