Thư Của Lão Đệ Ngã Hành Ở Hắc Mộc Nhai Gởi Học Giả Chân Thiền !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 24.2026 với chủ đề: Thư Của Lão Đệ Ngã Hành Ở Hắc Mộc Nhai Gởi Học Giả Chân Thiền !!!

Tháng 12 31, 2025 - 19:55
 0  55
Thư Của Lão Đệ Ngã Hành Ở Hắc Mộc Nhai Gởi Học Giả Chân Thiền !!!

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được thư gởi Học giả Chân Thiền của Lão Đệ Ngã Hành ở Hắc Mộc Nhai...!!!

Lão Đệ Ngã Hành thân mến !!!

Giờ này, Lão Ca vừa đến sân bay Cần Thơ để đón Tiểu Sư Muội Lý Phương Anh từ Hà Nội bay vào thăm Đại Ca...Và, ngày mốt, Nha Đầu ấy cùng với Lão Đại Ca đi phó hội "Đêm Thơ Lý Tứ" tại Ô Cấp do Lý Gia miền Đông tổ chức...!!!

Vừa vào chỗ đậu xe, vội vàng mở máy ra xem có thư mới không...Rứa là có thư của Lão Đệ...!!! Ha ha ha ha !!! Lão Đại Ca cao hứng vô cùng...!!!

Lão Ca cao hứng không phải vì cái văn hay chữ tốt (ho ra thơ thở ra văn), hay thứ lí luận chẻ tóc làm tám của Lão Đệ...Mà, cao hứng vì Lão Ca đoán việc như thần...Biết chắc với tánh khí của Ngã Hành, thế nào gặp bài viết của Chân Thiền, Lão Đệ cũng xuất quan, vươn vai, hà ngáp, vung vài chiêu mọn...!!! Và quả thật như vậy...!!!

Trong lúc đợi tàu bay hạ cánh...Lão Ca ngồi trên bãi cỏ sân bay đọc lớn thư...Bọn tôm tép đi cùng vỗ tay đôm đốp theo từng câu chữ của Lão Đệ khiến cả sân bay tưởng đâu "cuồng phong bạt thạch" lần nữa ập đến...!!! Ha ha ha ha !!!

Ngày kia (03/01/2026) Lão Đệ có hưởn (rảnh) để đi Ô Cấp nghe mấy con cóc của Lý Gia ngâm thơ con cóc của Lão Ca không ??? Lão Ca mời thiệt...!!!

Chúc Lão Đệ và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Sau đây là thư của Ngã Hành từ Hắc Mộc Nhai gởi Học giả Chân Thiền ở Hà Nội !!!

"Kính gửi Lý lão đại ca!

Được Thầy Lý Tứ gọi Ngã Hành là “đệ”, tiểu đệ thực lấy làm vinh hạnh. Tiểu đệ Ngã Hành kính chào Lý lão đại ca.

Lời đầu thư, xin được bày tỏ lòng tôn kính sâu sắc tới đại ca - người mà đệ may mắn bắt gặp sau hơn ba mươi năm đệ lăn lộn chốn giang hồ, tầm cầu đạo pháp, tiếp xúc bao danh sư, học giả, nhưng chưa từng khiến tiểu đệ thực sự cúi đầu, cho đến khi đọc được từng trang sách, từng lời giảng của đại ca. Mười bộ sách của Lý lão đại ca, trong đó có cuốn Phật Giáo và Thiền, tiểu đệ đã nghiền ngẫm suốt hơn một năm trời trước khi dám cầm bút viết thư Vấn Đạo lần trước để thử tài huynh đệ Lý Gia. Không phải vì kiêu ngạo, mà vì muốn thấu hiểu tận tường cái tâm, cái tầm của người đứng đầu Lý Gia. Và tiểu đệ đã tâm phục khẩu phục.

Hôm vừa rồi, tình cờ đọc được bài phản biện của một vị tự xưng là “học giả Chân Thiền” nhắm vào cuốn Phật Giáo và Thiền của đại ca. Đọc xong, tiểu đệ chỉ biết lắc đầu ngao ngán. Ba mươi năm trong giới, tiểu đệ gặp không ít kẻ dùng danh “phản biện” để che đậy sự nông cạn, ngụy biện, hoặc công kích cá nhân thay vì đối thoại học thuật. Nhưng cái cách vị “học giả” này dẫn kinh điển một cách cứng nhắc, gán ghép khiên cưỡng, khiến tiểu đệ không thể ngồi yên.

Lý lão đại ca thường dạy: “Phật pháp không phải để tranh hơn thua, mà để thấy ra sự thật.” Nhưng sự thật cũng cần được bảo vệ khỏi những cách hiểu lệch lạc, những cái nhìn phiến diện có thể dẫn dắt người hậu học vào lối mê. Bài phản biện của vị “Chân Thiền” kia, với những lập luận rời rạc, thiếu sự thông hiểu về tính hệ thống và mục đích sư phạm trong tác phẩm của đại ca, thực sự là một thứ “đao kiếm giấy” có thể gây tổn thương cho những người mới bước chân vào đạo.

Bởi vậy, với tất cả sự kính trọng và bằng chút kinh nghiệm thực chứng tích lũy được trong ba thập kỷ qua, tiểu đệ Ngã Hành xin phép Lý lão đại ca cho phép đệ được đứng ra, phản biện trực diện lại vị “học giả Chân Thiền” này. Không phải vì danh, vì lợi, hay vì tranh giành địa vị “chân học giả”, mà chỉ vì mong muốn gột rửa những lớp bụi mờ đang cố phủ lên viên ngọc trí tuệ mà đại ca đã trao tặng cho đời.

Tiểu đệ sẽ căn cứ vào chính tác phẩm Phật Giáo và Thiền, vào tinh thần Phật đạo xuyên suốt của Lý Gia, và bằng cái nhìn khách quan trực diện vào những điểm mà vị kia cho là “sai sót”, để chỉ ra rằng: sự phản biện ấy mới chính là thứ thiếu căn bản, thiếu sự thấu suốt về phương pháp luận và tinh thần “tùy duyên, tùy căn, tùy cơ” mà đức Phật và các bậc thầy tổ chân chính luôn nắm giữ.

Tiểu đệ tin rằng, dưới sự chỉ dạy của đại ca, dưới ánh sáng của Chánh Pháp, sự thật sẽ không thể bị bóp méo bởi những lời lẽ nửa vời. Kính xin đại ca chấp thuận.

PHẦN PHẢN BIỆN HỌC GIẢ CHÂN THIỀN

Xin gửi vị tự xưng “học giả Chân Thiền”,

Ngã Hành tôi đã đọc kỹ bài viết của ông. Ông nêu ra 7 điểm chính để phản biện sách Phật Giáo và Thiền của Tác giả Lý Tứ. Được, vậy chúng ta sẽ đi từng điểm một, dùng chính lý lẽ và tinh thần của Phật đạo để soi xét. Tôi sẽ trích dẫn chính xác từ bài phản biện của ông và đối chiếu với nội dung sách của Tác giả.

1. Về luận điểm “Phàm phu có khổ, không đế”

Ông viết: “Trong kinh tạng Nguyên thủy, Khổ là một thực tại khách quan (Pháp ấn) vận hành bất kể chúng sinh có nhận thức được hay không.” Ông cho rằng Tác giả Lý Tứ đã “chủ quan hóa” khái niệm “Đế”.

Thưa ông, ông đã hiểu sai ý của Tác giả. Khi nói “phàm phu có khổ, không đế”, Tác giả không phủ nhận sự thật khách quan của khổ. Tác giả đang nói về sự nhận thức và ứng dụng cái “đế” ấy vào con đường tu tập. “Đế” ở đây được định nghĩa là “chỗ y cứ, chỗ dựa, là nhân tố quyết định chúng sanh đau khổ hay an vui”. Nói cách khác, “đế” là cái nền tảng, cái điểm tựa hay nguyên nhân mà trên đó khổ và tập phát triển. Phàm phu có khổ, nhưng họ không nhận ra cái nền tảng (đế) đó là mê lầm nơi Thân, Thọ, Tâm, Pháp, nên họ không biết đường mà giải thoát. Họ chỉ thấy cái khổ, mà không thấy được nguyên lý (đế) vận hành của khổ. Đây là sự khác biệt giữa cảm nhận mơ hồ và tri kiến rõ ràng. Tác giả Lý Tứ đang phân tích tâm lý và nhận thức tu tập, chứ không bàn về bản thể học thuần túy như ông hiểu. Ông lấy tiêu chuẩn của “khách quan pháp ấn” để phê phán một luận điểm về kinh nghiệm thực chứng, đó là sự áp đặt sai lầm.

2. Về định nghĩa thuật ngữ “Đế” và “Tập”

Ông phê bình: “Theo ngữ nguyên học, 'Đế' luôn mang nghĩa là 'Chân lý' hoặc 'Sự thật', chưa bao giờ mang nghĩa là 'nơi chốn'.” và cho rằng đây là sự “thay đổi gây nhiễu loạn”.

Ông lại mắc kẹt vào từ nguyên học một cách máy móc. Phật pháp là sống động, ứng dụng. Tác giả Lý Tứ đang giảng giải, mở rộng ý nghĩa của chữ “đế” để người đọc dễ hình dung cơ chế của khổ đau. Tác giả ví von: “Đế” như mảnh đất, “khổ và tập” như cây cối mọc trên đó. Đây là một phương tiện thiện xảo để người tu thấy được mối liên hệ nhân duyên giữa đối tượng (thân, tâm) và phiền não. Trong truyền thống Thiền, việc dùng hình ảnh, ẩn dụ để chỉ thẳng bản chất là chuyện thường tình. Ông cố chấp vào nghĩa gốc chữ “đế” mà bỏ qua tinh thần “khế lý, khế cơ” trong giảng dạy. Hơn nữa, ngay cả trong kinh điển, một từ có nhiều nghĩa tùy ngữ cảnh. Việc Tác giả định nghĩa “đế” là “nơi chốn, cơ sở” trong mối tương quan với “khổ, tập” là để làm sáng tỏ cơ chế của Tập đế, chứ không phải phủ nhận nghĩa “sự thật” của nó. Ông đọc mà không thấy được ý đồ sư phạm đằng sau.

