Lời Tựa

“Nhặt Nhạnh” chỉ có năm mươi hai bài thơ, nhưng đó là hành trình của một người ở trong bóng tối tìm thấy ánh sáng. Khi thấy ánh sáng rồi, người ấy không tận hưởng một mình, mà phát đại nguyện: “Còn một ngày sống thừa trên trần gian, con xin nguyện cúng dường thân tâm này, dùng làm dầu thắp sáng ngọn đèn Chánh Pháp”.

Tháng 6 6, 2026 - 20:35
Tháng 6 6, 2026 - 20:48
 0  11
Lời Tựa
Nhặt Nhạnh - Tác Giả Lý Tứ

“Như mây bay ngang trời”

Có những nguồn sáng thiêu đốt và làm lóa mắt người !!!

Nhưng lại có những nguồn sáng dẫn nhân gian vượt qua đêm dài ba cõi !!!

Có những bài thơ làm cho độc giả thổn thức, quặn thắt khóc cười cùng tác giả !!!

Nhưng lại có những câu chữ khiến người bặt dứt vọng tâm, rời lìa chấp ngã, tìm về miền tịch tịnh bản nhiên sâu thẳm !!!

Với nhiều hành giả đang trên đường tìm cầu đạo pháp, đặc biệt là với các học trò, những tác phẩm của Thầy Lý Tứ, không đơn thuần là tập thơ, không chỉ là cuốn sách, không chỉ là bài thuyết. Đó thanh “bảo kiếm ngôn từ”. Mỗi khi kiếm vung lên, ngu mê lầm của người đọc người nghe rơi rụng, nhờ đó mà nhãn lực được khai mở. Những bài viết, câu thơ ấy là ngọn vô tận đăng soi đường cho những ai hữu duyên trên hành trình tiến về vô thượng giác.

Mấy năm trước, khi đọc được những câu kệ của Ông, tôi đã nổi da gà:

Khi mê, thấy có sắc không

Ngộ thời, tâm diệt sắc vong tức thì

Ngộ thời, sắc chẳng khác không

Mê thời, không ấy cũng thành sắc kia.

Ngộ thời, sắc chính là không

Mê thời, không ấy chờ mong sắc này Vượt qua bể khổ trần ai

Đến bờ giác ngộ chẳng hai trong lòng.

                                             (Kệ khai tâm – “Nhặt Nhạnh”)

Tại sao lòng tôi rung chấn? Vì trước đó, tôi đã nhiều lần tụng đọc Bát Nhã Tâm Kinh, nhưng tâm thức vẫn hoàn toàn điếc mù câm ngọng. Khi những câu kệ của Ông vừa vang lên, một cảm giác sửng sốt và hỷ lạc chạy dọc sống lưng tựa dòng điện mạnh. Chợt thấy mình giống người chết đuối vớ được cọc; giống người nông phu đang tan nát cõi lòng sau mùa bão lũ, tận thấy khu vườn đã ngã đổ của mình được dựng dậy, tươi tốt, tràn đầy sức sống.

Càng đọc các tác phẩm của tác giả Lý Tứ – từ những áng văn vút bay như Tâm pháp, những cuốn luận điệp trùng ngữ nghĩa (Vô Đối Môn, Anh Lạc Luận, Chuyện Chi Đây, Rồng Rắn Lên Mây, Chuyện Bên Lề), đến các câu chuyện đời thường mà hàm chứa bao ý vị sâu mầu của đạo pháp (Chuyện Trên Mây) – tôi càng nhớ đến khoảnh khắc rúng động của A Xà Thế, một vị vua nổi tiếng trong Phật sử.

Bị đức Phật nhiếp phục, đấng quân vương kiêu mạn và hung bạo bậc nhất ấy – người đã từng giết cha cướp ngôi, giam lỏng mẹ – đã thốt lên: “Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc” (Kinh Sa Môn Quả).

Tôi là một nhà báo đã có ba mươi năm tuổi nghề và cũng là người học Phật. Tôi đã gặp những người tìm cầu đạo pháp, ít thì năm – bảy năm, nhiều thì hơn bốn mươi năm, nhưng vì chưa thấy đường, nên tâm thức họ vẫn bị đè nặng bởi bao ma chướng, phiền não, mê mờ.

