Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 95.2026 với chủ đề: Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Các bạn !!!
Hồi chiều, sau khi đăng chuyên mục đến số 94/2026...Lúc ấy Lý Diệu Âm - MB 0572 ở Hà Nội mới nhắn tin cho mình: "Thầy ơi !!! Con gởi câu trả lời trong email hồi chiều, lúc đó Thầy đang sinh hoạt với HĐ EU nên con không dám gởi qua zalo...Giờ Thầy check email đi.." thế là, mình check email và quả thật Diệu Âm đã trả lời cách đây hơn bốn tiếng...!!!
Do sơ suất này, nên bây giờ, mình mới chuyển đến mọi người trả lời của Lý Diệu Âm...Mong hành giả Pháp Quang và bạn đọc thông cảm...!!!
Sau đây là trả lời của Lý Diệu Âm:
"Con kính thưa Thầy, thưa HĐTM Lý gia!
Con là Lý Diệu Âm – là học trò số 572 của Thầy , Trong chuyên mục Bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời, Hành giả Pháp Quang có gửi đến 15 câu hỏi dành cho HĐTM Lý Gia. Qua thư Bác viết : bác đã dành rất nhiều năm nghiên cứu giáo nghĩa Đại Thừa , Con rất vui khi được Bác tạo điều kiện cho HĐTM Lý Gia được trả lời câu hỏi kỳ này. Bằng sự hiểu biết hiện tại của mình, con cũng xin được trả lời những câu hỏi của Bác đưa ra. Con mong được Thầy và HĐTM bổ khuyết cho con ạ.
1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Thưa Bác Pháp Quang, Trước khi đi vào trả lời câu này, con nghĩ chúng ta cần phải thống nhất chữ Pháp ở đây nghĩa là gì, sau khi thống nhất rồi, đoạn kinh trên sẽ rất sáng tỏ và không có gì là khó hiều nữa.
Chữ pháp trong Phật Đạo tuy có một vài ý nghĩa khác như phép tắc, pháp luật, phương pháp, nhận thức… Tuy nhiên chữ Pháp ở đây trong đoạn Kinh này chính là các quan điểm, quan niệm, nhận thức, phán xét về một vật /sự vật hay hiện tượng nào đó chứ không phải là chính sự vật, sự việc đó .
Hiểu chữ pháp như vậy ta sẽ thấy một pháp tự nó không có tánh, không có tướng mạo, bản lai tự rỗng lặng không có hai pháp đối đãi. VD Khi ta suy nghĩ/ nhận xét cái Bình này to, cái ly này nhỏ, thì cái nghĩ suy này của ta bản lai cũng không có tánh lớn, không có tánh nhỏ… không có bất kể một tánh chất nào hết. Không có tánh chất đối đãi, nhị nguyên. Quán sát và thấy được đúng (ngộ) điều này là điều kiện để Bồ tát tu học Vô Lượng Nghĩa và là tiền đề để có được Vô lượng nghĩa về sau.
Ý nghĩa đoạn kinh bây giờ rất dễ hiểu: Bồ tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa, phải nên quan sát hết thảy các pháp từ trước đến nay, tánh tướng của nó bản lai rỗng lặng, tức là tự bản lai nó không có tánh lớn, tánh nhỏ, không sanh không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, cũng ví như là hư không vậy. Trong Kinh Bát Nhã cũng dạy: “thị chư pháp không tánh, không tướng, bât cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm …..“
2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Bản lai các pháp không có tự tướng, tức là không tự có bất kể một tướng gì cả, vì vậy thật tướng của các pháp là Vô tướng. Kinh dạy: “Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng". Biết rõ bản chất vô tướng của các pháp thì sẽ thấy pháp tướng hay pháp danh đều tự như, tự thanh tịnh. “Nếu thấy một thứ tướng nào đó thì đó chính là hư vọng tướng , hư vọng tướng này do nghiệp sai biệt nên cho ra cái thấy biết sai biệt. Trong Kinh Kim cang dạy: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như lai. ( Hễ cái gì có tướng thì đều là hư vọng, Nếu thấy các tướng này không có tướng tức thấy được Như Lai)
b) Ý nghĩa đoạn kinh này: Khi Bồ tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng, thấy rõ bản chất không tánh, không tướng của các Pháp, Không có tánh Phật , không có tánh Ma, không có tướng Phật, không có tướng Ma, nên từ đó mà thuyết pháp vô lượng, vì thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Vô lượng Nghĩa đó do từ một pháp mà xuất sanh pháp lành để giúp cho chúng sanh, đó tức là vô tướng, Trong cái vô tướng như thế, tức là vô tướng mà không có một tướng nào hết, do đó vô tướng mới là thật tướng vậy.
3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?
Trả lời:
Như đã trả lời ở câu 1 , Bồ tát thấy rõ bản chất các pháp tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh, không diệt, thế nhưng Bồ tát cũng quán hết thảy đời sống của chúng sinh (chưa giác ngộ) chỉ do mê mà các pháp niệm niệm chẳng dừng luôn luôn sanh diệt, vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối cho rằng cái này, cái kia là được, là mất mà tạo ra mọi ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả. Hai cái thấy này hoàn toàn không có gì trái ngược, thấy rõ bản chất và hiện tượng như thế, Bồ Tát mới khởi lòng đại bi xuất sanh vô số phương tiện giáo hoá, giúp cho chúng sanh ra khỏi khổ để có được an vui
4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
Theo con đúng vậy, giáo pháp của Phật chính là phương tiện thiện xảo của Trí tuệ trên cái nền vô tướng đó mà hiển bày, Từ trí tuệ thiện xảo với Tứ vô ngại biện (pháp vô ngại, từ vô ngại, nghĩa vô ngại, biện tại vô ngại) của Bậc đại trí tuệ có thể xuất sinh ra vô lượng nghĩa phù hợp nhất với căn cơ người thính pháp, giúp cho người nghe từ đó mà không còn trói buộc, khổ, phiền não, giống như nước sạch rửa mọi phiền não cấu uế cho chúng sanh …mà không hề mất di tánh rỗng lặng , giống như người mẹ hoá hiện ra ông Kẹ giúp cho đứa con của mình không quấy khóc mà bản thân trong lòng bà mẹ không hề phải đối phó với Ông Kẹ đó.
5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói KInh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa cókhác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
Văn tự tuy là một mà lại có sai khác về ý nghĩa, Bản chất sự sai khác này do căn cơ, chúng tánh sai khác nên sẽ có nhận thức sai khác, do chúng sanh hiểu ngộ khác nhau nên đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau. Kinh dạy “cùng một pháp vô vi mà chư hiền thánh thấy có sai biệt“, hay trong Kinh cũng thường nói: "Phật dùng một âm diễn thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải"
6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tuỳ thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
Kinh này dành cho các Bồ tát đã qua địa vị thập trụ. Các Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này tuỳ theo mức độ giác ngộ chỉ có thể hiểu được rất hạn chế nếu không muốn nói không thể lãnh hội được. Giống như một người mắt còn chưa sáng thì kiến thức hội hoạ chưa thể tiếp thu một cách trọn vẹn được. Để họ có đủ tự tin rằng mình đang tuỳ thuận được Phật trí, thì phải cho họ học tập những giáo trình phù hợp với họ để họ từng bước từng bước thấm nhuần và có sự thực chứng, Phật đạo là một nền giáo dục hoàn chỉnh có cấp lớp rõ ràng.
7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm MườiCông Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
Từ nhà chư Phật mà ra: ngôi nhà ở đây chính là Phật trí, là Pháp thân nơi trí tuệ giác ngộ viên mãn của chư Phật. Đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ đề: Bồ tát khởi tâm từ bi, phát tâm bồ đề vì chúng sinh mà giáo hoá, độ mình, độ người. Trụ ở nơi các vị Bồ Tát sở trụ: Bồ tát ở nơi thực hành các hạnh nguyện của các vị Bồ tát, không xa rời các hạnh nguyện này.
8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
Nguyên văn của năng lực thứ 3 ở đây theo con thì Người nào nghe được kinh này, chuyển đọc thông đạt, hiểu được nghĩa kinh rồi thực hành sanh ra tư tưởng thương xót chúng sanh, muốn giúp đỡ chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành thì qua được khỏi chốn sanh tử khổ, thì giống như một vị thuyền trưởng tuy mắc bệnh nặng, tứ đại không điều thích, nhưng vẫn sắm dụng cụ, thuyền bè vững chắc cung cấp cho mọi người sang bờ bên kia, giúp cho họ được an vui, theo đúng lý thuyết mà tu hành, ra khỏi sanh tử khổ. Đoạn này không có ý nghĩa là “Đại bi” và” phương tiện” vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn.
Chỉ là người chứng ngộ viên mãn thì chắc chắn sẽ xuất sanh được đại bi và phương tiện, người chưa viên mãn thì cũng giống như vị thuyền trưởng kia cung cấp thuyền bè cho người qua sông cũng có ích lợi, tuy nhiên chưa có “đại bi” và phương tiện thì chưa thiện xảo.
9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng ? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
Người trì kinh này cũng lại như thế. Chư phật là quốc vương, kinh này là phu nhân, hoà hợp cùng nhau sanh ra con là Bồ Tát. Nếu Bồ tát đó được nghe kinh này dù là một câu hay một bài kệ, dù chuyển đọc một lượt, hai lượt, là mười lượt, trăm lượt cho đến muôn ức vạn Hàng hà sa số vô lượng vô số.. đã được tất cả tứ chúng, tám bộ kính tin và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập và pháp bí mật của chư Phật, những chỗ nên diễn nói ra thì không trái không lỗi thường được chư Phật hộ niệm. Thái tử mới sanh ra đây chính là vị Bồ Tát Pháp Vương tử bước ra từ Nhà Chư Phật, được nghe kinh này, một lòng trước độ mình, sau độ người thì vị Bồ tát ấy ví như là thái tử được thần dân sùng kính, việc này hoàn toàn không có ý nghĩa “ phẩm vị không đến từ năng lực mà đến từ dòng dõi” như bác suy nghĩ.
b) câu nói “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh “là lời của Chư phật dạy trong Kinh, bất kể người tu hành hay không tu hành, tất cả hữu tình cũng đều có Phật tánh, đây là chân lý.
10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
Khả năng thị hiện một ngày thành trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày không phải nói về thời gian vật lý mà là ẩn dụ cho tâm thức mê như trăm kiếp, ngộ như một sát na. Giống như hang động tăm tối cả ngàn năm, chỉ cần đốt ngọn đèn thì hang động ngay lập tức sáng. Đây không phải là pháp tu đoạn trừ tam tế .
11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyêt pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?
Trả lời:
a) Đoạn kinh trên không có ý nói người trì kinh chưa trụ sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật, mà ở đây là vị Thái tử ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các thần dân, bá quan văn võ, dùng những lời dạy của vua để lãnh trị việc nước, cũng giống như Phật tử, làm đúng theo lời Phật dạy, đọc và thọ trì kinh điển này, hiểu rõ lời Phật dạy trong Kinh, y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn, khiến họ dứt lìa phiền não, lìa nỗi khổ sanh từ.
Lưu ý: Phật tử, địa vị thứ 9 của Hàng thập trụ (Pháp Vương tử trụ) mới được coi là Phật tử. Bây giờ mới chính thức được làm con của Phật.
Thầm quyền giáo hoá có thể nằm ở cả sự chứng lượng bản thân và ở sự trung thành với lời Phật dạy. Nếu áp dụng thực hành đúng lời Phật dạy, có thể chứng lượng bản thân.
b) Một phàm phu y kinh thuyết pháp khó có thể khiến người khác đắc đạo (giống nhưngười không biết bơi thì rất khó có thể dạy người khác bơi) nếu có xảy ra thì cũng không có công đức vì công đức là bản vị của bậc giác ngộ thanh tịnh tâm. Nếu là một Phật tử (Pháp vương tử trụ) y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo thì công đức thuộc về vị ấy.
12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Cồn Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
a) Theo kinh nói Vô sanh pháp nhẫn ở đây là ở địa vị Thất địa Đại Bộ tát, kinh nói những ai được nghe kinh này mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm bồ đề khởi mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu ba la mật thì sáu ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước.
b) Lục độ tự nhiên hiện ra cũng có mang tính chất đốn ngộ (trong một sát na) có được thanh tịnh, sanh tử phiền não nhất thời tan hoại do theo đúng lý thuyết tu hành.
13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanhđang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
a) Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây chính là do trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh (theo đúng lý thuyết tu hành, theo đúng lời Phật dạy) làm tan rã gốc rễ vô minh.
b) Tu tập giới – định – huê thông thường chỉ là giữ giới hữu lậu, hay cách sám hối của thế gian, cũng không làm tiêu tan hay chuyển hoá nghiệp từ hữu lậu sang vô lậu.
14.
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
a) Nếu bác đọc kỹ cả đoạn phẩm công đức thứ 10 trong bài Kinh, Bác sẽ thấy điều kiện hay quy trình tu tập từ môt phàm vô vô văn đến địa vị pháp vân địa, rồi thành đẳng chánh giác. Đây là sự thăng tiến qua một quy trình tu học đúng chánh pháp để hết phiền não mê mờ, giác ngộ, sau khi giác ngộ rồi thì học đạo, làm công hạnh, hành Bồ tát đạo… Đủ công đức vượt lên ngôi Pháp vân địa, rồi thành đạo vô Thượng chánh đẳng chánh giác. Đây là một quy trình mất 4 giai đoạn (dứt tập, chứng diệt, tu đạo và hành bồ tát đạo) và ba vô số kiếp, một vô số kiếp giải quyết ngu, một vô số kiếp giải quyết mê, một vô số kiếp giải quyết lầm.
b) Dần dần sẽ thấy được, không có nghĩa là hành giả có thể cảm nhận cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong thực tại , mà phải tu tập giải quyết từng giai đoạn theo thứ lớp, giống như người về nhà xa xa không thấy rõ, phải càng đi mới càng thấy rõ nhà mình.
15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Kinh đưa ra kết luận Phàm Phu nương kinh này (theo đúng lý thuyết tu hành) có thể chứng thánh quả. Tuỳ từng địa vị tu hành sâu cạn khác nhau của mỗi người mà có được quả vị giải thoát rốt ráo hoặc thân phàm phu nhưng Tâm đã an trụ trong trí vô lậu.
Con, Lý Diệu Âm - MB 0572" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
07/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


