Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 94.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!
Như vậy là, sau 48 giờ kể từ lúc gởi câu hỏi của hành giả đến HĐ Lý Gia...Chuyên mục đã nhận được 14 câu trả lời từ HĐ...!!!
Hi vọng, đọc xong 14 câu trả lời này, chắc chắn hành giả sẽ có thể giải quyết tận gốc các vấn đề mà hành giả đã trăn trở nhiều năm tháng về kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa...!!!
Chân thành cảm ơn tất cả HĐ chúng ta...!!! Mình biết, các bạn rất bận rộn vì hầu như mọi người đều còn ở trong độ tuổi lao động...phải lo toan nhiều thứ...!!! Nhưng, những nỗ lực học tập và chia sẻ giáo pháp của các bạn thật đáng ghi nhận...!!!
Chúc hành giả Pháp Quang, bạn đọc và tất cả HĐ chúng ta khoẻ, an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!
Sau đây là trả lời của Lý Ngọc Linh - MB 0721 ở Hải Phòng !!!
"Con kính chào thầy! Kính chào bác Pháp Quang!
Con là Lý Ngọc Linh, học trò thứ 721 của thầy Lý Tứ.
Con xin bày tỏ lòng biết ơn những nhận xét tốt đẹp của bác đối với huynh đệ Lý gia, và đặc biệt là các câu hỏi bác gửi đến chúng con. Đây là cơ hội để chúng con được học tập và rèn luyện trí tuệ của mình, cũng là lời nhắc nhở chúng con phải luôn nỗ lực học tập và học tập!
Nhân đây, con xin tri ân công đức giáo dạy của thầy, chúng con xin nguyện học tập tinh tấn để không phụ công lao dạy dỗ của thầy!
Sau đây là phần trả lời của con:
1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a. Các pháp bản lai rỗng lặng là sự thật về các pháp. Nhưng khi mê sẽ thấy đây kia, có không, sanh diệt, động tịnh... Giống như đèn vốn không quầng, nhưng mắt nhặm sẽ thấy đèn có quầng.
b. Vì từ nước trong, nước tinh khiết, người ta có thể làm ra vô lượng thứ, với vô lượng tác dụng, và còn có thể chế biến thành diệu dược cứu vô lượng người, chứ còn nước nhiễm ô (như nước sông Tô Lịch) thì chỉ có thể đổ bỏ mà thôi!
c. Điều kiện để Bồ Tát tu học pháp Vô lượng nghĩa là phải quán sát được bản lai các pháp tự rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt,… tự bản nguyên không có hai pháp.
2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a. Các pháp xưa nay chưa từng có tướng. Thật tướng là vô tướng, vô tướng là thật tướng, là sự thật của đạo pháp.
b. Vô tướng tức là chẳng hề có tướng, khi nào không còn thấy các tướng (hư vọng) thì sẽ thấy được vô tướng và sẽ biết được thật tướng chính là vô tướng.
3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời:
a. Thấy "tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt" là cái thấy thật tướng. Nhưng khi chưa thấy thật tướng, chỉ thấy hư vọng tướng thì sẽ thấy "niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt".
b. Bồ Tát quán sát các tướng của các pháp hư vọng luôn luôn sanh diệt, niệm niệm không ngừng như người thầy thuốc tìm hiểu biểu hiện, cơ chế, nguyên nhân gây bệnh để từ đó có thuốc phù hợp trị bệnh cho chúng sanh.
4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
a. Giáo pháp là phương tiện để cứu độ chúng sanh và phương tiện ấy xuất phát từ trí tuệ vô tướng.
b. Như mặt trời phát ra hàng ngàn tia sáng để soi sáng nhân gian nhưng đâu vì thế mà mất đi tính chất chiếu sáng của mặt trời.
5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
a. Sai khác này là bởi tâm tình, nhận thức, trí tuệ của người nghe sai khác. Giống như, sau một thời Phật thuyết pháp người nghe chứng rất nhiều các đạo quả sai biệt, đó là bởi căn cơ, trí tuệ của người nghe sai biệt.
b. Ban đầu thuyết các pháp bản lai rỗng lặng để chúng sanh không tiếp tục mê mờ, chạy theo, tham chấp các pháp (hư vọng) mà sinh ra khổ đau, phiền não. Thành tựu vô lậu tâm, hoàn thành Khổ đế, Tập đế.
Sau nói các pháp bản lai rỗng lặng để người nghe nhận ra bản chất các pháp tự chẳng hề cột trói, chẳng là nguyên nhân của khổ đau, phiền não, người nghe nhờ đó mà tự tại trước muôn cảnh duyên, thấy rõ bản tâm vốn tự vắng lặng, các pháp vốn tự giải thoát. Thành tựu nhân không, pháp không, hoàn thành Diệt đế.
Cuối cùng nói các pháp bản lai rỗng lặng, để người tiếp tục học tập, thành tựu trí tuệ, hoàn thành cấp học cuối cùng, Đạo đế.
