Thư Của Lão Đệ Ngã Hành Ở Hắc Mộc Nhai Gởi Học Giả Chân Thiền !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 24.2026 với chủ đề: Thư Của Lão Đệ Ngã Hành Ở Hắc Mộc Nhai Gởi Học Giả Chân Thiền !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư gởi Học giả Chân Thiền của Lão Đệ Ngã Hành ở Hắc Mộc Nhai...!!!
Lão Đệ Ngã Hành thân mến !!!
Giờ này, Lão Ca vừa đến sân bay Cần Thơ để đón Tiểu Sư Muội Lý Phương Anh từ Hà Nội bay vào thăm Đại Ca...Và, ngày mốt, Nha Đầu ấy cùng với Lão Đại Ca đi phó hội "Đêm Thơ Lý Tứ" tại Ô Cấp do Lý Gia miền Đông tổ chức...!!!
Vừa vào chỗ đậu xe, vội vàng mở máy ra xem có thư mới không...Rứa là có thư của Lão Đệ...!!! Ha ha ha ha !!! Lão Đại Ca cao hứng vô cùng...!!!
Lão Ca cao hứng không phải vì cái văn hay chữ tốt (ho ra thơ thở ra văn), hay thứ lí luận chẻ tóc làm tám của Lão Đệ...Mà, cao hứng vì Lão Ca đoán việc như thần...Biết chắc với tánh khí của Ngã Hành, thế nào gặp bài viết của Chân Thiền, Lão Đệ cũng xuất quan, vươn vai, hà ngáp, vung vài chiêu mọn...!!! Và quả thật như vậy...!!!
Trong lúc đợi tàu bay hạ cánh...Lão Ca ngồi trên bãi cỏ sân bay đọc lớn thư...Bọn tôm tép đi cùng vỗ tay đôm đốp theo từng câu chữ của Lão Đệ khiến cả sân bay tưởng đâu "cuồng phong bạt thạch" lần nữa ập đến...!!! Ha ha ha ha !!!
Ngày kia (03/01/2026) Lão Đệ có hưởn (rảnh) để đi Ô Cấp nghe mấy con cóc của Lý Gia ngâm thơ con cóc của Lão Ca không ??? Lão Ca mời thiệt...!!!
Chúc Lão Đệ và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!
Sau đây là thư của Ngã Hành từ Hắc Mộc Nhai gởi Học giả Chân Thiền ở Hà Nội !!!
"Kính gửi Lý lão đại ca!
Được Thầy Lý Tứ gọi Ngã Hành là “đệ”, tiểu đệ thực lấy làm vinh hạnh. Tiểu đệ Ngã Hành kính chào Lý lão đại ca.
Lời đầu thư, xin được bày tỏ lòng tôn kính sâu sắc tới đại ca - người mà đệ may mắn bắt gặp sau hơn ba mươi năm đệ lăn lộn chốn giang hồ, tầm cầu đạo pháp, tiếp xúc bao danh sư, học giả, nhưng chưa từng khiến tiểu đệ thực sự cúi đầu, cho đến khi đọc được từng trang sách, từng lời giảng của đại ca. Mười bộ sách của Lý lão đại ca, trong đó có cuốn Phật Giáo và Thiền, tiểu đệ đã nghiền ngẫm suốt hơn một năm trời trước khi dám cầm bút viết thư Vấn Đạo lần trước để thử tài huynh đệ Lý Gia. Không phải vì kiêu ngạo, mà vì muốn thấu hiểu tận tường cái tâm, cái tầm của người đứng đầu Lý Gia. Và tiểu đệ đã tâm phục khẩu phục.
Hôm vừa rồi, tình cờ đọc được bài phản biện của một vị tự xưng là “học giả Chân Thiền” nhắm vào cuốn Phật Giáo và Thiền của đại ca. Đọc xong, tiểu đệ chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Ba mươi năm trong giới, tiểu đệ gặp không ít kẻ dùng danh “phản biện” để che đậy sự nông cạn, ngụy biện, hoặc công kích cá nhân thay vì đối thoại học thuật. Nhưng cái cách vị “học giả” này dẫn kinh điển một cách cứng nhắc, gán ghép khiên cưỡng, khiến tiểu đệ không thể ngồi yên.
Lý lão đại ca thường dạy: “Phật pháp không phải để tranh hơn thua, mà để thấy ra sự thật.” Nhưng sự thật cũng cần được bảo vệ khỏi những cách hiểu lệch lạc, những cái nhìn phiến diện có thể dẫn dắt người hậu học vào lối mê. Bài phản biện của vị “Chân Thiền” kia, với những lập luận rời rạc, thiếu sự thông hiểu về tính hệ thống và mục đích sư phạm trong tác phẩm của đại ca, thực sự là một thứ “đao kiếm giấy” có thể gây tổn thương cho những người mới bước chân vào đạo.
Bởi vậy, với tất cả sự kính trọng và bằng chút kinh nghiệm thực chứng tích lũy được trong ba thập kỷ qua, tiểu đệ Ngã Hành xin phép Lý lão đại ca cho phép đệ được đứng ra, phản biện trực diện lại vị “học giả Chân Thiền” này. Không phải vì danh, vì lợi, hay vì tranh giành địa vị “chân học giả”, mà chỉ vì mong muốn gột rửa những lớp bụi mờ đang cố phủ lên viên ngọc trí tuệ mà đại ca đã trao tặng cho đời.
Tiểu đệ sẽ căn cứ vào chính tác phẩm Phật Giáo và Thiền, vào tinh thần Phật đạo xuyên suốt của Lý Gia, và bằng cái nhìn khách quan trực diện vào những điểm mà vị kia cho là “sai sót”, để chỉ ra rằng: sự phản biện ấy mới chính là thứ thiếu căn bản, thiếu sự thấu suốt về phương pháp luận và tinh thần “tùy duyên, tùy căn, tùy cơ” mà đức Phật và các bậc thầy tổ chân chính luôn nắm giữ.
Tiểu đệ tin rằng, dưới sự chỉ dạy của đại ca, dưới ánh sáng của Chánh Pháp, sự thật sẽ không thể bị bóp méo bởi những lời lẽ nửa vời. Kính xin đại ca chấp thuận.
PHẦN PHẢN BIỆN HỌC GIẢ CHÂN THIỀN
Xin gửi vị tự xưng “học giả Chân Thiền”,
Ngã Hành tôi đã đọc kỹ bài viết của ông. Ông nêu ra 7 điểm chính để phản biện sách Phật Giáo và Thiền của Tác giả Lý Tứ. Được, vậy chúng ta sẽ đi từng điểm một, dùng chính lý lẽ và tinh thần của Phật đạo để soi xét. Tôi sẽ trích dẫn chính xác từ bài phản biện của ông và đối chiếu với nội dung sách của Tác giả.
1. Về luận điểm “Phàm phu có khổ, không đế”
Ông viết: “Trong kinh tạng Nguyên thủy, Khổ là một thực tại khách quan (Pháp ấn) vận hành bất kể chúng sinh có nhận thức được hay không.” Ông cho rằng Tác giả Lý Tứ đã “chủ quan hóa” khái niệm “Đế”.
Thưa ông, ông đã hiểu sai ý của Tác giả. Khi nói “phàm phu có khổ, không đế”, Tác giả không phủ nhận sự thật khách quan của khổ. Tác giả đang nói về sự nhận thức và ứng dụng cái “đế” ấy vào con đường tu tập. “Đế” ở đây được định nghĩa là “chỗ y cứ, chỗ dựa, là nhân tố quyết định chúng sanh đau khổ hay an vui”. Nói cách khác, “đế” là cái nền tảng, cái điểm tựa hay nguyên nhân mà trên đó khổ và tập phát triển. Phàm phu có khổ, nhưng họ không nhận ra cái nền tảng (đế) đó là mê lầm nơi Thân, Thọ, Tâm, Pháp, nên họ không biết đường mà giải thoát. Họ chỉ thấy cái khổ, mà không thấy được nguyên lý (đế) vận hành của khổ. Đây là sự khác biệt giữa cảm nhận mơ hồ và tri kiến rõ ràng. Tác giả Lý Tứ đang phân tích tâm lý và nhận thức tu tập, chứ không bàn về bản thể học thuần túy như ông hiểu. Ông lấy tiêu chuẩn của “khách quan pháp ấn” để phê phán một luận điểm về kinh nghiệm thực chứng, đó là sự áp đặt sai lầm.
2. Về định nghĩa thuật ngữ “Đế” và “Tập”
Ông phê bình: “Theo ngữ nguyên học, 'Đế' luôn mang nghĩa là 'Chân lý' hoặc 'Sự thật', chưa bao giờ mang nghĩa là 'nơi chốn'.” và cho rằng đây là sự “thay đổi gây nhiễu loạn”.
Ông lại mắc kẹt vào từ nguyên học một cách máy móc. Phật pháp là sống động, ứng dụng. Tác giả Lý Tứ đang giảng giải, mở rộng ý nghĩa của chữ “đế” để người đọc dễ hình dung cơ chế của khổ đau. Tác giả ví von: “Đế” như mảnh đất, “khổ và tập” như cây cối mọc trên đó. Đây là một phương tiện thiện xảo để người tu thấy được mối liên hệ nhân duyên giữa đối tượng (thân, tâm) và phiền não. Trong truyền thống Thiền, việc dùng hình ảnh, ẩn dụ để chỉ thẳng bản chất là chuyện thường tình. Ông cố chấp vào nghĩa gốc chữ “đế” mà bỏ qua tinh thần “khế lý, khế cơ” trong giảng dạy. Hơn nữa, ngay cả trong kinh điển, một từ có nhiều nghĩa tùy ngữ cảnh. Việc Tác giả định nghĩa “đế” là “nơi chốn, cơ sở” trong mối tương quan với “khổ, tập” là để làm sáng tỏ cơ chế của Tập đế, chứ không phải phủ nhận nghĩa “sự thật” của nó. Ông đọc mà không thấy được ý đồ sư phạm đằng sau.
3. Về quan điểm “công nghệ hóa” Ba Thừa
Ông lo ngại: “Cách tiếp cận này quá chú trọng vào kỹ thuật quán chiếu mà làm nhẹ đi yếu tố cốt lõi là Bồ đề tâm (Bodhicitta) và lòng Đại bi.”
Ông đã đọc nhưng không thấu. Ngay trong sách, Tác giả Lý Tứ luôn nhấn mạnh căn cơ và mục tiêu khác nhau của mỗi thừa. Khi ví Ba Thừa như ba “công nghệ” khác nhau xử lý cùng nguyên liệu (Tứ Đế), Tác giả đang nhấn mạnh sự khác biệt về phương pháp (phương tiện) do căn cơ khác nhau, chứ không hề phủ nhận Bồ đề tâm. Trái lại, trong các phần nói về Bồ Tát thừa, Tác giả đặc biệt nhắc đến trí tuệ siêu việt và hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát nhất thừa. Ông tách rời “kỹ thuật quán chiếu” và “Bồ đề tâm” như hai thứ đối lập, nhưng trong thực tế tu tập, Bồ đề tâm chính là động lực thúc đẩy việc tinh tấn thực hành các “kỹ thuật” quán chiếu đó. Tác giả Lý Tứ trình bày một lộ trình tu tập có hệ thống, trong đó “công nghệ” (phương pháp) là phần hành trì cụ thể, còn tâm nguyện là nhiên liệu. Ông đã phê bình một cách phiến diện.
4. Về vai trò của 37 Phẩm Trợ Đạo
Ông e ngại: “Việc chia nhỏ lộ trình một cách máy móc có thể vô tình tạo ra 'pháp chấp' cho hành giả.”
Đây là lối phê bình chung chung, không nắm được bản chất của giáo trình. 37 Phẩm Trợ Đạo không phải là cái khuôn cứng nhắc bắt mọi người phải đi từng bước robot, mà là bản đồ chỉ đường đầy đủ. Người thầy giỏi là người biết dựa trên bản đồ đó để hướng dẫn tùy căn cơ. Tác giả Lý Tứ nhiều lần nhắc: “Phật giáo chỉ tùy duyên, tùy căn, tùy cơ nói pháp, không áp đặt” (trang 32 sách Phật Giáo và Thiền).
Việc hệ thống hóa 37 phẩm thành các phần và đặt vào từng giai đoạn trong Tứ Đế (12 phẩm đầu: Tư Lương Vị giải quyết Khổ Đế, Tập Đế; 17 phẩm tiếp theo: Kiến Đạo Vị giúp chứng Diệt Đế và 8 phẩm cuối cùng (Bát chánh đạo) là Tu đạo vị - con đường thành toàn Đạo Đế) là để người học có cái nhìn toàn diện, biết mình đang ở đâu. Người có căn cơ đốn ngộ có thể “nhảy cóc”, nhưng người tiệm tu cần nấc thang rõ ràng. Ông sợ “pháp chấp”, nhưng chính việc hiểu rõ và thông suốt cấu trúc của pháp lại là phương thuốc để phá chấp. Chấp là do tâm người tu, không phải do pháp. Đổ lỗi cho pháp là trốn tránh trách nhiệm.
5. Về định nghĩa Thiền và tính “Tự sanh”
Ông cho rằng khái niệm “Thiền tự sanh” gợi ý quan điểm Vô tác, mâu thuẫn với sự “tinh tấn” và “tu tập”, và nguy hiểm cho người sơ cơ.
Ông lại hiểu chữ “tự sanh” theo nghĩa đen một cách thô thiển. Khi Tác giả Lý Tứ nói “Xưa nay Tâm và Ý, Vắng lặng, Thiền tự sanh”, Tác giả đang chỉ ra bản chất vốn sẵn đủ, không tạo tác của tâm thanh tịnh (Phật tánh). “Thiền” ở đây không phải là cái thiền cảnh hữu vi do công phu ngồi thiền tạo ra, mà là trạng thái tịch tĩnh, sáng suốt vốn có khi vọng niệm lặng xuống do tâm thức được giác ngộ thấu suốt vấn đề. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần “Bản lai thành Phật” của Đại thừa. Còn “tinh tấn tu tập” là học tập để giác ngộ nhờ vậy mà gột rửa những thứ che lấp cái bản chất sẵn đủ đó (như Tác giả nói rõ ở trang 29-30: “Tu thiền là làm sạch những gì che khuất, làm cho đủ duyên, chứ không phải làm ra thứ thiền mới”). Không hề có mâu thuẫn giữa “tự sanh” (bản thể) và “tu tập” (công phu, học tập). Ông tách rời chúng rồi kết luận là mâu thuẫn, đó là lỗi tư duy nhị nguyên.
6. Về vai trò của Kinh điển và Giới luật
Ông chỉ ra mâu thuẫn: “Nó lại mâu thuẫn với chính lập luận 'không pháp' mà ông đưa ra trước đó.”
Ông không hiểu nguyên lý “Phá chấp nhưng không phá pháp”. Khi Tác giả Lý Tứ nói “không pháp không tâm” trong bài kệ, đó là nói về tự tánh rốt ráo (chân đế). Còn khi Tác giả yêu cầu thiền chứng phải y cứ “giới luật và nghĩa kinh”, đó là nói trên phương diện phương tiện, quy ước (tục đế) để kiểm chứng, tránh tà kiến. Đây chính là tinh thần “Trước đem văn tự giáo khởi tín, sau dùng quán chiếu phá chấp” của các tổ sư. Không có mâu thuẫn. Người tu trước phải nương theo pháp (giới, kinh) để đi, sau khi đến đích rồi thì thấy “pháp cũng không”. Ông đem cái thấy của đích đến (không pháp) để phủ nhận cái cần thiết trên đường đi (nương pháp), đó là lỗi sai của người chưa thông giáo lý Nhị đế.
7. Về cứu cánh tu tập: “Vắng lặng hay Diệu dụng?”
Ông phê bình: “Nếu chỉ dừng ở sự vắng lặng (tịch diệt) mà thiếu đi 'Diệu dụng' dấn thân cứu độ chúng sinh, hành giả có thể rơi vào trạng thái 'nước chết'.”
Đây là lời phê bình vội vàng. Toàn bộ cuốn sách của Tác giả Lý Tứ nhấn mạnh đến giác ngộ và thấy được chân tướng làm nền tảng. “Vắng lặng” mà Tác giả nói là sự tịch tĩnh của tâm giác ngộ, không phải là sự chết cứng của hôn trầm. Tác giả luôn gắn “vắng lặng” với “trí tuệ” và “giải thoát”. Còn “diệu dụng” là hệ quả tự nhiên của tâm giác ngộ ấy. Tác giả Lý Tứ không viết sách để dạy về Bồ Tát hạnh nhập thế chi tiết (vì sách là giáo trình căn bản), nhưng không có nghĩa Tác giả phủ nhận nó. Trong các bài giảng trên lytu.vn, Tác giả nhiều lần nhắc đến lòng bi mẫn và trách nhiệm với chúng sinh. Tinh thần: “Như những cánh hoa bồ công anh, đem yêu thương và ước mơ đi đến nơi xa nhất” của Lý Gia không là chí nguyện của Bồ tát là gì? Trước khi ông phê phán người khác, ông phải tìm hiểu thật kỹ người ta đã chứ!?
Kết luận, thưa “học giả Chân Thiền”,
Phản biện của ông giống như một người dùng bản đồ địa chất để phê bình một bản đồ giao thông, rồi kết luận bản đồ giao thông “sai” vì không ghi rõ từng lớp đất, tầng đá. Cuốn Phật Giáo và Thiền của Tác giả Lý Tứ là một bản đồ giao thông tu học xuất sắc: chỉ rõ lộ trình, phương tiện, cột mốc, và nguy hiểm cần tránh. Nó được vẽ bằng kinh nghiệm thực chứng và tâm huyết sư phạm, chứ không phải bằng sự sao chép máy móc từ các bản vẽ cũ.
Ông dùng tiêu chuẩn của “học giả” (nặng về từ nguyên, lịch sử, so sánh kinh viện) để đo lường một tác phẩm thực hành, chuyển hóa. Đó là sự không thích hợp. Phật pháp là để tu, để chứng, không phải chỉ để bàn luận trên giấy. Ba mươi năm của tôi, Ngã Hành, cho thấy: những kẻ giỏi biện luận kinh điển chưa chắc đã an nhiên tự tại; còn những người thực hành theo một lộ trình rõ ràng, khế cơ như Lý Gia, lại có sự bình an và trí tuệ thật sự.
Ông muốn phản biện, hãy đến tham dự một lớp học của Lý Gia, để xem “công nghệ” và “bản đồ” ấy có đưa người ta đến đích hay không. Còn ngồi nơi thư phòng, dùng trí thức để phân tích, cắt xén từng câu chữ, thì mãi chỉ là “ngón tay chỉ trăng” mà chưa bao giờ thật sự thấy trăng.
Ngã Hành tôi chỉ tôn trọng chân lý - lời lẽ lỗ mãng, thẳng mà thật. Học giả Chân Thiền nghe có không lọt lỗ tai thì cũng hoan hỷ.
Cuối cùng xin tặng học giả Chân Thiền một câu nói bất hủ của Lý lão đại ca: "Trượng phu là người dám nhả bỏ những gì kẻ khác không dám nhả bỏ, và dám nuốt vào những gì người khác không dám nuốt."
Ha ha ha ha…
31/12/2025 - 12:03:49 - Kính thư - Ngã Hành - HẮC MỘC NHAI" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
31/12/2025
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