Một ngày kia, chạm được những vần thơ mãnh liệt mà sâu thẳm của Thầy Lý Tứ, những người ấy, như trút được gánh nặng ngàn cân. Nước mắt họ đã rơi không biết bao nhiêu lần trên trang sách. Giọt nước mắt của những kẻ thất lạc “quê hương” bao nhiêu kiếp, nay đã “tìm được lối về”, đã “nhớ lại nguyện xưa”:

Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hoá thành ánh sáng mặt trời.

Người Tráng Sĩ vui mừng, hết thảy tự tâm này chỉ do ngu mê và lầm lẫn.

Chân lý không đâu xa, không phải thứ ánh sáng chờ đợi cuối đường hầm.

Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường vẫn hiểu...

Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau...

                                                                                (Bài tráng ca bất tử – “Nhặt Nhạnh”)

Trước khi hoát nhiên hiểu thấu Phật đạo “như trái A ma lặc trong lòng bàn tay”, chàng thanh niên “Làng Văn An” hai mươi mốt, hai mươi hai tuổi ngày ấy cũng đã tự đặt lên vai mình một gánh nặng về đạo pháp. Chàng quảy gánh ấy đi tìm lời giải không chỉ cho mình, mà còn cho nhân thế:

Như Lai thản nhiên ngồi

Chúng sanh thêm đau khổ

Nhân loại ôi thôi rồi

Pháp không chỉ hư vô ...!!!

                      (Trách Phật – “Nhặt Nhạnh”)

Nhưng càng tìm, càng bế tắc:

Vạch mây rẽ lối tìm trời

Lên cao cũng chỉ thấy đời tối tăm

Luân hồi vướng nghiệp ngàn năm

Hỏi bao nhiêu tuổi đã...trăm...mối...sầu ???

                     (Tuyệt vọng – “Nhặt Nhạnh”)

Dù bế tắc trong tìm đường, dù đời sống cá nhân trải qua biết bao khổ ải của kiếp nghèo, của kiếp tha hương, nhưng lạ thay, Lý Tứ không hề muốn được “giải thoát” theo nghĩa tìm đường để lánh xa “bể khổ”. Chính vì vậy, sau khi đến được nơi mình cần đến trong đạo pháp, dù rất thương yêu quyến thuộc, Ông vẫn nguyện dành hết thời gian và tâm huyết cho biết bao người không phải ruột rà máu mủ. Và để hoàn thành tâm nguyện ấy, Ông lặng lẽ gửi một lời tạ lỗi, một lời hứa đến người bạn tào khang của mình:

“Kiếp này ta chẳng chăm nhau

Kiếp sau xin nguyện ngựa trâu

                                      đáp đền...!!!”

                    (Lời hứa – “Nhặt Nhạnh”)

Nhiều học trò của Ông, đã lặng đi khi nghe thầy mình tâm sự: “Lý Tứ một đời coi tất cả huynh đệ Lý Gia là khúc ruột của mình, thậm chí hơn mười mấy năm qua, bản thân mình không có một chút thời gian chăm sóc gia đình, tất cả tâm huyết đều dành hết cho Lý Gia, cho các bạn !!! Rất may, những người thân trong gia đình cũng đã hiểu ra tâm nguyện của mình, tất nhiên đôi khi cũng có vài trục trặc nhỏ, nhưng rồi mọi thứ lại êm đẹp !!!”

Có thể nói, sự hy sinh của Ông, sự thấu hiểu từ người thân, chính là những bài thơ không có trong “Nhặt Nhạnh”, nhưng lại ngân rung nhất.

Khi may mắn được tiếp cận đạo pháp đích thực từ bậc đạo sư họ Lý, tôi nghiệm ra một điều, nếu đủ nhân duyên, chúng ta sẽ gặp, ở trong cõi thi ca, những tiếng nói không thuộc về thời gian. Đó là cõi thi ca mà thế gian giới khó có thể tin hiểu. Chúng đến từ nơi nào đó sâu thẳm, để đánh thức cái bổn lai “vô nhất vật” như Lục Tổ Huệ Năng từng nói; để làm bừng sáng Phật tánh trong mỗi chúng sanh. Những vần thơ như thế không có tuổi. Chúng luôn thời sự, dù thế sự xoay vần, dù cuộc đời dâu bể.

Lý Tứ đến với thơ không như một thi sĩ, mà như một hành giả đến cõi thế để giúp đời. Ông không đi tìm câu từ, vần điệu. Ông giống như cái trống. Cái trống không có nhu cầu tự kêu, nhưng nó không bao giờ từ chối kêu khi có người đánh trống. Đánh lớn kêu lớn, đánh nhỏ kêu nhỏ, không đánh không kêu. Những vần thơ, câu văn, lời thuyết của Ông chính là tiếng trống.

Ở tuổi bảy mươi hai, sức khỏe đã xuống nhiều, da đã mồi, mắt đã mờ, tóc đã bạc gần hết, Lý Tứ vẫn làm việc với cường độ “choáng váng”. Các học trò Ông vẫn thường xuyên sửng sốt trước tốc độ ra lò những bài viết có sức công phá lớn, nhiều bài xuất hiện lúc hai – ba giờ sáng – như thể thời Ông còn trẻ khỏe.

Các buổi zoom, đến hai mươi ba giờ đêm, Ông vẫn từ bi hỏi học trò: Các bạn còn hỏi gì nữa không?

Là người nắm giữ kho tàng pháp bảo vô giá, nhưng trong con mắt học trò, Lý Tứ là một người bạn, người anh, người thầy, người cha cực kỳ bình dị. Họ kính ngưỡng nhưng không xa cách Ông. Ông nhiếp phục họ hoàn toàn nhưng ông vô cùng bình đẳng. Cái bình đẳng của một người đời – đạo không hai.

Có thể nói, lối sống ấy cũng là những “bài thơ không lời” đầy ý vị mà công chúng không thể tìm thấy trong 14 cuốn sách vô giá về Phật đạo của Ông. Lối sống và triết lý ấy, đã phần nào được thể hiện ở những câu thơ có thể khiến người cầu đạo gai người khi đọc:

Thầy hay Phật cũng danh thôi !!!

Vạn loại hữu tình “chỉ nói chơi” !!!

Cái thật ra ngoài danh và tướng...

Ai người biết được “cái kỳ khôi” !!!

           (Danh tướng – “Nhặt Nhạnh”)

Có thể nói, cả đời Lý Tứ đi tìm “cái kỳ khôi” trong đạo pháp. Ông đã từng nói những câu rất “kỳ khôi” với nhiều người chưa hiểu đạo, nhưng lại khiến học trò nghiêng mình: “Các bạn gọi Lý Tứ là “thầy” hay “mày” không quan trọng !!! Miễn là các bạn học tập nghiêm túc để giác ngộ, và sau có cơ hội giúp người giác ngộ !!!”.

Lý Tứ được học trò gọi bằng cái tên yêu thương “Lý Tam Quái”. Cái sự quái trong tư duy – không theo bất kỳ lối mòn nào – đã giúp Ông sở hữu được “công nghệ kỳ khôi” vô giá. Công nghệ ấy có thể biến tất cả những thứ phế phẩm thành vàng ròng, nhờ đó nhiều học trò ông đã reo lên khi có một cuộc đời mới như pháp: “Thầy ơi, con được sinh ra từ miệng thầy”:

Lão đi nhặt nhạnh mù sương!

Gom thành giọt nước tưới vườn trần ai!

Lão đi nhặt nhạnh lai rai!

Đồng...

Thau...

Mủ bể...

Ve chai...

Hoá vàng ...!!!

             (Nhặt Nhạnh 2 – “Nhặt Nhạnh”)

Thưa Quý độc giả !!!

“Nhặt Nhạnh” chỉ có năm mươi hai bài thơ, nhưng đó là hành trình của một người ở trong bóng tối tìm thấy ánh sáng. Khi thấy ánh sáng rồi, người ấy không tận hưởng một mình, mà phát đại nguyện: “Còn một ngày sống thừa trên trần gian, con xin nguyện cúng dường thân tâm này, dùng làm dầu thắp sáng ngọn đèn Chánh Pháp”. Và từ đó, có một ngọn hải đăng sừng sững được thắp lên trong thời mạt pháp. Nguồn sáng ấy giúp bao kẻ đắm nạn trong ba cõi, đắm nạn trong Niết Bàn hóa thành, cập được bến bờ chân thật.

Nếu Quý vị hữu duyên với tập thơ này, hãy đọc chậm, lặng lẽ suy ngẫm và cảm nhận từng con chữ nhẹ tênh, giải thoát “như mây bay ngang trời”. Rồi trong cái dư vị đó, hãy quay lại đối chiếu với tâm mình. Biết đâu, một khoảnh khắc nào đấy, Quý vị cũng sẽ hoát nhiên thấy lòng mình rỗng rang, thênh thang như mây bay không bờ bến…

                                                                Hà Nội, tháng 12 năm 2025

Nhà báo Bùi Ngọc Hải

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow