Thiền và Các Chướng Ngại !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 45.2026 với chủ đề: Thiền và Các Chướng Ngại !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư và một số câu hỏi của bạn đọc Dương Việt Dũng ở Bắc Ninh liên hệ đến việc tu thiền...Nội dung như sau:
"Thưa Tác giả Lý Tứ,
Cảm ơn những câu trả lời của Thầy cho con trong chuyên mục số 36. Những câu trả lời của Thầy thật ngắn gọn nhưng trọng tâm, giúp con giải được mối nghi trong lòng mình. Nay con xin tiếp tục có thêm những câu hỏi sau khi đọc chương 2: Thiền Và Ngũ Triền Cái trong sách Phật Giáo và Thiền.
1. Trong chương có trích lời Phật: “Sơ thiền phải gồm đủ hai điều: Một là xa lìa, hai là cụ túc” - thầy có thể giải nghĩa cụ thể hơn về “cụ túc” ở đây là gì ạ?
2. Về nghi: Thầy viết “nghi có thể là chướng ngại nặng”. Trong khi đó, tư duy chất vấn, phản biện đôi khi giúp ta tỉnh táo, sáng lẽ và không cuồng tín. Vậy sự khác nhau giữa “nghi” trong ngũ triền cái và cái “nghi” trong tư duy phản biện là gì ạ?
3. Chương nói “ngũ triền cái xuất hiện khi bắt đầu trú tâm” - xin thầy mô tả cơ chế sinh khởi: Tại sao chính lúc tâm bắt đầu tĩnh lặng thì vô minh lại “xuất chiêu” mạnh mẽ ạ?
4. Trong chương thầy liên hệ ngũ triền cái với bốn đế và 37 phẩm - thầy có thể giải thích rõ giúp con mối liên hệ có hệ thống giữa “vượt triền cái” và tiến trình tu tập 37 phẩm trợ đạo ạ?
5. Về việc "Hướng tâm mãnh liệt" trong đời sống: Thầy nhấn mạnh việc hướng tâm đến cứu cánh mãnh liệt để đẩy lùi vô minh. Với những học trò của Thầy, làm sao để các bạn ấy giữ được sự "mãnh liệt" này mà không bị biến thành áp lực căng thẳng hay sự mong cầu quá mức (một dạng của trạo cử)?
Con xin cảm ơn! Mong nhận được giải đáp từ Thầy! Kính chúc Thầy nhiều sức khỏe!
01/03/2026 - 16:42:21 - Dương Việt Dũng - Bắc Ninh" (Hết thư)
Dương Việt Dũng và bạn đọc thân mến !!!
Theo mình biết, thiền trong Phật đạo có hai xu hướng khác nhau đó là: Một của thế gian gọi là Thế gian thiền, một của xuất thế gọi là Xuất thế gian thiền...!!!
Đặc điểm của hai xu hướng này là:
- Thế gian thiền: Là loại thiền được coi như phương pháp giúp tâm thức người tu hành tĩnh lặng trong một thời gian nhất định bằng một sở pháp nào đó...!!!
Loại thiền này có được là nhờ quá trình dùng sở pháp để công phu, kèm với sử dụng ý chí để chế ngự loạn động của tâm thức...!!! Đặc điểm của Thế gian thiền là, việc tĩnh lặng của tâm thức luôn bị giới hạn bởi ngưỡng nhất định của ý chí...Khi ngưng công phu, ý chí cạn kiệt, những thiền thú đã đạt được cũng dần bị phai nhạt, tâm thức loạn động trở lại...!!!
Vì thế, cảnh giới cao nhất của thiền này chỉ là "Phi tưởng, phi phi tưởng xứ định" tức, còn công phu, tâm ý được kiểm soát, thức tưởng tạm dừng...Ý chí cạn kiệt, công phu ngưng, thức tưởng lại trỗi dậy...Cho nên, thiền này không đưa đến giác ngộ hoặc giải thoát hoàn toàn, bỡi lẽ nó được hình thành bởi "pháp tạo tác" (hữu vi pháp, cột trói)...Do đó, tâm ý thức đi vào ngõ cụt, không được khai phóng thông qua việc học tập để thay đổi nhận thức và thấu triệt bản chất...!!!
- Xuất thế gian thiền: Là loại thiền định do quá trình giác ngộ, tâm thức tự dừng lặng mà hình thành...!!!
Thiền này đối với đạo giác ngộ, không coi như một công cụ hay phương tiện giúp tâm thức tĩnh lặng...Mà, nó là hệ quả được sản sinh từ một tâm thức đã được khai phóng bởi sức mạnh của giáo pháp gọi là "giác lực"...Chính giác lực cho ra "định lực" và "huệ lực"...Vì thế, các thiền thú cũng lần lượt đạt được theo chiều sâu của hai lực đã nêu (định và huệ lực)...!!!
Đặc điểm của Xuất thế gian thiền là, thường hằng, không cần dụng công, tâm ý thức hoàn toàn giải thoát nên không phải chế ngự trước cảnh duyên...Vì thế, các Tam muội lần lượt xuất hiện từ tâm thức đã được khai phóng, người xưa gọi là "Tam muội lạc chánh thọ"...Và, các thiền thú tự chứng trong hành trình giác ngộ chính là dấu hiệu của giải thoát hiện tiền...!!!
- Những gì bạn đọc Dương Việt Dũng hỏi chỉ xảy ra ở Thế gian thiền, tức các loại thiền của những hành giả dụng công tu tập (không hoặc chưa giác ngộ)...Vì rằng, Xuất thế gian thiền (thiền của bậc giác ngộ) không tồn tại những chướng ngại mà bạn đã nêu, bởi trong đạo giác ngộ, các chướng ngại ấy đã được giải quyết trước khi giác lực hình thành...!!!
Sau đây, xin trả lời các thắc mắc của Dương Việt Dũng:
- Hỏi
1. "Trong chương có trích lời Phật: “Sơ thiền phải gồm đủ hai điều: Một là xa lìa, hai là cụ túc” - thầy có thể giải nghĩa cụ thể hơn về “cụ túc” ở đây là gì ạ?"
- Trả lời:
Để có được thiền định, người tu thiền phải hội đủ hai điều sau:
a) Xa lìa (yểm li): Phải xa lìa ngũ dục...Ngũ dục là, khi mắt đối sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm các vị, thân đối với các xúc chạm không khởi lên ham muốn, mê mờ...!!! Chú ý, ngũ dục của Phật đạo không phải ngũ dục của đạo giáo là tài, sắc, danh, thực, thuỳ...Đây là hiểu lầm phổ biến của người tu hành trong Phật đạo mà lại y cứ vào lí thuyết của đạo giáo...!!!
b) Cụ túc (đầy đủ): Trong quá trình công phu, sau khi dừng ngũ dục, thân, tâm, ý phải hiện lên đầy đủ năm món (hay năm thiền chi) là: Tầm, tứ, hỉ, lạc, định...!!! Khi các thiền chi khởi lên đầy đủ, sung mãn, các chi thô trọng sẽ tự tịch diệt theo "nguyên lí bão hoà" lúc ấy tâm ý thức tiến vào các thiền thú cao hơn...!!!
- Hỏi:
2. "Về nghi: Thầy viết “nghi có thể là chướng ngại nặng”. Trong khi đó, tư duy chất vấn, phản biện đôi khi giúp ta tỉnh táo, sáng lẽ và không cuồng tín. Vậy sự khác nhau giữa “nghi” trong ngũ triền cái và cái “nghi” trong tư duy phản biện là gì ạ?"
- Trả lời:
a) Nghi và tư duy phản biện là hai hoạt động khác nhau của tâm, trí...!!! Nghi là phản ứng của tâm (mê)...!!! Phản biện, chất vấn là hành động khi trí (chưa sáng tỏ)...!!! Vì thế, nghi thuộc về triền cái...Còn chất vấn, phản biện không thuộc triền cái...Vì rằng, chưa sáng tỏ không đồng nghĩa với hành vi nghi ngờ xuất phát từ tâm mê...!!!
b) Nghi có ba thứ: Nghi mình, nghi người, nghi pháp...!!! Nghi mình: Nghi bản thân không thể giác ngộ hay được thiền...!!! Nghi người: Nghi người dạy không thể giúp ta giác ngộ...!!! Nghi pháp: Nghi rằng, pháp ta đang học tập hoặc công phu không thể đưa đến cứu cánh...!!!
- Hỏi:
3. "Chương nói “ngũ triền cái xuất hiện khi bắt đầu trú tâm” - xin thầy mô tả cơ chế sinh khởi: Tại sao chính lúc tâm bắt đầu tĩnh lặng thì vô minh lại “xuất chiêu” mạnh mẽ ạ?"
- Trả lời:
Người đời chưa giác ngộ, tâm thức thông qua các căn ăn năm món dục (ngũ dục) và uống sáu thứ rượu trần cảnh (lục trần) để thoả mãn dục tình, như kẻ nghiện được cung cấp đầy đủ rượu thịt và chất gây nghiện...!!! Khi người ấy ý thức nghiện ngập có hại, họ dừng ăn nhậu, hút chích cho nên dục tình không được thoả mãn...do không thoả mãn, lập tức cơn nghiện xuất hiện, quậy phá lung tung...!!!
Người đời không giác ngộ, tâm thức giong ruổi theo tiền trần dụ cho anh nghiện...Tu tập, trú tâm, chế ngự các dục, dụ cho thức tĩnh...Triền cái xuất hiện khi trú tâm dụ cho cơn nghiện nổi lên...Tâm thức không thể tĩnh lặng để vào thiền dụ cho cơn nghiện quậy phá...!!!
Qua những minh hoạ trên, Việt Dũng và bạn đọc có thể suy ra cơ chế sinh khởi của vô minh mà đại diện là ngũ triền cái vì sao lại hiện lên trong lúc trú tâm...!!!
- Hỏi:
4. "Trong chương thầy liên hệ ngũ triền cái với bốn đế và 37 phẩm - thầy có thể giải thích rõ giúp con mối liên hệ có hệ thống giữa “vượt triền cái” và tiến trình tu tập 37 phẩm trợ đạo ạ?"
- Trả lời:
Trong quá trình học tập giáo pháp, bốn đế như bốn cấp lớp, ba mươi bảy phẩm như ba mươi bảy môn học, ngũ triền cái như sức hấp dẫn của phòng game đối với học trò nghiện game...!!! Anh nào cứ cắp sách đến trường mà đi thẳng đến phòng game thì, sự học khó thành...!!! Để học hành thành công, phải dứt khoát cai nghiện...Không nhớ nghĩ, tham gia, đốt thời gian bằng trò chơi vô bổ ấy...!!!
- Hỏi:
5. "Về việc "Hướng tâm mãnh liệt" trong đời sống: Thầy nhấn mạnh việc hướng tâm đến cứu cánh mãnh liệt để đẩy lùi vô minh. Với những học trò của Thầy, làm sao để các bạn ấy giữ được sự "mãnh liệt" này mà không bị biến thành áp lực căng thẳng hay sự mong cầu quá mức (một dạng của trạo cử)?"
- Trả lời:
Muốn hướng tâm mãnh liệt đến cứu cánh, người tu hành phải học tập giáo pháp để chuyển tín tâm thành tín căn...!!!
Muốn chuyển tín tâm thành tín căn, phải học tập đúng chánh pháp...Nhờ học tập đúng chánh pháp, giác tâm chuyển thành giác lực...Khi có giác lực, định và huệ lực sẽ xuất hiện...Định và huệ lực xuất hiện, tâm thức hành giả nếm được ý vị thanh lương đầu tiên của đạo pháp...Nếm được ý vị thanh lương của đạo pháp, tín căn sẽ mọc...!!!
Giống như người bệnh nan y tin vào thầy thuốc (tín tâm)...Sau thời gian ngắn thăm khám, điều trị dấu hiệu bệnh tình thuyên giảm, niềm tin vào thầy và thuốc của bệnh nhân không bị lay chuyển (tín căn)...Nhờ niềm tin này, bệnh nhân siêng năng uống thuốc, bệnh giảm, tâm an và biết chắc mình sẽ hết bệnh (hướng tâm đến cứu cánh)...!!!
Tuy nhiên, bệnh thuyên giảm nhưng chưa hết hẳn...Bệnh nhân sợ thầy thuốc trúng gió mắc dịch chết bất đắc kì tử...Vì thế, họ thắp hương, khấn vái, uống thuốc gấp ba bốn lần chỉ định (tinh tấn lực)...vv...cầu cho thầy thuốc sống dai như đỉa để mình còn có ngày hết bịnh, từ đây tín căn thành tín lực (hướng tâm bình thường trở nên mãnh liệt)...!!!
Thế đấy !!! Cái cớ sự hướng tâm mãnh liệt đến cứu cánh của người tu hành đúng chánh pháp cũng như tất cả HĐ Lý Gia là như thế !!! Là như thế !!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi có thể giúp Dương Việt Dũng và bạn đọc giải toả những thắc mắc đã nêu...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
02/03/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


