Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 93.2026 với chủ đề: Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

Tháng 6 8, 2026 - 06:13
 0  4
Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

Sau đây là trả lời của Lý Kim Thoa - MB 0620...Ở Hà Nội...!!!

"Kính thưa thầy con xin phép được tham gia trả lời câu hỏi của bạn đọc Pháp Quang

Chào bác Pháp Quang, tôi là Lý Kim Thoa là học trò số 620 của thầy Lý Tứ. Nhận được thư của bác HĐ Lý Gia chúng tôi rất hoan hỉ!

Điều hoan hỉ thứ nhất là vì chủ trương coi Phật đạo như nền Giáo dục của Lý Gia đã được bác – một người đã có nhiều năm nghiên cứu về Phật đạo đồng cảm và trân trọng.

Điều hoan hỉ là vì không chỉ dừng lại ở đó bác còn muốn được tường tận về Thầy Lý Tứ và các HĐ Lý Gia thông qua 15 câu hỏi đã khiến bác “không ít điểm nghĩa lý uyên áo”. Nhân các câu hỏi của bác, thao trường Lý Gia lại được dịp rộn ràng cờ trống, HĐ Lý Gia lại có dịp mang những điều đã thực chứng qua quá trình học tập, tri ân công đức giáo dạy của Thầy và Chư Phật.

Phật đạo là một nền giáo dục, đã là nền giáo dục thì phải có hệ thống cấp lớp, chương trình đào tạo, mục tiêu đầu ra, tiêu chuẩn đánh giá và lộ trình học tập rõ ràng. Người học tập phải biết mình đang ở đạo quả nào, cần thành tựu những gì để thâm nhập đạo quả tiếp theo trong Phật đạo.

Trong nền giáo dục ấy “Kinh điển của Đức Phật để lại chính là một bộ sách giáo khoa hoàn hảo, giúp người học tiếp cận kiến thức từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ đại cương đến chi tiết, từ những ứng dụng thô sơ đến các thứ triết lý cao thâm... Vì thế, không biết phân loại, sắp xếp, đọc tụng theo thứ lớp, để có thể lãnh hội và ứng dụng phù hợp từng giai đoạn tu tập, sẽ giống như người bệnh uống nhầm thuốc, hệ quả sẽ là, "tiền mất tật mang" đã không ích lợi nhiều, bệnh tình có khi trầm trọng hơn, điều này không phải là hiếm gặp trong thực tế tu hành!”- trích Thầy Lý Tứ

Để không gặp phải tình trạng này, trước khi khảo cứu Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, ta cần phải xác định vị trí của bài kinh này trong hệ thống giáo dục. Thật hữu duyên khi bài Kinh này cũng được Thầy Lý Tứ đưa vào trong cuốn 11 bài kinh Phật nhằm giúp các HĐ Lý Gia có được bức tranh tổng thể, có được cái nhìn khái quát về hệ thống kinh điển của Phật Đạo từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu...Trong cuốn 11 bài kinh Phật, bài Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa đứng cuối cùng, là đại diện của Pháp Vân Môn – pháp môn giáo hoá nổi mưa pháp làm lợi ích cho muôn loài.

Do có vị trí đặc biệt như vậy nên ngay từ phẩm đầu Kinh đã mô tả hội chúng tham dự nghe pháp là các Đại Bồ Tát (Bồ Tát Ma Ha Tát). Nhân duyên bài kinh ra đời nhằm giúp các vị Đại Bồ tát ấy chóng thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đã là Bồ Tát Ma Ha Tát thì điều kiện tiên quyết phải là tâm như hư không và hết thảy vì chúng sanh.

Từ tiền đề này, sau đây tôi xin được đi vào từng câu hỏi cụ thể:

Câu hỏi 1:

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp – đây là sự thật hay thật tướng của các pháp.

Theo ý nghĩa đoạn trích muốn tu học pháp môn Vô Lượng Nghĩa, đầu tiên người học phải thấy được thật tướng của các pháp.

Điều kiện tiếp theo đó là: “Chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, tạo ra mọi điều ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả, chịu đủ mọi khổ độc, hàng vô lượng ức kiếp, mà không tự biết để tìm lối ra. Bồ Tát Ma Ha Tát, quán sát kỹ lưỡng như thế rồi sanh ra lòng lân mẫn, phát khởi ý đại từ bi, hầu mong cứu vớt”

Dịch nghĩa: Các pháp tự không nhưng chúng sanh do mê lầm chấp trước nên phải chịu ác nghiệp, quanh quẩn trong 6 ngả, chịu mội khổ não. Do đây Bồ Tát Ma Ha tát tuy tâm như hư không mà phát khởi tâm đại bi cứu độ chúng sanh.

Câu hỏi 2:

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Đoạn kinh này nên được trích dẫn đầy đủ như sau: thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế...Bồ Tát quá sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng như thế đều biết cả rồi…vào mọi căn tánh ham muốn của chúng sanh; vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà Vô Lượng Nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là vô tướng. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.

Thật tướng là vô tướng, do vô tướng nên có thể vào mọi căn tánh thuyết pháp vô lượng, thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng, do đây goi là Vô Lượng Nghĩa.

Câu hỏi 3:

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Các pháp “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”đây là sự thật. Bồ tát lại quán sát chúng sanh thấy các pháp “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Cho nên Bồ Tát mới biết nguyên nhân hình thành chúng sanh giới và con đường đưa chúng sanh ra khỏi ngu mê lầm.

