Lý Hiền Long Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 86.2026 với chủ đề: Lý Hiền Long Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Các bạn !!!
Lý Hiền Long (MĐ 0863) là HĐ tham gia buổi toạ đàm hôm 12/04 tại Hà Nội...Hiện nay, bạn ấy đang sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh...!!!
Sau đây là trả lời của Sư Muội Lý Hiền Long:
"Con thưa Thầy, con là Lý Hiền Long, là học trò số 863 của Thầy, là thành viên tham gia buổi tọa đàm nhân sự kiện ra mắt sách của Thầy vào ngày 12/4/2026 ở Hà Nội vừa qua. Được sự cho phép của Thầy, con xin trả lời các câu hỏi của hành giả Pháp Quang, gởi về chuyên mục Bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời, kỳ 80 năm 2026.
Kính thưa bác Pháp Quang !!!
Trước tiên, con xin được bày tỏ sự kính ngưỡng trước tâm huyết của bác đối với kinh điển Phật pháp, nhất là khi đọc thấy bác đã dành nhiều năm nghiên cứu giáo nghĩa Đại Thừa, và hiện tại vẫn chưa dừng lại việc đào sâu ý nghĩa của từng lời kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. Điều này khiến con cực kỳ xúc động, vì con cũng đã dành nhiều thời gian đào sâu bài kinh này. Và, hầu như lần nào đọc lại bài kinh này cũng xúc động. Kinh viết: “Bồ Tát Ma Ha Tát muốn chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải nên tu học kinh Đại thừa rất cao siêu sâu xa nầy.” !!!
Con cũng cảm ơn bác đã cẩn thận gởi bản kinh dịch bởi Tỳ kheo Thích Tuệ Hải, trong nhiều bản dịch tiếng Việt hiện có. Sự cẩn thận này giúp người hỏi, người trả lời, người đọc, có cùng một bản tham khảo thống nhất, giúp giảm thiểu thời gian đối chiếu qua lại. Một điều trùng hợp hữu duyên, bản dịch này Thầy Lý Tứ đã có kết tập trong cuốn 11 bài kinh Phật, làm tài liệu để HĐTM Lý Gia học tập, theo trình tự từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ phàm phu vô văn đến viên mãn Đạo đế, gồm các phần Giáo Tông, Tâm Tông, Nhất Thiết Trí Môn, Pháp Vân Môn.
Nếu bác đọc cuốn 11 bài kinh Phật của Thầy Lý Tứ kết tập và chú giải, thì trong phần giới thiệu, bác sẽ bắt gặp Thầy Lý Tứ viết điều này: “Riêng, kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa thuộc Pháp Vân Môn, có nhiều HĐ yêu cầu mình chú thích... Nhưng xét cho cùng, cái khó của người tu hành là, làm thế nào "để biến thành Rồng", mà kinh Kim Cang và Thắng Man đã đảm đương tốt công việc này rồi. Một khi "đã thành Rồng" thì, chuyện biết nổi mây, làm mưa là chuyện tự nhiên của loài Rồng như người ta mặc áo ăn cơm, không nhất thiết phải hướng dẫn... Hoặc ngược lại, loài không phải là Rồng, cho dù có dạy cách nổi mây làm mưa, mãn kiếp cũng chỉ là việc làm của kẻ...dư...hơi!”.
Dù vậy, vì bác đã mở lời, và Thầy cũng đã cho phép, nên con cũng xin vụng về mô tả cách nổi mây và cách làm mưa, theo những cảm nhận ở trình độ tri kiến hiện tại của con. Và, trong Lý Gia, Thầy Lý Tứ cũng thường dạy học trò: “Khi trích kinh, hay trích dẫn một câu nói, phải nêu rõ đoạn nào, nằm ở đâu, Phật thuyết cho đối tượng nào, ...có như vậy, ta mới có thể thầm hội được ý nghĩa lời kinh” !!!
Câu hỏi 1:
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Lời Phật dạy “hết thảy các pháp.... không có hai pháp”, không phải là một mệnh đề triết học để lý luận, mà là một sự thật cần được quán sát thấu suốt.
