Lý Thu Hằng Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 92.2026 với chủ đề: Lý Thu Hằng Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Sau đây là trả lời của Lý Thu Hằng:
"Dạ Thưa Thầy, con là Lý Thu Hằng – MB 0699. Con xin được gửi phần trả lời của con cho 15 câu hỏi của Hành Giả Pháp Quang.
1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Đầu tiên, để hiểu đoạn Kinh này, cần phải minh định rõ khái niệm Pháp. Pháp ở đây phải hiểu rằng: là các quan điểm, quan niệm, khái niệm của hữu tình về thân tâm và thế giới.
Nói: Các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp. Đây là một sự thật! Các pháp tự bản chất không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã. Bản chất các pháp tự không. Ta thấy có pháp lớn, pháp nhỏ, pháp sanh, pháp diệt, thấy có trụ, có động, có tiến, có lui,… thì đều là cái ta thấy chứ không phải các pháp có tánh, tướng,… như thế!!!
Nếu các pháp có tánh lớn thì nó phải thường lớn, không thể thấy lúc có nhỏ, có lớn. Thấy các pháp có lớn, có nhỏ,… là do cái tâm thức nhị nguyên đối đãi của chúng sanh mà thấy có lớn có nhỏ, chứ các pháp bản chất tự không (không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã) chẳng có những món đó. Ta thấy pháp có lớn, nhỏ, sanh, diệt, trụ, động, tiến, lui,… là ta thấy cái hiện tượng triển chuyển biến hợp vô thường của các pháp, chứ chẳng phải là bản chất các pháp!!!
Chính vì Bồ tát thấy được bản chất tự không của các pháp, ví như hư không, nên không bị kẹt mắc nơi các pháp, không còn bị ngăn ngại bởi các pháp, tự tại trước các pháp. Bồ tát từ đây, vì thấy chúng sanh mê lầm muôn vàn kiểu, căn tánh ham muốn vô lượng, mà sinh lòng lân mẫn, phát khởi đại bi, nương nơi muôn vàn món mê (pháp) của chúng sanh mà diễn nói vô lượng nghĩa, giúp chúng sanh rời vọng đạt chân, thấy được bản chất chân thật của các pháp. Thấy được bản chất chân thật, cái mê tự mất. Như căn phòng tối, đèn bật lên thì bóng tối tự mất.
Tóm lại, đoạn kinh trên muốn nói: Bồ tát nhờ thấy được bản chất tự không (không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã) - như hư không của các pháp, vì thương chúng sanh mê lầm trong các pháp hư vọng, mà nương nơi vọng chấp diễn nói các nghĩa sai biệt, giúp chúng sanh dần thấy được chỗ chân thật. Bồ tát làm được điều này gọi là thành tựu Vô Lượng Nghĩa.
2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Nguyên văn trích đoạn này trong Kinh là:
“Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là “vô tướng” vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là “thật tướng” vậy.”
Câu Kinh này muốn nói: Sở dĩ Bồ tát có thể diễn nói vô lượng nghĩa tùy theo căn tánh mê lầm của chúng sanh, do vì vị này: chứng thực được KHÔNG PHÁP mà từ MỘT PHÁP (KHÔNG PHÁP) mà sanh ra MỘT PHÁP (HUYỄN PHÁP) để đối trị vừa khít với cái tâm huyễn của chúng sanh.
Vì chúng sanh mê quá mà nói huyễn pháp (phương tiện) nhằm đưa chúng sanh về chân, nên nói: Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng (chẳng có tướng vô tướng), vì đây chỉ là tạm nói như vậy nhằm giúp người thấy được nghĩa gì đó. Chứ thực bản chất, “Chẳng tướng mà vô tướng” (tức là, chẳng có tướng vô tướng cùng chẳng không có tướng vô tướng), thì mới gọi là “thật tướng” – cái tướng chân thật siêu quá nghĩa tướng, vô tướng, chẳng tướng, chẳng vô tướng.
3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ? "
Trả lời:
Hai cái thấy này không trái ngược nhau. Cái thấy “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là cái thấy bản chất của các pháp. Cái thấy “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là cái thấy hiện tượng của các pháp.
Hiện tượng thì chẳng phải là bản chất. Chúng sanh vì mê chấp cái thấy hiện tượng, cho là bản chất, là chân lý, nên mới sinh phiền não khổ. Bồ tát thấy được sự thật này, tùy cái mê chấp của chúng sanh, bày pháp phương tiện đối trị, giúp người dứt mê, diệt khổ phiền não.
4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
a) “Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó”. => Đúng. Xem lại câu trả lời số 2.
b) Giống như mặt trời vẫn thường tỏa ánh sáng, việc tỏa ánh sáng chẳng làm mặt trời bị “mòn” đi chút nào.
Nghĩa “vô tướng” trong câu trên cũng như vậy. Vô tướng này là thật tướng, là thường, là chân lý. Mà đã là thường, thì chẳng phải làm thế nào “để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó”!!!
5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
"
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
Văn tự là một nhưng đối tượng nghe căn tánh sai khác, thời điểm thính pháp sai khác, nên ý nghĩa sai khác.
6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
Mỗi Pháp Phâth đều đầy đủ giáo tông và tâm tông.
Thầy Lý Tứ cũng có nói: Giáo Tông thuộc về khoa giáo, thành tựu này thuộc về kiến giải, giống như "học thuộc thực đơn của một nhà hàng", còn Tâm tông thì giống như người có tiền gọi món ăn, nhờ ăn mà no bụng. Học thực đơn thì chẳng phải mất tiền, vì thế ai học cũng được, thậm chí nhà hàng khuyến khích người học.
Cũng vậy, Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, tiếp cận được lời chỉ dạy của Phật trên bề mặt giáo tông, cũng mang lại lợi lạc như trong Phẩm Mười Công Đức có chia sẻ: “Nếu Bồ Tát đó được nghe kinh này, dù là một câu hay một bài kệ, dù chuyển đọc một lượt, hai lượt; dù là mười lượt, trăm lượt, cho đến muôn ức vạn Hằng hà sa vô lượng vô số. Tuy lại chẳng hay thể nhập vào được chân lý cao siêu, vàchẳng hay làm chấn động được ba nghìn đại thiên quốc độ, tiếng phạm như sấm vang, chuyển xe đại pháp; nhưng đã được được tất cả bốn chúng, tám bộ kính tin, và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập vào pháp bí mật của chư Phật. Những chỗ nên diễn nói ra thì không trái không lỗi, thường được chư Phật hộ niệm.”
Nếu Bồ tát này muốn chắc thật rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, không có con đường nào khác là thực chứng lời dạy của Phật.
7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
3 mệnh đề trên chỉ đến 3 đối tượng:
− “Từ nhà chư Phật mà ra” nhằm chỉ cho Phật trí (Phật bảo) giống như mặt trời,
− Phóng ánh sáng tới hết thảy chúng sanh có nhân duyên (phát tâm Bồ Đề) (Pháp bảo),
− Và “trụ ở các vị Bồ Tát sở trụ” như hình ảnh Hoa tận đăng trong Liên hoa đài tạng, làm cho mạng mạch Phật pháp nối dài không tiêu thất (Tăng bảo).
8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
Thân là quả của Nghiệp, thuộc về thế gian nên nhận chịu nghiệp thế gian. Giác ngộ là nơi nhận thức, thuộc về xuất thế. Trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh, là phạm trù thuộc về trí tuệ xuất thế gian thượng thượng, siêu quá thế gian cùng xuất thế gian.
Phật là bậc Vô Thượng Trí, nhưng Thân vật lý của Phật vẫn Sinh, Gìa, Bệnh, Chết theo quy luật của Thân. Còn Tâm thức và Trí tuệ vô thượng, chẳng can dự gì tới thân vật lý này.
9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
“Thái tử” trong hình ảnh ví dụ trên, trong Kinh đã chỉ rõ nhằm chỉ cho chúng sanh khi nghe kinh này dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Giống như người kế thừa được bản hoài của nhà vua mà ở đây gọi là “thái tử”.
Đây chính là tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”! Vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nên khi tương ưng với tư tưởng mạnh mẽ, với bản hoài của bao đời chư Phật là “giúp hết thảy chúng sanh thành Phật”, dù người này chưa thể nhập vào được chân lý cao siêu, “cũng thường được chư Phật hộ niệm, được tất cả bố chúng, tạm bộ kính tin, và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập vào pháp bí mật của chư Phật”. (Trích Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
"
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
“Thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày”. Đoạn kinh này muốn thể hiện sức công phá bất khả tư nghì của đạo Đại Bồ Đề.
Người dù thân tâm còn ở trong 3 cõi, chịu đủ sự khổ phiền não của 3 cõi, nhưng khi tâm thức “lại hay thị hiện đạo đại Bồ Đề” – sống và đi trên con đường giác ngộ và giúp người giác ngộ, thì một ngày khởi tâm nguyện như vậy như người đã trải qua trăm kiếp, và trăm kiếp tu hành cũng cảm thấy như chỉ một ngày. Ở đây muốn nói con đường Chánh Pháp, con đường Đại Bồ Đề vượt ra ngoài ý niệm về thời gian, không thể suy lường nghĩ bàn mà thấy được.
11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
a) Kinh nói: “Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác”. Nói: “không sai khác” chứ không không nói “hiệu quả ngang với Phật”.
b) Phật pháp không của riêng ai, cũng không thuộc quyền sở hữu của ai. Như Phật cũng từng nói trong Kinh Kim Cang: “Tu Bồ Đề! Nếu như có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng hẳn đã không thọ ký cho ta: Ông về sau sẽ thành Phật hiệu Thích ca Mâu ni. Vì thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ta rằng: Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích ca mâu ni.”
c) Bất cứ ai vâng theo, thọ trì, tin hiểu, hay chứng thực lời Phật dạy, mà nhờ đây giúp mình giác ngộ hay giúp người giác ngộ, thì việc làm này đều phát sinh công đức. Công đức là tiền công trả cho người giác ngộ, như ánh sáng từ đôi mắt sáng người giác ngộ.
12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
Nguyên văn trong đoạn kinh này: "Năng lực thứ bảy bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, được nghe kinh nầy mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, THEO ĐÚNG LÝ THUYẾT TU HÀNH, PHÁT TÂM BỒ ĐỀ khởi ra mọi căn lành, GÂY Ý ĐẠI BI MUỐN CỨU ĐỘ CHO HẾT THẢY CHÚNG SANH KHỔ NÃO mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.” (Hết trích)
Câu kinh viết rõ, năng lực bất khả tư nghì công đức của Kinh phát huy, khi người thiện nam thiện nữ này hội tụ đủ 3 điều kiện:
- Theo đúng lý thuyết tu hành (như lý tác ý)
- Phát tâm bồ đề (phát tâm chân thật)
- Gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não (khởi ý đại bi, đi theo bản hoài của chư Phật)
Giống như một người đã nhất tâm, một lòng một dạ trên con đường tự độ, độ tha.
Thì, ngay khi phát tâm Bồ-đề chân thật:
• Nhân đã chứa quả.
• Quả đã hiện trong nhân.
Nên từ đó:
- Không tu hành sáu pháp ba la mật mà tâm thành tựu được sáu ba la mật (xả pháp tồn tại)
- Thân này còn ở trong ba cõi, nhưng tâm thức đã hướng về cõi xuất thế, nên phiền não sanh khởi không còn hiện khởi trong người này, chứng vô sanh pháp nhẫn – không sanh tâm, không sanh pháp, được Niết bàn thanh tịnh. Giống như người đã quyết một lòng nhìn sang trái, thì không thể thấy bên phải.
Và ngay nơi bổn tâm chân thật, phiền não không thể hiện khởi, được ngôi Thất địa đại Bồ Tát – Tâm bất động, Trí giải thoát, tiếp Nguyện lớn của chư đại Bồ Tát.
13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
a) Bồ tát do thấu suốt được bản chất thân tâm và thế giới mà ra khỏi trói buộc của nghiệp thức, tiêu trừ nghiệp chướng, thanh tịnh nghiệp.
b) Cả 2. Nhờ nương theo lời kinh mà có giác ngộ như pháp, từ đây trí tuệ phát sinh, trí tuệ như ngọn đèn, ngọn đèn thắp lên thì bóng tối tự mất, bặt dứt vô minh.
c) Giác ngộ chân thật trong Phật đạo chỉ do thấu suốt mà thành. Có giác ngộ, mới có chánh trí, có chánh trí mới tiêu tan nghiệp chướng.
14.
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
Nguyên văn đoạn kinh này nêu lên quá trình người thiện nam thiện nữ:
1- Khi được nghe kinh nầy mà PHÁT KHỞI TÂM ĐẠI HOAN HỶ rất hiếm có
2- Tự mình liền thọ trì, đọc tụng, viết chép, THEO ĐÚNG LÝ THUYẾT TU HÀNH
3- Lại hay khuyên người thọ trì, đọc tụng, viết chép, giải nói rộng ra, theo đúng lý thuyết tu hành, KHIẾN NGƯỜI NHỜ NĂNG LỰC CỦA KINH NẦY MÀ TU HÀNH ĐẮC ĐẠO
4- Lại hay PHÁT TÂM CỨU ĐỘ HẾT THẢY CHÚNG SANH thành tựu đại bi
5- Huân tập nhiều căn lành, diễn bày các pháp thanh tịnh thấm nhuần các chốn khô khan
6- Lại đen những phương pháp được được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui
7- Dần dần thấy được vượt lên ngôi PHÁP VÂN ĐỊA, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo.
Đọc kỹ đoạn Kinh sẽ thấy Kinh đang mô tả quy trình từ người Sơ phát tâm –> Tu hành để tự giác Ngộ -> Phát tâm đại bi -> Hành công hạnh Độ tha giúp người giác ngộ. Mà dần dần vượt lên ngôi Pháp vân địa.
“Dần dần thấy được” để chỉ việc trí tuệ viên mãn từ cạn tới sâu trong quá trình làm tự độ và độ tha.
15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
"
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Ý nghĩa đoạn kinh này để chỉ Bồ tát nương nơi Kinh này có thể giúp cho những kẻ phàm phu được chứng thánh quả, xa lìa sanh tử, an vui tự tại.
Con, Lý Thu Hằng - MB 0699" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
07/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


