Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 90.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!
Chuyên mục vừa nhận được trả lời của Lý Hoàng Tuấn - MB 1360...Đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội...!!!
Sau đây là phần trả lời của Lý Hoàng Tuấn:
"Kính thưa hành giả Pháp Quang !!!
Con là Lý Hoàng Tuấn, học trò số 1360 của Thầy Lý Tứ !!!
Giống như hành giả, con cùng gần một ngàn học trò, độc giả, khách mời, hôm 12/04/2026 cũng may mắn được tham dự Buổi Tọa Đàm của Sự Kiện Vô Thanh Luận - Giáo Pháp Của Kỷ Nguyên Số !!!
Chúng con rất vui mừng và hoan hỉ khi được hành giả gửi câu hỏi đến Chuyên mục !!! Được sự cho phép của Thầy, con xin được trả lời 15 câu hỏi về Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa mà hành giả đưa ra cho hàng hậu học chúng con !!!
Dưới đây là phần trả lời:
1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn quán sát hết thảy địa đại, sông ngòi, tinh tú, nhật nguyệt, hữu tình, vô tình…vv…không một pháp có được…” !!!. Vậy bản lai có một pháp nào sinh ra chăng??? Pháp vốn đã tự như và mãi vẫn tự như … như vậy !!!
b) Rỗng lặng như hư không là đặc tính sẵn có và thường hằng !!! Không lớn chẳng nhỏ, không sanh chẳng diệt, không trụ cũng chẳng động, không tiến lấy đâu mà lui !!! Có quán sát được như vậy mới xuất sinh Vô Lượng Nghĩa !!! Không kẹt mắc vào một nghĩa cố định nào thì mới là Vô Lượng !!!
2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng !!!” Còn thấy một thứ gì có tướng thì vẫn là hư vọng tướng !!! Hư vọng tướng là nhìn bằng lăng kính của nghiệp thức !!! Vô tướng là nhìn bằng trực nhận của tánh giác !!! Tánh giác là phản chiếu từ xa của Phật Tánh !!! Nhìn bằng tánh giác và tiếp đó nhìn bằng tự tánh thì mới thấy “Thật tướng” vì bởi đã được ánh sáng phát khởi từ Phật Tánh chiếu rọi !!!
b) Không chấp Hữu Tướng, chẳng trụ Vô Tướng thì mới thực là Thiệt Tướng !!!
3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời:
Kinh nói “Tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là chân lý thường hằng, là mục tiêu cần hướng đến !!! Còn Bồ tát quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là nhận diện thực tế các pháp trên cơ sở quán pháp niệm xứ của mình và của người khi chưa giác ngộ !!!
Hai cái thấy này không trái ngược nhau, chỉ đang mô tả đích đến và điểm xuất phát hay hành trình đến đích !!!
Từ thực tế để tới chân lý là cả một quá trình học tập chánh pháp tinh cần !!! Từ nhận diện hiện tượng đến thấu đạt chân lý cũng cần thời gian, đôi khi là nhiều đời nhiều kiếp !!!
4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
a) Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó !!!
b) Muốn “vô tướng” “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó, thì khi thuyết pháp hãy như cái trống !!! Trống bản thân nó không kêu, nhưng khi có người đánh, nó mới kêu !!! Đánh mạnh kêu mạnh, đánh nhiều kêu nhiều, ngừng đánh ngừng kêu !!!
5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Bản chất sự sai khác này chính là sự thay đổi thông qua các lần Chuyển Pháp Luân. Khi quay bánh xe pháp Tứ đế (Chuyển Pháp Luân lần thứ nhất), cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng !!! Diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa (Chuyển Pháp Luân lần thứ ba), cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng !!!
Lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự (rỗng lặng) tuy là một, nhưng ý nghĩa đã khác sau các lần Chuyển Pháp Luân đó !!!
6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
Cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ bề mặt văn tự, giải thích và chỉ ra tấm bản đồ Phật đã vẽ !!!
Dù chưa thực chứng, các Bồ Tát sơ phát tâm trụ kể trên hoàn toàn tự tin mình đang “tùy thuận” được Phật trí !!! Vì Bồ Tát hiểu rằng đó là tấm bản đồ kho báu mà Phật đã vẽ ra !!! Nhờ tấm bản đồ quý giá đó, chúng ta tự tin thâm nhập thực địa mà không sợ lạc đường, không sợ nhầm lối, hướng đến Vô Thượng Trí !!!
7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
a) Hoàn toàn đúng !!! Ba mệnh đề đang mô tả vòng vận hành khép kín của Ba Thân Phật !!! Cụ thể: “từ nhà chư Phật mà ra” mô tả Pháp thân, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề” mô tả Báo thân, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” mô tả Ứng thân !!!
b) “Ngôi nhà chư Phật” ở đây chính là Pháp thân, là Phật Trí !!! Tam thế chư Phật khác miệng đồng lời !!! Ba đời Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai, dù ở thời kỳ nào, dù ở phương trời nao, dùng ngôn ngữ gì, đều ở chung “ngôi nhà Pháp thân”, tức tuyên thuyết chân lý không sai khác !!!
8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
a) Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba nêu rõ: “Người trì kinh nầy…, hay gánh trọng trách của đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề; hay mang đội chúng sanh ra khỏi đường sanh tử. Tuy chưa độ được mình mà đã hay độ cho người.”
Vậy thì: Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ, với tâm Bồ Tát thương tưởng chúng sinh, trì tụng kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, cũng xuất sinh công đức, cũng có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh, dùng thuyền bè bền chắc (nghĩa kinh), sắm sang những dụng cụ cho người đi sang bờ bên kia (phương tiện).
b) “Đại bi” và “phương tiện” không hẳn vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn. Mà là, Bồ Tát chứng ngộ đến đâu, giúp chúng sinh đến đó !!! Như người học tập trong nền giáo dục phổ thông, cấp ba dạy cho cấp hai, lớp trên dạy cho lớp dưới, biết đến đâu dạy đến đó !!! Quan trọng là đừng dạy quá tri kiến và thực chứng của mình, vì sẽ thành lý thuyết suông, thành hí luận !!!
9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
a) Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư ghi rằng: “Người trì kinh nầy cũng lại như thế. Chư Phật là quốc vương, kinh nầy là phu nhân, hòa hợp cùng nhau sanh ra con là Bồ Tát.”
Vậy thì: “Thái tử sơ sinh” đã có Chư Phật là quốc vương, đã có Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa là phu nhân “sanh ra từ giáo pháp”, thì há chẳng phải ngay từ lúc “sơ sinh” đã thuộc dòng dõi (Phật tử - Pháp vương tử trụ). “Sơ sinh” ở đây là sinh ra từ giáo pháp của Phật cha, Kinh mẹ, chứ chẳng phải cách thai sinh như người phàm !!! Phẩm vị này có được và đến từ năng lực học tập chánh pháp của Chư Phật, thông qua sự thấu hiểu Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy !!!
b) Với diễn giải phần 9a) nêu trên, quan điểm hành giả đưa ra về “phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử)” hình như chưa hợp lý !!! “Thái tử sơ sinh” sinh ra từ giáo pháp của Phật Cha Kinh Mẹ !!! Và không hề mâu thuẫn với tinh thần bình đẳng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết hơn hai ngàn sáu trăm (2600) năm qua !!!
10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm ghi nguyên như sau: “Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người thọ trì, đọc tụng, viết chép kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm nầy, người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày, khiến cho các chúng sanh kia vui mừng tin theo.”
a) Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho sự chuyển hóa kiếp tâm thức của một hữu tình !!! Tâm thức của hữu tình trong một ngày vốn luôn niệm niệm sanh diệt không ngừng !!! Và nếu hữu tình không được học tập chánh pháp để giác ngộ, vẫn sẽ ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, niệm niệm sanh diệt như thế !!!
b) Do là sự chuyển hóa tâm thức, có thể dùng pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm !!! Tam tế gồm Tiền tế (Vô Minh, Hành, Thức, Danh sắc), Trung tế (Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ) và Hậu tế (Hữu, Sanh, Lão tử). Theo đó, để ngắt vòng lặp liên hồi của niệm niệm sinh diệt không ngừng, có thể dùng cách quán luân chuyển hoặc quán hoàn diệt để tịch diệt/đoạn trừ một trong mười hai duyên của Tam Tế kể trên, để dừng dứt Vô Minh !!!
11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
a) Kết hợp cả hai !!! Vì sao ??? Vì chứng lượng bản thân đến đâu, giáo hóa đến đó, không vượt khỏi tri kiến và cảnh giới chứng ngộ của mình (xem 8b) !!! Trung thành với lời Phật dạy chính là giáo hóa như pháp !!! Hai mệnh đề này không phủ định nhau mà là sự kết hợp biện chứng trong sự tương hỗ !!!
b) Công đức ấy thuộc về Phật và cũng thuộc về chính vị phàm phu ấy !!! Vì sao ??? Vì có Phật (Pháp thân) mới có Kinh (Hóa thân), có Kinh để lại thì người phàm phu ấy mới có chỗ dựa nương y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo. Phật có vô lượng công đức từ Pháp thân trí tuệ và từ Kinh điển để lại 2600 năm qua và mãi về sau !!! Phàm phu ấy tăng trưởng công đức nhờ y kinh thuyết pháp giúp người khác đắc đạo !!! Phàm phu ấy có công đức từ thanh tịnh tâm khi trì tụng kinh, có công đức từ trí tuệ qua thâm nhập kinh và có công đức nhờ giáo hóa giúp người thành tựu trên con đường Phật Đạo !!!
12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
a) “Vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với Thất Địa Bồ Tát do tu hành sanh !!!
b) “Lục độ Ba La Mật tự nhiên hiện ra” là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa khai mở !!!
13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
a) Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là Sám Hối Thiệt Tướng !!!
b) Chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh !!!
c) Sự “tiêu tan nhất thời” này (Sám Hối Thiệt Tướng) có tính chất đốn ngộ nhờ trí tuệ, nhanh hơn sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường (Sám Hối Hữu Tướng và Sám Hối Vô Tướng).
14.
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
a) “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Đây là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai theo đúng quy trình học tập của nền giáo dục Phật Đạo !!! Bởi lẽ, Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười đã chỉ rõ quy trình học tập kể trên rồi !!! Có lẽ không cần giải thích gì thêm !!!
“Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, nếu được nghe kinh nầy mà phát khởi tâm đại hoan hỷ rất hiếm có, tự mình liền thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường, theo đúng lý thuyết tu hành. Lại hay khuyên người tại gia, xuất gia thọ trì, đọc tụng, viết chép cúng dường, và giải nói rộng ra, rồi cũng theo đúng lý thuyết tu hành.
Vì đã khiến người khác nhờ năng lực của kinh nầy mà tu hành đắc đạo, là đều do nhờ sức người thiện nam, thiện nữ đó phát khởi từ tâm khuyến hóa, cho nên người thiện nam, thiện nữ ấy ngay thân nầy liền được các môn Đà la ni. Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi, rộng hay bạt khổ, huân tập nhiều căn lành, làm lợi ích cho hết thảy, mà diễn bày các pháp thanh tịnh để thấm nhuần các chốn khô khan.
Lại đem những phương pháp đã được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui, rồi dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa, ân đức thấm nhuần khắp cả, lòng từ cứu giúp không bờ bến, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo. Vì vậy, người đó chẳng bao lâu được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”
b) “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?
Có hai cách thức để cảm nhận được cảnh giới của Pháp Vân Địa:
• Nếu ở đời hậu biên thân hoặc tối hậu thân, hành giả đó hoát nhiên bùng vỡ tâm thức, trong Lý Gia gọi là “Vụ Nổ Big Bang”, giác ngộ Vô Sư Trí, thành tựu Diệu Giác Bồ Tát, có thể vào thẳng cảnh giới của Pháp Vân Địa (Địa thứ mười của Thập Địa Bồ Tát) !!!
• Nếu ở một đời nào khác, hành giả đó vẫn đang học Hữu Sư Trí, chưa bùng vỡ tâm thức, thì có thể học Đạo Đế, thành tựu Nhất Thiết Trí, đạt đến Đẳng Giác Bồ Tát, rồi đi giáo hóa chúng sanh. Ở cuối cảnh giới Thiện Huệ Địa (Địa thứ chín của Thập Địa Bồ Tát), hành giả này cũng đã “dần dần thấy được” cảnh giới của Pháp Vân Địa (Địa thứ mười của Thập Địa Bồ Tát)!!! Bởi lẽ, Thiện Huệ Địa (địa thứ chín) đã thành tựu Trí Tuệ như Phật (thấy điều Phật thấy, biết điều Phật biết, chứng điều Phật chứng) và Pháp Vân Địa (địa thứ mười) là địa bắt đầu vào quá trình Giáo Hóa nhiều đời kiếp !!!
15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Với “sức đại oai thần, không gì là tôn hơn” của kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, với việc thâm nhập và có thể đạt cảnh giới tột cao về Trí Tuệ, thánh quả ở đây không nên hiểu chỉ dừng lại ở quả vị giải thoát rốt ráo (thành tựu về tâm - Chơn Tâm) mà nên hiểu là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu (thành tựu về trí - Nhất Thiết Trí) !!!
Trên đây là phần trả lời của con !!! Con rất mong được hành giả và Thầy tiếp nhận, góp ý và bổ khuyết thêm cho con !!!
Con, Lý Hoàng Tuấn - MB1360" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
07/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