6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
a. Bồ tát sơ phát tâm tiếp cận kinh này ở mức độ “văn’’ (trong văn – tư – tu), tức là, chỉ nên đọc rồi để đó! Học tập trong Phật đạo cần có thứ lớp, ngồi nhầm lớp sẽ khiến cho người ta càng học càng rối rắm, đảo điên. Do vậy đối với kinh đại thừa, tùy đối tượng mới có thể học tập, thâm nhập, thấu suốt hay giảng nói. Còn với những người học chưa đủ khả năng lĩnh hội chỉ nên dừng ở việc đọc tụng, tham cứu, chờ đến khi đủ điều kiện, đủ trí tuệ mới có thể thâm nhập nghĩa lý của kinh hay giảng nói cho người.
b. Hiểu đến đâu giảng đến đó, biết đến đâu nói đến đó, không nói quá cái gìmình học, mình biết, mình chứng, chính là “tùy thuận Phật trí’’. Như thầy Lý Tứ vẫn dặn dò HĐ Lý gia “đừng làm tài khôn dạy người, chỉ nói đúng những gì mình được nghe, được học, được chứng, mới là thái độ đúng đắn của người học tập trong Phật đạo’’.
7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ."(Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chưPhật” ở đây là gì?"
Trả lời:
a. Từ nhà chư Phật mà ra: kinh này phát xuất từ trí tuệ của chư Phật.
Trụ ở Bồ tát sở trụ: được các Bồ tát với sự thấu suốt của mình mà giảng nói lại cho chúng sanh.
Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ đề: trí tuệ ấy chỉ có thể được học tập bởi những chúng sanh đủ căn cơ, có nguyện lớn, học tập để giúp mình sau đó giúp người (phát tâm bồ đề).
b. Báo thân, Ứng thân và Pháp thân là ba thân của một Đức Phật
Báo thân: là thân huyết nhục, do bố mẹ sinh ra, cũng chịu quy luật sanh già bệnh chết như chúng sanh
Ứng thân (Hóa thân): là kinh điển, các bài pháp, các cảnh giới do Phật hóa hiện từ trí tuệ để dẫn dắt chúng sanh lần lượt thành tựu các đạo quả cho tới vô thượng bồ đề
Pháp thân: chính là trí tuệ của một vị Phật.
Do đó đây không phải là vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, như độc giả đề cập.
8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
a. Bồ tát là những người chưa độ mình đã lo độ người. Như tiền thân Phật Thích Ca và Phật Di Lặc khi vẫn còn là Bồ tát. Vì Bồ tát Thích Ca chỉ lo độ chúng sanh, cứu chúng sanh ra khỏi bể khổ nên đã thành Phật trước Bồ tát Di Lặc và còn là người thọ ký cho Bồ tát Di Lặc.
b. Như người thầy thuốc, có trong tay hết thảy các thứ thuốc chữa bệnh, thì bệnh của mình lo gì không chữa khỏi, nhưng vì thương người bệnh, ngày ngày bị bệnh tình hành hạ mà thầy thuốc quên cả bệnh của mình, chỉ lo chữa cho người!
Nhưng lưu ý rằng, để chữa bệnh cho người phải là thầy thuốc, chứ còn chả phải thầy thuốc, thân đầy bệnh tật, mà hùng hục đi chữa bệnh cho người thì có khi “thầy’’ sẽ chết trước, còn kẻ nào vô phước chữa bệnh ở nơi “thầy thuốc dỏm’’ như vậy thì bệnh mình không khỏi mà có khi còn lây cả bệnh của “thầy’’!
9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
a. Đọc câu hỏi này con có cảm giác độc giả Pháp Quang có điều gì đó nhầm lẫn ở đây. Ví dụ về thái tử sơ sinh đã được tôn kính muốn ẩn dụ cho sức mạnh trí tuệ của Bồ tát, một khi đã mọc mầm thì sẽ giống như vị thái tử, dù vừa mới sinh đã có vị thế, sức mạnh mà không ai có được. Trí tuệ của Bồ tát làm công hạnh cũng như vậy, dù mới chỉ vào sơ địa cũng hoàn toàn có khả năng nhiếp phục người nghe, đưa người ra khỏi khổ đau, có khả năng cứu độ chúng sanh bất tư nghì. Vì vậy người nào đã mọc được mầm trí tuệ trong Phật đạo, dù vừa mới “”mọc’’ một ngày, một tháng, hay một tuổi thì đều được chúng sanh kính ngưỡng, trở thành quyến thuộc của Bồ tát, của Chư Phật.
b. “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là lời minh định rằng, tự bản chất tất cả chúng sanh đều có những đức tính tốt đẹp như Chư Phật. Nhưng chỉ vì bị vô minh che lấp mà chúng sanh phải chìm đắm trong luân hồi, phiền não, khổ đau.
c. Một bên nói đến vị thế, sức mạnh, trí tuệ của các vị Bồ tát, Phật là bất khả tư nghì, chỉ có trí tuệ của các vị ấy mới ngang bằng, có thể “kết bằng hữu’’.
Một bên nói đến sự thật hằng hữu, “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, chỉ cần học tập đúng chánh pháp thì Phật tánh sẽ dần hiển lộ, và điều này là bình đẳng đối với tất cả hữu tình.
Do đó 2 lời khẳng định này không có mâu thuẫn hay chống trái nhau như độc giả Pháp Quang lầm tưởng!
10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
“Nhất thiết Phật ngữ tâm”, do đó, những câu như “trong một niệm có thể dạochơi các cõi Phật” hay “đưa chúng sanh du hí qua vô lượng cõi nước”, hay “thị hiện ngày thành tram kiếp, trăm kiếp thành một ngày” … chỉ sự chuyển hóa tâm thức của người nghe qua các cảnh giới tâm thức, từ khổ đau đến an vui, từ địa ngục đến niết bàn… Và sự chuyển biến nhanh chóng, tức thì như vậy là bởi khả năng ngôn thuyết bất khả tư nghì của người trí, có thể dùng ngôn thuyết của mình mà ngay lập tức đưa chúng sanh từ tâm thức địa ngục, khổ đau, phiền não cho tới niết bàn an vui tịnh tĩnh, chấm dứt sự luân hồi của tâm thức trong ba nẻo sáu đường.
11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
a. Giống như thuốc do thầy thuốc bốc để chữa bệnh cho người, công dụng cũng không khác với thuốc của ông tổ nghề y bốc, đều khiến bệnh nhân khỏi bệnh.Cho dù nhiều việc ông tổ nghề y làm được mà thầy thuốc không làm được.
b. Nếu bệnh nhân được chữa khỏi bệnh thì công lao đó thuộc về thầy thuốc, đơn thuốc hay ông tổ nghề y!?
12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
a. Tương đương với địa thứ 9 của thập trụ Bồ tát – Phật tử trụ. Biên chế ngang sang hàng thập địa thì tương đương Thất địa Bồ tát.
b. Một người với chí nguyện lớn họ có thể nhanh chóng hoàn thành những công việc mà người khác phải mất nhiều thời gian để hoàn thành. Hoặc cũng có thểhiểu đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trước đó.
13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
Khi một người mắc lỗi (tạo nghiệp) thì họ có 3 cách để khắc phục, xóa bỏ lỗi lầm đã gây ra.
Cách thứ nhất, đến xin lỗi, đền bù, hứa không tái phạm - sám hối hữu tướng. Cách thứ hai, đi đến một đất nước khác, nơi luật pháp, quy định của đất nước, nơi ở cũ không thể chi phối, tác động được đến họ - sám hối vô tướng. Cách thứ ba, trở thành người rất giàu có, vị thế, sau đó quay trở lại giúp đỡ người mà mình đã lỡ có lỗi với họ. Cách làm này khiến cho không những lỗi lầm cũ được xóa bỏ, mà còn được người khác cảm ơn, nể trọng – sám hối thiệt tướng.
Đây chính là cách sám hối của kẻ trí, học tập để thành tựu trí tuệ, quay trở lại cứu độ chúng sanh. Nhờ đó mà lỗi lầm, nghiệp chướng tự tiêu trừ.
14.
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
a. Bồ tát thập địa được chia thành 2: Bồ tát thập địa do tu hành sanh và Bồ tát thập địa do công hạnh sanh.
Đối với Bồ tát thập địa do tu hành sanh thì quả vị cao nhất sẽ là bát địa, sau đó người này tiếp tục dấn thân làm công hạnh sẽ lần lượt thành tựu địa thứ chín Thiện huệ địa và địa thứ mười Pháp vân địa.
Đó là lý do vì sao kinh nói, các vị ấy vì cứu độ hết thảy chúng sanh, thành tựu tất cả các tam muội môn, tổng trì môn, lần lượt thâm nhập các quả vị cho đếnthành tựu Pháp vân địa.
b. Đây cũng là lời nhắc nhở cho những ai tu hành, phải dấn thân, quên mình, vì tất thảy chúng sanh nếu muốn thành toàn con đường đến vô thượng bồ đề.
15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
a. Thánh quả là chỉ địa vị của người không còn phiền não, kiết sử, giải thoát hoàn toàn ra khỏi khổ đau, cột trói.
b. Phàm phu Bồ tát là khái niệm không có trong Phật đạo! Một vị dù có thành Thánh, thành Bồ tát hay thành Phật thì vẫn mang cái thân như chúng sanh, tức cũng sanh già bệnh chết, chứ chẳng thể có cái thân bất hoại, hay mọc thêm mắt, thêm tay.
Con, Lý Ngọc Linh - MB 0721" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
07/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


