Thiện Đức Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 83.2026 với chủ đề: Thiện Đức Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Các bạn !!!
Thế là, chuyên mục lại nhận thêm trả lời của Thầy Thiện Đức...!!! Thầy Thiện Đức hiện là Nghiên Cứu Sinh tại Ấn Độ...Cũng là vị khách mời đặc biệt của Ban Tổ Chức trong buổi toạ đàm ngày 12/04 tại sự kiện ra mắt Vô Thanh Luận...!!!
Sau đây là nội dung trả lời của Thầy Thiện Đức:
"Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính thưa Thầy Lý Tứ, thưa chư huynh đệ Lý Gia
Kính thưa Hiền giả Pháp Quang.
Trước khi con mạo muội trình bày đôi điều học hiểu của mình đối với những câu hỏi mà Hiền giả Pháp Quang đã nêu ra, con xin được cúi đầu kính lễ Thầy Lý Tứ, đồng thời xin phép chư huynh đệ tỷ muội Lý Gia cho phép con được góp một phần nhỏ trong pháp đàm này.
Con là Thiện Đức, hiện đang theo học tại Ấn Độ. Con tự xét mình phước mỏng, học cạn, biết đến sách của Thầy Lý Tứ và xin theo học bên Thầy cùng huynh đệ đến nay hơn ba tháng.
Đối trước quý huynh đệ đồng môn đã nhiều năm thân cận học đạo bên Thầy, đứng trước Hiền giả Pháp Quang đã nhiều năm thâm cứu giáo nghĩa Đại Thừa, một đời tinh chuyên đạo pháp thì những điều con học hiểu chẳng khác nào đom đóm trước trăng rằm, giọt sương trên biển cả… Dù vậy, con vẫn hằng kính nghe lời bậc cổ nhân khích lệ: “Nghe đạo có trước sau, đạt lý không phân già trẻ.”
Hôm nay được đọc thư của Hiền giả Pháp Quang, thấy nơi từng dòng chữ đều toát lên tâm học pháp chân thành, lòng kính tín Tam Bảo thiết tha và chí nguyện truy tầm nghĩa lý Đại Thừa không biết mỏi mệt...Con vô cùng cảm phục, kính ngưỡng và đâu đó đánh thức những thao thiết thẳm sâu trong tâm học đạo nơi con. Con kính biết ơn Hiền giả Pháp Quang rất nhiều!
Cầm trên tay 15 câu hỏi của Hiền giả, con nhớ lại con đã có rất nhiều câu hỏi ngổn ngang trong lòng trên đường tu học. Rồi hữu duyên con đọc được những bài viết của Thầy Lý Tứ, con tìm đọc sách của Thầy, rồi tự mình tìm đến Thầy chân thành thỉnh pháp… Nhờ ơn giáo dạy và sự trợ duyên của Thầy để con được học hỏi, kính nhận giáo nghĩa bằng tâm thành, sự khiêm cung và tinh thần cầu học của một người học trò khi được đón nhận Phật đạo như một nền giáo dục vừa chân thật, sáng rõ, logic khoa học nhưng lại vô cùng thâm sâu chẳng thể nghĩ bàn.
Giờ phút này, con mang tâm thái ấy để mạo muội viết ra đôi dòng giải đáp với 15 câu hỏi đầy tâm huyết của Hiền giả Pháp Quang, ấy không phải vì con dám nhận mình có khả năng giải đáp, mà chỉ vì muốn đem chút sở học ít ỏi trình lên trước Tam Bảo, trước Thầy, trước đạo hữu bốn phương để mong nhận được sự chỉ giáo với mong ước rằng từ sự chia sẻ chỉ dạy của quý vị sẽ tịch diệt những ngu mê lầm nơi con, để mặt trời của giác ngộ, giải thoát và trí tuệ được hiển bày.
Nếu những điều con trình bày có chỗ tương ưng với Chánh pháp, đó là nhờ ơn Tam Bảo, nhờ ân đức giáo dưỡng của các bậc trưởng thượng và đại chúng. Nếu có chỗ nào sai lầm, nông cạn hay khiên cưỡng, con xin được đón nhận sự chỉ dạy từ Thầy, từ Hiền giả Pháp Quang cùng chư huynh đệ Lý Gia.
Nguyện cho nhân duyên pháp đàm này trở thành thắng duyên để những người hữu tâm hướng Phật được cùng nhau học hỏi, cùng nhau soi sáng tri kiến, cùng nhau nâng đỡ trên đường tu tập, để rồi một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều có thể đồng hội nơi đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.
Kính chúc Thầy Lý Tứ thân khoẻ tâm an, trụ thế dài lâu để dìu dắt cho bao học trò hữu duyên thành tựu những điều cần thành tựu trong tu học Phật Pháp; kính chúc Hiền giả Pháp Quang thân tâm thường lạc, đạo hạnh tinh chuyên, tâm bồ đề viên đắc; kính chúc quý độc giả cùng huynh đệ Lý Gia an vui và tinh tấn!!!
Kính thư,
Thiện Đức
Dưới đây là phần trả lời 15 câu hỏi của con
Câu 1:
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Rỗng lặng không phải vì các pháp không hiện hữu mà vì các pháp không tự hữu.
Không hai không phải vì mọi thứ thành một, mà vì mọi đối đãi đều do hư vọng tâm phân lập.
Thấy được một pháp vô tự tánh, tức thấy tất cả pháp vô tự tánh. Thấy được như vậy gọi là vào cửa Vô Lượng Nghĩa. Đoạn văn kinh vì thế mà “ấn tâm” biết bao!!!
Câu 2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Thật tướng chẳng ở ngoài các tướng. Chỉ vì các tướng vốn không tự tánh nên gọi là Vô tướng. Thấy được tướng mà không bị tướng che lấp, ấy là thấy Thật tướng. Chỉ thú của đoạn văn kinh rõ thay!!!
Câu 3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời:
Kinh ngôn ấy và sự quán sát của Bồ tát nào có trái ngược!!! Vì các pháp niệm niệm sanh diệt nên vốn không tự tánh. Vì vốn không tự tánh nên xưa nay chưa từng sanh diệt!
Câu 4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
Nước có thể thành sóng, thành mưa, thành sương, thành tuyết… nhưng không vì hiện vô số dạng mà mất bản chất nước. Cũng vậy, từ vô tướng hiện Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ, Nhất Thừa, Pháp Hoa… Tất cả đều là ứng dụng của một chân lý duy nhất. Cho nên, Vô lượng nghĩa sinh từ vô tướng, nhưng vô tướng chưa từng biến thành cái gì cả. (Vô tướng không biến thành muôn pháp). Chỉ vì muôn pháp vốn là Vô tướng. Đó là nghĩa "dụng mà thường tịch" như nguồn chưa từng động nên nước mới hiện được muôn dòng. Nghĩa tuy vô lượng, vẫn không rời Vô tướng bởi “Xưa nay ba đời Phật – Đều không pháp không tâm…” (Trích - Yếu Chỉ Thiền Na - Lý Tứ)!!!
Câu 5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
Văn tự giống. Cảnh giới người nghe nhận có khác nên ý nghĩa khác. Phật tùy căn cơ mà chuyển nghĩa, liền ngâm rằng:
Thoạt đầu Phá Chấp hề,
Chặng giữa hiển Không hề,
Sau khai Nhất Thừa hề.
Lời tuy vẫn một hề,
Chỗ đến chẳng đồng hề…!!!
Câu 6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
Con đường ấy từng bước thâm trầm trong tín - giải - hạnh - nguyện; như mắt hướng về phía núi, dẫu chưa lên đến đỉnh núi nhưng rõ biết là đúng hướng. Kinh tuyên là tùy thuận Phật trí, dù chưa chứng nhập Phật trí. Đây chính là chỗ đứng của người sơ phát tâm khi đọc tụng và diễn nói Kinh Vô Lượng Nghĩa.
Câu 7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
Chư Phật lấy Pháp giới làm nhà. Kinh từ nhà ấy mà ra. Chúng sanh phát tâm là cửa mở. Bồ Tát an trụ là đèn không tắt để khéo tỏ soi, có thể hát:
Từ Phật tâm mà ra.
Đến Phật tâm mà vào.
Trụ nơi Phật tâm mà hành.
Đó gọi là "nhà chư Phật".
Câu 8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
Phật lấy giác ngộ viên mãn để độ chúng sinh; Bồ Tát lấy tâm không bỏ chúng sinh để độ sinh. Chỗ hơn kém có khác, nhưng từ bi đồng một vị!!! Ví như, một ngọn đèn nhỏ chưa phải là ngọn đại đăng nhưng vẫn có thể thắp sáng đèn khác. Diệu thay! Đại bi không đợi thành Phật mới khởi; phương tiện không đợi viên mãn mới dùng, pha trà ngắm cảnh vốn cùng tương dung…!!!
Câu 9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
Thái tử không hơn ai ở bản tánh; Chỉ khác ở chỗ đã hướng về ngôi vua!!! Chỗ thâm thuý đã tỏ… “Phật dữ chúng sinh đồng” (Trích - Thiền Sư Huệ Sinh - 1063)!!!
Câu 10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
"Một ngày thành trăm kiếp" chẳng phải vì ngày dài ra; "Trăm kiếp thành một ngày" không phải vì kiếp ngắn lại. Nơi tâm còn đo lường hư vọng nên có dài - ngắn, tốt - xấu, đúng - sai… Khi tâm không trụ nơi quá khứ như mộng, không đuổi theo vị lai như huyễn, thì một niệm hiện tiền không nắm bắt chẳng thuộc một ngày cũng chẳng thuộc trăm kiếp…Chẳng phải đoạn trừ thời gian, muôn kiếp vốn chưa từng rời một niệm. Như thị…! Như thị…!
Câu 11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
Chánh pháp là nhân. Người thuyết pháp là duyên; công đức thành tựu thuộc về Phật pháp, còn tội lỗi vẫn thuộc về người phạm hạnh.
Mưa là Phật,
Hạt giống là kinh,
Người nông dân là người thuyết pháp, không sai nhân quả,
Thiếu một trong ba đều khó (không) thành tựu!
Cho nên, công đức không hoàn toàn thuộc riêng ai…!
Câu 12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
Hoa nở trong một sớm nhưng đâu phải mới thành trong một sớm ấy. Vô sanh hiện tiền, công phu nhiều đời đều hiện tiền. Vô sanh không phải điều mới được! Chẳng là vốn thế xưa nay??? Cho nên, kinh nói "được vô sanh pháp nhẫn" thực ra là nhận ra và an trụ nơi cái vốn chưa từng sinh, từ đó, Lục độ và Bồ-tát hạnh tự nhiên lưu xuất!!!
Câu 13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
Chẳng phải kinh diệt nghiệp! Chỉ vì người nghe nhận thấy được chỗ vốn không sinh nghiệp. “Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau…” (Trích - Bài Tráng Ca Bất Tử - Lý Tứ)! Mây tan trăng hiện! Hãy gấp tìm ngọn đèn!!!
Câu 14
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
Mầm cây chưa là đại thụ nhưng bóng đại thụ đã nằm trong mầm cây. Pháp Vân Địa là chỗ đến. Đại bi là đường đi. Người thật đi trên đường ấy, đã mang khí tượng của chỗ đến; khi cánh cửa đại bi tâm đã mở, cảnh giới tương lai đã bắt đầu hiển hiện ngay trong hiện tại. Ý vị "dần dần thấy được" là sự cảm nhận, lãnh hội phần nào thực tại ấy ngay trong hiện tại, vừa là sự thọ ký về con đường chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai. Không phải chỉ thành tựu địa vị, mà là đã gieo nhân và bắt đầu sống trong ánh sáng của địa vị đó ngay nơi tâm thức này!!!...
Câu 15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Một câu hỏi hay!
Và một tứ thơ đã đọc bỗng dưng lưu xuất:
“… À ơi, Ấu biến thành sen,
Lời ru con đó, nghe quen thuở nào…”
(Trích - Bài Tráng Ca Bất Tử - Lý Tứ)
Điều mà ý kinh muốn nhấn mạnh không phải là sự chuyển đổi từ phàm phu thành thánh giả về mặt danh vị, mà là sự chuyển hóa ngay nơi tâm thức. Khi trí tuệ về thật tướng các pháp được khai mở, người ấy tuy chưa ra khỏi sinh tử trên hiện tượng, nhưng đã không còn bị sinh tử trói buộc trong nhận thức. Vì thế kinh vẫn gọi là "phàm phu", nhưng đồng thời khẳng định họ đã "chứng đắc quả" và "xa lìa sanh tử" - thân còn ở trong dòng sinh diệt, nhưng tâm đã chạm đến chiều kích vô sinh. Đây chính là ý nghĩa sâu xa của hình ảnh "phàm phu Bồ-tát"!
Với tất cả lòng trân trọng,
Con, Thiện Đức" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
05/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