Vì sao các pháp rỗng lặng? Vì mọi pháp đều sinh khởi từ sự duyên hợp giữa Ý căn và Nhận thức, tri thức, hiểu biết. Chẳng hạn khi mắt thấy cảnh sắc, cộng thêm thức phân biệt, mới cho ra các pháp là những quan điểm/quan niệm đối với các cảnh sắc. Dừng/dứt thức phân biệt thì pháp không sanh khởi, tự rỗng lặng. Các pháp chỉ là những dòng suy nghĩ nên tự nó không có các tánh chất đẹp/xấu, đúng/sai, tự nó không có các hình tướng lớn/nhỏ, tự nó không dịch chuyển trụ/động, tiến/lui, gọi là không có hai pháp.
Vì tánh các pháp rỗng lặng, như hư không, từ nơi hư không có thể sản sinh sum la vạn tượng, thì cũng như vậy, từ nơi không pháp có thể sản sinh muôn pháp.
Bồ Tát không chỉ quán sát đến đây, mà còn quán sát tiếp ở các đoạn tiếp theo mà Kinh mô tả rất cụ thể (mà bác đã vô tình cắt đi làm mất một phần ý nghĩa), như “vì tánh ham muốn (của chúng sanh) vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng”.
Câu hỏi 2:
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Đoạn kinh trên nên được đọc đầy đủ là “Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.”
Thật tướng chính là sự thật bản chất của các pháp không tự tướng (vô tướng) như đã trả lời ở câu 1.
Nếu nghe nói đến “vô tướng” mà tâm ngay lập tức tạo ra một khái niệm "vô tướng" và bám chấp vào đó, thì lại có cái tướng của vô tướng. Nên Phật dạy “vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng”.
Câu hỏi 3:
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời:
Đọc đến đây, bỗng nhiên con hơi cảm thán !!! Nếu bác đọc trọn vẹn, đừng ngắt/cắt các đoạn kinh thành các câu hỏi rời rạc thế này, thì chắc bác sẽ có thể tự mình trả lời câu hỏi này.
a. “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là sự thật về bản chất của các pháp.
b. Bồ tát quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là quán sát các pháp của chúng sanh sinh khởi liên tục không dừng. Ba đoạn kinh sau chỉ rõ ý này: Từ đoạn “Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng… cho đến đoạn “…chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, …” và “…thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt.”
Hai cái thấy này không trái ngược, mà là cái thấy bản chất và hiện tượng. Cũng như lòng biển, vốn lặng yên, nhưng trên mặt biển có nhiều con sóng xô đẩy nhau không dừng, nếu gió liên tục thổi lên.
Lòng biển lặng yên, là thí dụ cho các pháp vốn rỗng lặng, không sanh diệt. Các con sóng xô đẩy nhau không dừng, khi có gió liên tục thổi, dụ cho Tâm hư vọng và Pháp hư vọng “niệm niệm luôn luôn sanh diệt", không ngừng sinh khởi khi gió trần cảnh thổi.
Câu hỏi 4:
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
Câu này ý muốn nói “vô tướng” là trạng thái nhận thức thấu suốt bản chất của vạn pháp, của thân tâm và thế giới và không bị kẹt mắc bởi bất kỳ tướng nào, cho nên nó có khả năng ứng hiện tất cả pháp tùy theo đối tượng thính pháp. Ví như mặt gương: vì gương không có hình tướng riêng, nên nó có thể phản chiếu vô lượng hình ảnh.
Câu hỏi 5:
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
Bản chất của sự sai khác không nằm ở văn tự, mà nằm ở căn cơ và trí tuệ của người tiếp nhận.
Câu hỏi 6:
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
Câu hỏi này kinh đã giải đáp ngay từ đầu Phẩm Thuyết Pháp khi mô tả các Bồ tát có mặt trong hội: dù chưa đạt đến cảnh giới rốt ráo, các vị ấy vẫn “giữ chí bất động, hàng trăm nghìn muôn ức kiếp bao nhiêu pháp môn đều hiện rõ ở trước. Được trí huệ lớn, thông suốt các pháp, phân biệt rõ ràng, tánh, tướng chơn thực, không có vắn dài, tỏ rõ phân minh. Lại hay biết mọi căn tánh khéo léo, dùng môn tổng trì vô ngại biện tài của chư Phật chuyển xe diệu pháp mà tùy thuận những người năng chuyển.”
Bồ tát sơ phát tâm tiếp cận giáo pháp thông qua ba pháp Văn-Tư -Tu: nghe/đọc kinh, tư duy nghĩa lý của kinh, áp dụng và đối chiếu với thực tế tâm mình. Sự tự tin đến từ sự trung thành với chánh pháp, kinh văn và chí nguyện độ tha không nhàm mỏi.
Câu hỏi 7:
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
“Nhà chư Phật” dụ cho Tâm Đại Bi, là tâm từ bi rộng lớn của chư Phật muốn độ thoát hết thảy chúng sanh.
“Đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề” dụ cho các bồ tát muốn viên mãn tự độ và độ tha.
“Trụ ở Bồ Tát sở trụ” dụ cho người gìn giữ giáo pháp”
Câu hỏi 8:
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
Thuyền trưởng tuy thân mắc bệnh nặng, nhưng có mong muốn mãnh liệt muốn giúp người, lại còn có trong tay phương tiện cao cấp để hỗ trợ đưa người sang sông, liệu vị thuyền trưởng này có giúp người được chăng?
Câu hỏi 9:
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
“Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” là nói khả năng thành Phật bình đẳng với mọi chúng sanh, chứ không nói chúng sanh và chư Bồ Tát có trí tuệ bình đẳng.
Đoạn kinh ngay phía trên viết: “Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Tuy chưa độ mình mà có thể độ cho người khác, và cùng các Bồ Tát để làm thân thuộc.”
Thái tử dù còn thơ ấu đã là người kế vị, không phải vì tài giỏi hơn người khác, mà vì thái tử đã bước vào dòng của những người sẽ trị vì. Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, là đã trở thành cùng dòng họ, thân thuộc với các Đại Bồ Tát, có thể truyền thừa giáo pháp.
Câu hỏi 10:
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: 'Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
Cũng như câu “Mê nghe kinh trọn kiếp, ngộ chỉ một sát na”
Câu hỏi 11:
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
Hình ảnh thái tử nhỏ được vua ủy thác trị nước đã nói rõ: “Thái tử khi ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các quần thần, bá quan văn võ, đem chánh hóa đi truyền dạy cho nhân dân khắp nước, đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác.”
Câu hỏi 12:
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
Câu trả lời nằm trong cùng đoạn này, ngay phía trên, kinh đã nói rõ điều kiện và địa vị thành tựu: “Nếu người thiện nam, thiện nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, được nghe kinh nầy mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn.Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.”
Câu hỏi 13:
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
Gốc của nghiệp là vô minh. Khi tâm thanh tịnh thì dừng hiện nghiệp, dứt nhuận chi vô minh và căn bản vô minh. Khi trí tuệ phát sinh thì dừng dứt toàn bộ gốc rễ vô minh, vô minh trụ địa không còn chỗ trú thì thanh tịnh được mọi nghiệp quá khứ, vị lai.
Câu hỏi 14:
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
Đây là sự vi diệu của giáo pháp. Có khả năng biến một phàm phu, lần lượt vượt qua các địa, và trở thành một vị Phật ở vị lai.
Câu hỏi 15:
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa xiển dương một sự thật mà Thầy Lý Tứ thường dạy học trò: Phật đạo là đạo giác ngộ. Ranh giới giữa phàm và thánh nằm ở tâm mê hay ngộ, dù mang thân phàm phu, nhưng giác ngộ thì tâm thức có thể trở thành một bậc thánh, và có thể thành tựu những điều cần thành tựu ngay trong hiện đời này.
Cảm ơn bác Pháp Quang. Chúc bác Pháp Quang thật nhiều sức khỏe !!!
Kính Thầy
Con, Lý Hiền Long - MĐ 0863" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
06/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