Câu hỏi 4:

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)"

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

Tất cả giáo pháp của Phật không chỉ là “phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng” mà còn xuất phát từ chỗ sở hành của chúng sanh, cho nên thấy có sinh mà vẫn rỗng lặng, ra ngoài dựng lập và phỉ báng.

Câu hỏi 5:

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Đoạn kinh phía sau Phật có giải thích như sau: "Lúc ban đầu Ta vì người cầu quả Thanh văn nói ra pháp Tứ đế, tám ức chư Thiên đi đến nghe pháp mà phát tâm Bồ Đề; ở trong khắp nơi khắp chốn vì người cầu ngôi Bích chi Phật nói ra pháp mười hai nhân duyên sâu xa, vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ Đề; hoặc có người trụ vào hàng Thanh văn; thứ đến nói kinh Phương Đẳng mười hai bộ kinh, kinh Đại Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, ở nơi không hải diễn nói lịch kiếp tu hành của các Bồ Tát mà trăm nghìn Tỳ kheo, muôn ức trời, người, vô lượng chúng sanh được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A La Hán, trụ vào ngôi Bích chi Phật ở trong pháp nhân duyên. Nầy thiện nam tử! Vì lấy nghĩa đó, cho nên biết rằng lời nói đồng nhau mà ý nghĩa sai khác."

Câu hỏi 6:

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Không chỉ cảnh giới được nói đến trong bài kinh mà mọi cảnh giới trong Phật đạo chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu rố ráo. Các thừa trong Phật đạo tuỳ chỗ chứng ngộ mà khi đọc tụng, giảng nói sẽ cho ra pháp tương ưng. Người chưa thực chứng khi giảng nói nhất định sẽ khiến người êm tai vì tương ưng với tâm ưa thích suy lường suy luận của người đời.

Câu hỏi 7:

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra: Bản giác của chư Phật

Đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề: Bồ tát Trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ: các vị Bồ tát thuộc hàng hữu học. Pháp thân, Báo Thân, Ứng thân không phải một vòng khép kín. Từ nơi Pháp thân Phật, chỗ chúng sanh thấy tương ưng gọi là Báo thân, chỗ thị hiện gọi là Ứng thân.

Câu hỏi 8:

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Người bác sĩ bị bệnh vẫn có thể chữa bệnh. Không phải bác sĩ thì không nên chữa bệnh. Bồ Tát do chỗ chứng mà có 3 pháp khác nhau

* Thành tựu Thánh trí (Vô lậu trí) có được Pháp duyên Từ, Bi, Hỉ, Xả !!!

* Thành tựu Nhất Thiết trí (Bồ tát trí) có được Chúng sanh duyên Từ Bi, Hỉ, Xả.!!!

* Thành tựu Nhất thiết chủng trí (Phật trí) có được Vô duyên Từ.Bi, Hỉ, Xả!!!

Câu hỏi 9:

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

- “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là tất cả chúng sanh đều có những đức tính như Chư Như Lai không phải tất cả chúng sanh không có hết ngu mê lầm

- Trong Bồ tát đạo

Trụ thứ 9 mới được gọi là Pháp Vương Tử Trụ

- Và trụ thứ 10 Quán Đảnh Trụ mới hết phần thập trụ, mới đầy đủ phẩm vị để cầu học trí tuệ vị lai thành tựu 10 danh hiệu của 1 Đức Phật

Câu hỏi 10:

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

Trong đoạn Kinh này khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” ẩn dụ cho chúng sanh như huyễn, Khổ, phiền não, Kiết sử không thật có.

Câu hỏi 11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

Đã là Bồ Tát Ma Ha Tát sao còn phải phân biệt thẩm quyền hay công lao? (Xem câu trả lời số 1)

Câu hỏi 12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

Đoạn kinh này đồng nguyên lý chúng sanh như huyễn

Câu hỏi 13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

Đoạn kinh này dựa trên nguyên lý tam tâm bất khả đắc, ba thời không thật.

Câu hỏi 14.

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

Theo đoạn kinh trên: Phàm phu này đã huân tập nhiều căn lành, làm lợi ích cho hết thảy, diễn bày các pháp thanh tịnh để thấm nhuần các chốn khô khan. Lại đem những phương pháp đã được này ban cho hết tahyr chúng sanh cũng được yên vui …cho nên dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa

Câu hỏi 15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho nhữn vg kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Đoạn tổng kết của bài kinh này gồm đầy đủ 2 ý

Gọi là Vô Lượng Nghĩa vì có thể khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả.

Gọi là Năng Lực Bất Khả Tư Nghì Công Đức vì khiến cho hết thảy chúng sanh nảy mầm Bồ Tát đạo.

Với sự tổng kết như vậy, bài Kinh đã làm đúng ý nghĩa đại diện của Pháp Vân Môn – pháp môn giáo hoá nổi mưa pháp làm lợi ích cho muôn loài.

Do thời gian hạn hẹp, xin phép dừng phần trả lời ở đây.

Con thành kính tri ân thầy, người thầy không quản ngại ngày đêm, dìu dắt HĐ chúng con đến bờ Phật quả!!!

Con, Lý Kim Thoa - MB 0620" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow