Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 87.2026 với chủ đề: Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Các bạn !!!
Sư Huynh Lý Thái Đăng (TN 0147) là một trong những "cây đại thụ của Lý Gia Tây Nguyên"...!!! Hiện SH đã nghỉ hưu và sinh sống tại Đak Lak...!!!
Sau đây là trả lời của SH ấy:
"Kính thưa bác Pháp Quang !
Nhận được 15 câu hỏi của bác đặt ra thông qua chuyên mục “Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời”, nhưng mong muốn “Quan kỳ đệ tử, tri kỳ sư” (Nhìn vào cách chơi cờ của học trò, chắc chắn biết được cảnh giới cờ của người thầy cao hay thấp). Nhờ vậy mà bản thân tôi cùng các huynh đệ có dịp thực hành ba môn học đang được Thầy Lý Tứ triển khai, đó là “Thấu thị môn – Thẩm sát môn và Đẳng ngữ môn”, quả thật yêu cầu của bác là một duyên lành, một món quà vô cùng ý nghĩa đối với học trò Lý gia trong thời điểm hiện nay.
Trước hết xin giới thiệu với bác: Tôi là Lý Thái Đăng – U70, nay đang nghỉ hưu tại Dak Lak.
Sau đây tôi xin lần lượt trả lời các câu hỏi đề ra:
1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp?
Chữ Pháp theo ý nghĩa của Phật dạy, được Thầy Lý Tứ giảng giải là những quan điểm quan niệm do ai đó đặt ra... Pháp là sản phẩm của nghĩ suy, do vậy khi nghĩ suy về ngọn lửa thì thông tin về nghĩ suy không có tánh nóng (gọi là không tự tánh; không có hình tướng (gọi là không tự tướng) không là chính nó (không tự ngã).
Phật dạy: “Nhất thiết Phật ngữ tâm”; “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. Khi giác ngộ Lục Tổ giác ngộ đã thốt lên:
1. Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh
2. Nào dè tự tánh vốn không sinh không diệt
3. Nào dè tự tánh vốn tự đầy đủ
4. Nào dè tự tánh vốn không dao động
5. Nào dè tự tánh liễu tri muôn pháp
Khi vị giác ngộ, thực chứng cảnh giới, thì nhận ra rằng: Tánh của pháp bản lai rỗng lặng, trong lòng không có hai pháp.
b) Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa?
Trong kinh ghi rõ “Có một Pháp môn hay làm cho Bồ Tát Ma Ha Tát chóng được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Pháp môn đó tên là Vô Lượng Nghĩa.
Điều kiện để "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp."
Giống như người mang cặp kính màu nay bỏ cặp kính xuống thì không bị các màu sắc của cặp kính che chướng, ngăn ngại.
Như người bị bệnh nhặm mắt thấy quầng đèn, hoa đốm, khi được chữa lành con mắt, chẳng còn ảo giác về hoa đốm quầng đèn, nên cái nhìn rổng rang thanh tịnh.
Người có cái nhìn rỗng rang thanh tịnh gọi là người sáng mắt, giác ngộ diệt đế, người này đủ tư cách đi học hội hoạ… Như vị Bồ Tát trong lòng rỗng rang thanh tịnh, không còn đối đãi hai pháp, chấm dứt giác quán, giác ngộ diệt đế, tánh giác hiện ra, người học lấy tánh giác làm phương tiện, trực nhận vấn đề, để học tập Đạo Đế, lúc đó mới gọi là đủ tư cách cắp sách tới trường, cầu bậc Vô Tu Vô Chứng chỉ bày pháp môn Vô Lượng Nghĩa.
2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời: Đoạn kinh trên trích trong phẩm Thuyết Pháp: “Bồ tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc bốn tướng như thế, đều biết cả rồi. Lại quán sát nơi Sanh, Trụ, Dị Diệt. Quán như thế rồi mà vào căn tánh ham muốn của chúng sanh, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là “vô tướng” vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là thật tướng vậy”.
Giải thích: Vì chúng sanh khổ nên Phật ra đời, chúng sanh nhiều bệnh nên Phật có nhiều thuốc, bệnh nào thuốc nấy, điều trị hết bệnh hết thuốc, gọi là “Vô tướng”. Không còn bệnh, không còn thuốc tức là thật tướng.
3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời: Trước hết về ý nghĩa đoạn trích "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế...” nói lên quy luật “Sanh, Trụ, Dị, Diệt” của các Pháp. Quan điểm quan niệm được “Sanh” ra, tồn tại hay “Trụ” một thời gian, thay đổi, biến đổi “Dị” theo năm tháng và cuối cùng chấm dứt “Diệt”một pháp hay quan điểm quan niệm.
Còn câu, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là chơn thiệt ngữ, là Niết Bàn an vui có sẵn trong mỗi hữu tình. Kinh Bát Nhã có ghi rõ cảnh giới “Vô Khổ Tập Diệt Đạo, Vô Trí Diệc Vô Đắc”. Nhưng hữu tình do “Lấy thức làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta” nên “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” che chướng Niết Bàn.
Người học nhận ra: “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” được gọi là giác, thấu tỏ “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là tâm chúng sanh, do vậy tinh tấn học tập lấy “Vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, trụ nơi vô trụ” làm kim chỉ nam, khi hoát nhiên nhập được cảnh giới “Vô niệm tức niệm nam mô, vô tâm đích thực qua bờ bên kia”(Trích - Nhạn Quá Trường Không - Lý Tứ) gọi là ngộ.
4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời: Trong Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh:
"Thật vô hữu pháp, Như Lai đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề." (Thật không có một pháp nào để Như Lai chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.)
Trong tác phẩm “Phật Giáo và Thiền” Thầy Lý Tứ giảng giải:
“Nói cho cùng, chỉ vì giải quyết vấn nạn ‘thân thọ tâp pháp’ cho ba thừa mà Phật bày ra các món phương tiện;
Y nơi phương tiện đặt tên, nhân nơi tên mà lý giải;
Lý giải có đầu đuôi khúc chiết gọi là giáo lý;
Thông lý gọi giác;
Giác viên gọi ngộ;
Liễu ngộ gọi thông;
Tông thông gọi chứng;
Nơi chứng thấy trống không;
Trống không thành đạo;
Nơi đạo vô ngôn;
Vô ngôn vô tướng;
Vô tướng thấy thiệt;
Thấy thiệt biết vô; nên Phật dạy:
“Thiệt tướng là vô tướng”.
5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời: Văn tự là công cụ, phương tiện giống như một con dao, công cụ (con dao, văn tự…) không có tánh cứu người hay giết người, không có tánh vui hay buồn, thiện hay ác. Vấn đề người cầm dao và động cơ mục đích của người sử dụng con dao khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau. Con dao trong tay bác sĩ có thể cứu người, con dao trong tay đồ tể có thể hại vật.
Trong Phật đạo Bậc giác ngộ Vô Tu Tô Chứng thiện xảo phương tiện thì “Tất cả pháp đều là Phật pháp”. Đối với phàm phu, lấy Kinh Bát Nhã ra mà đọc tụng, giảng giải thì kết quả cũng cho ra nghĩa thế gian. Giống như người không sáng mắt, dù có chỉ bày tỉ mỉ các loại màu sắc xanh đỏ tím vàng… thì người này cũng chỉ cảm nhận được màu đen.
6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời: Nền giáo dục của Phật đạo không ngoài Tứ Đế và 37 phẩm – Tứ đế (khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế) như bốn cấp học; 37 phẩm (tứ niệm xứ; tứ chánh cần, tứ như ý túc; ngũ căn; ngũ lực; thất giác chi; bát chánh đạo) như ba mươi bảy môn học.
Bồ tát sơ phát tâm là phát đại nguyện trên con đường học tập của Bồ Tát, bao gồm: Phát tâm; Phục tâm; Minh tâm; Xuất đáo bồ đề; Vô thượng Bồ Đề.
Vậy: “Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?”
Như người bệnh cần tìm thuốc uống: Ban đầu được giới thiệu thầy thuốc, dám lấy thuốc và uống gọi là tín tâm; tiếp theo thấy bệnh thuyên giảm, lòng tin tăng lên mãnh liệt như cây con mọc rễ gọi là tín căn, người này một lòng một dạ tin tưởng thầy thuốc siêng năng điều trị cho hết bệnh gọi là tín lực…
Ngược lại: Uống 3 thang…7 thang, thậm chí uống năm này đến năm khác, uống từ lúc còn trẻ cho đến râu tóc bạc phơ, mà bệnh vẫn y nguyên thì người có trí cần coi lại.
Trong kinh Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikāya), nội dung đại ý:
"Ở khu rừng nào mà các vị Tỳ-kheo có thể nghe được Chánh pháp, học được Chánh pháp, tu tập được Chánh pháp, thì dù bị xua đuổi cũng không nên bỏ đi.
Ở khu rừng nào mà các vị Tỳ-kheo không được nghe Chánh pháp, không được học Chánh pháp, không được tu tập Chánh pháp, thì dù được cung kính, được mời ở lại cũng không nên ở."
7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời: Phật dạy: Tam Bảo Thường Trụ gồm có Phật Bảo; Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân, Hoá thân.
Pháp thân, còn gọi là Trí tuệ ví như kim cương, như vàng ròng;
Báo thân (nhục thân) như bao bì, túi gấm chứa đựng vàng bạc đá quý; Hoá thân (ứng thân) là sản phẩm được chế tác (hoá hiện, ứng hiện, thị hiện) cho người sử dụng hài lòng mong muốn như vương miện, hoa tai, dây chuyền…
Pháp Bảo là Kinh Phật; Tăng bảo là Vị chứa Phật Bảo và Pháp Bảo; Tông thông và Thuyết thông hay còn gọi là Đệ nhất Nghĩa Tăng.
Phật là người Thầy gốc (Bổn Sư); Bồ tát như đội ngũ giáo viên giảng giải và truyền tải nghĩa lý trong sách giáo khoa (Kinh Phật) đến với người học. Giúp người học trường “Phật Học Hiệu”, thành tựu mục tiêu giác ngộ, giải thoát và trí tuệ bát nhã.
Ngôi nhà Phật; Quốc độ Phật; Đại gia đình Vô Lậu… là các tên gọi của cảnh giới Như Lai… Có thể nhận biết thông qua tám tính chất “Thường Ngã Lạc Tịnh Từ Bi Hỉ Xả”.
8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời: Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba ghi rõ trong hai đoạn:
- Đoạn thứ 1: “Năng lực thứ ba bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu, thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa rồi. Tuy có phiền não cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt…
- Đoạn thứ 2: “Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử”.
Giải thích:
Đoạn 1: Nếu có ai đó được nghe kinh nầy, đọc được ít hay nhiều về văn tự không quan trọng dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu mà người đó “thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa”… thì cho ra kết quả: Tuy có phiền não cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt…
"Thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa" (通達百千萬億義) có thể phân tích như sau:
• Thông: thông suốt, không bị ngăn ngại.
• Đạt: đạt đến, hiểu thấu.
• Trăm nghìn muôn ức: con số rất lớn, tượng trưng cho vô số.
• Nghĩa: ý nghĩa, đạo lý, chân lý được hàm chứa trong giáo pháp.
Vì vậy:
"Thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa" là hiểu thấu suốt vô số ý nghĩa và đạo lý được hàm chứa trong một pháp, một câu kinh hay một lời dạy của Phật.
Giải thích Đoạn 2: Bồ Tát có thệ nguyện “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Muốn độ chúng sanh phải dấn thân vào ba cõi. Thân Bồ Tát sống trong ba cõi cũng thị hiện quy luật bệnh tật “Tứ đại không điều hoà”, "Vô minh già chết"…nhưng nhờ "Thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa" và có kinh Đại thừa bền chắc nầy mà trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh như có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia.
“Trang biện Vô Lượng Nghĩa” có thể hiểu là:
Dùng vô số công đức, hạnh nguyện, trí tuệ và phương tiện để làm hiển lộ, làm trang nghiêm, làm sáng tỏ giáo pháp Vô Lượng Nghĩa.
“Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử”.
9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời: Phẩm Mười Công Đức, năng lực thứ tư tán thán công đức của các vị Bồ Tát phát tâm !
Bồ Tát học tập theo con đường Phát tâm; Phục tâm; Minh tâm; Xuất đáo Bồ Đề; Vô Thượng Bồ Đề. Giai đoạn Phát tâm như em bé mới sanh, nhưng đã có năng lực cao quý ví như thái tử “dù mới được sinh ra một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày; dù là một năm, hai năm cho đến bảy năm. Tuy còn thơ ấu chăng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính và cùng các con vua khác kết làm bằng hữu…”
Vị Bồ Tát có năng lực cao quý: Bởi được hoà quyện của hai thứ thông nuôi dưỡng Bồ Tát ngay từ khi mới phát đại nguyện. Chư Phật hay Tông thông là Quốc Vương; Kinh này hay Thuyết thông là Phu Nhân; Bồ tát sanh ra đã có Quốc Vương và Phu Nhân nuôi dưỡng bằng hai thứ thông, do vậy phẩm chất cao quý của Bồ Tát phát tâm có thể ví như thái tử mới sinh ra trong hoàng tộc.
Bàn về bình đẳng trong Phật đạo, khi chuyển tám thức (Tiền ngũ Thức; Ý thức; Mạt na Thức; A lại da Thức” thành Bốn trí (Thành sở tác trí; Diệu quan sát trí; Bình đẳng tánh trí; Đại viên cảnh trí” thì Bình đẳng tánh trí chỉ xuất hiện khi cái tôi, cái ta hay “Thất chủng ngã mạn” được chuyển hoá thành bất nhị.
10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời: Năng lực thứ năm bất khả tư nghì công đức của kinh này là: Có người thọ trì, đọc tụng, viết chép kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu nhiệm màu này…. Thì công đức không thể nghĩ bàn.
Người đó dù bận rộn, kể cả phiền não ràng buộc, đang bị công việc phàm phu cột trói mà vẫn ưa thích Đại Đạo thêm một ngày, nếu ngày đó luân hồi sanh diệt một trăm kiếp, thì trăm kiếp cũng qua mau như một ngày, khiến cho các chúng sanh kia vui mừng tin theo.
Lợi ích của “Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa” là bất khả tư nghì, do vậy không dùng pháp tu “đoạn trừ tam tế” để luận bàn ở đây.
11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
Trích đoạn: (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu) "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước. Thái tử khi ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các quần thần, bá quan văn võ, đem chánh hoá đi truyền dạy cho nhân dân khắp nước, đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác."
Người thiện nam, thiện nữ thọ trì kinh nầy cũng lại như thế… Tuy chưa được trụ ở nơi ngôi Sơ địa bất động, nhưng y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn. Chúng sanh nghe rồi một lòng tu hành để đoạn trừ phiền não mà đắc pháp, đắc quả cho đến đắc đạo”.
Có thể thông qua một ví dụ để thấu rõ đoạn kinh, năng lực thứ sáu:
Có một ông bố đi xa (hoặc mất), trước khi đi có để lại những lời chỉ dạy (hoặc di chúc) cho người con cả. Người con tuy chưa đủ kinh nghiệm cũng như trí tuệ chưa bằng cha, nhưng một lòng một dạ thực hành lời dạy của cha nhờ vậy mà cả nhà an định, đem lại nhiều lợi ích cho gia đình, giống như người cha đang điều hành không sai khác.
12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời: Trước hết trong đoạn kinh có ghi lại những ý quan trọng cần được nêu lên đó là: “Được nghe kinh này mà vui mừng, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước và ở ngay thân này được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát”.
Đoạn kinh nêu lên lợi ích của việc “Được nghe kinh này mà vui mừng, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não” sẽ đưa đến công đức nhiều không thể tính hết, cụ thể là: “chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước và ở ngay thân này được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát”.
13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh” là kết quả của việc “nghe kinh nầy mà vui mừng được điều chưa từng có, rồi thọ trì, đọc tụng, cúng dường, lại vì người khác giải nói phân biệt nghĩa của kinh nầy rộng ra”. Đây là năng lực không thể nghĩ bàn công đức của kinh nầy.
14.
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời: Pháp Vân Địa là Địa thứ 10 trong Thập Địa, còn có tên gọi khác là Diệu Giác Bồ Tát; Vô Sư Trí có khả năng Nổi Mây Mưa Pháp lợi lạc cho chúng sanh.
Trong Phật đạo không bàn về Tâm Linh nên không có sự thăng tiến trong lĩnh vực này. Còn có sự thọ ký hay không thì chỉ Phật mới rõ, nhưng tin tưởng vào lời Phật dạy sẽ phát sanh nhiều công đức.
Bồ Tát Pháp Vân Địa làm công hạnh: ‘Lại đem những phương pháp đã được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui rồi dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa, ân đức thấm nhuần khắp cả, lòng từ cứu giúp không bờ bến, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo. Vì vậy, người đó chẳng bao lâu được thành đạo Vô Thượng Chánh Đăng Chánh Giác”.
15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời: “Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả”.
Thánh quả hay quả vị của bậc thánh được xác định:
Đối với Thanh văn quả vị cao nhất là A La Hán;
Đối với duyên giác quả vị cao nhất là Bích Chi Phật;
Còn phần câu hỏi: “hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?” thì chưa rõ ý người hỏi, có thể đoán mò ý muốn nói “Một vị Bồ tát đã thành tựu Trí Vô Lậu nhưng thị hiện như Bậc trưởng giả mặc chiếc áo hôi nhơ để hoá độ Gã Cùng Tử” không biết có đúng không ? – Nếu đúng thì đây là công hạnh của Bồ Tát, không phải quả vị của bậc thánh.
Ngày 05/06/2026
Học trò, TN 0147 – Lý Thái Đăng" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
06/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