3. Về quan điểm “công nghệ hóa” Ba Thừa

Ông lo ngại: “Cách tiếp cận này quá chú trọng vào kỹ thuật quán chiếu mà làm nhẹ đi yếu tố cốt lõi là Bồ đề tâm (Bodhicitta) và lòng Đại bi.”

Ông đã đọc nhưng không thấu. Ngay trong sách, Tác giả Lý Tứ luôn nhấn mạnh căn cơ và mục tiêu khác nhau của mỗi thừa. Khi ví Ba Thừa như ba “công nghệ” khác nhau xử lý cùng nguyên liệu (Tứ Đế), Tác giả đang nhấn mạnh sự khác biệt về phương pháp (phương tiện) do căn cơ khác nhau, chứ không hề phủ nhận Bồ đề tâm. Trái lại, trong các phần nói về Bồ Tát thừa, Tác giả đặc biệt nhắc đến trí tuệ siêu việt và hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát nhất thừa. Ông tách rời “kỹ thuật quán chiếu” và “Bồ đề tâm” như hai thứ đối lập, nhưng trong thực tế tu tập, Bồ đề tâm chính là động lực thúc đẩy việc tinh tấn thực hành các “kỹ thuật” quán chiếu đó. Tác giả Lý Tứ trình bày một lộ trình tu tập có hệ thống, trong đó “công nghệ” (phương pháp) là phần hành trì cụ thể, còn tâm nguyện là nhiên liệu. Ông đã phê bình một cách phiến diện.

4. Về vai trò của 37 Phẩm Trợ Đạo

Ông e ngại: “Việc chia nhỏ lộ trình một cách máy móc có thể vô tình tạo ra 'pháp chấp' cho hành giả.”

Đây là lối phê bình chung chung, không nắm được bản chất của giáo trình. 37 Phẩm Trợ Đạo không phải là cái khuôn cứng nhắc bắt mọi người phải đi từng bước robot, mà là bản đồ chỉ đường đầy đủ. Người thầy giỏi là người biết dựa trên bản đồ đó để hướng dẫn tùy căn cơ. Tác giả Lý Tứ nhiều lần nhắc: “Phật giáo chỉ tùy duyên, tùy căn, tùy cơ nói pháp, không áp đặt” (trang 32 sách Phật Giáo và Thiền).

Việc hệ thống hóa 37 phẩm thành các phần và đặt vào từng giai đoạn trong Tứ Đế (12 phẩm đầu: Tư Lương Vị giải quyết Khổ Đế, Tập Đế; 17 phẩm tiếp theo: Kiến Đạo Vị giúp chứng Diệt Đế và 8 phẩm cuối cùng (Bát chánh đạo) là Tu đạo vị - con đường thành toàn Đạo Đế) là để người học có cái nhìn toàn diện, biết mình đang ở đâu. Người có căn cơ đốn ngộ có thể “nhảy cóc”, nhưng người tiệm tu cần nấc thang rõ ràng. Ông sợ “pháp chấp”, nhưng chính việc hiểu rõ và thông suốt cấu trúc của pháp lại là phương thuốc để phá chấp. Chp là do tâm người tu, không phi do pháp. Đổ li cho pháp là trn tránh trách nhim.

5. V định nghĩa Thin và tính “T sanh”


Ông cho rng khái nim “Thin t sanh” gi ý quan đim Vô tác, mâu thun vi s “tinh tn” và “tu tp”, và nguy him cho người sơ cơ.


Ông li hiu ch “t sanh” theo nghĩa đen mt cách thô thin. Khi Tác gi Lý T nói “Xưa nay Tâm và Ý, Vng lng, Thin t sanh”, Tác gi đang ch ra bn cht vn sn đủ, không to tác ca tâm thanh tnh (Pht tánh). “Thin” đây không phi là cái thin cnh hu vi do công phu ngi thin to ra, mà là trng thái tch tĩnh, sáng sut vn có khi vng nim lng xung do tâm thc được giác ng thu sut vn đề. Điu này hoàn toàn phù hp vi tinh thn “Bn lai thành Pht” ca Đại tha. Còn “tinh tn tu tp” là hc tp để giác ng nh vy mà gt ra nhng th che lp cái bn cht sn đủ đó (như Tác gi nói rõ trang 29-30: “Tu thin là làm sch nhng gì che khut, làm cho đủ duyên, ch không phi làm ra th thin mi”). Không h có mâu thun gia “t sanh” (bn th) và “tu tp” (công phu, hc tp). Ông tách ri chúng ri kết lun là mâu thun, đó là li tư duy nh nguyên.


6. V vai trò ca Kinh đin và Gii lut


Ông ch ra mâu thun: “Nó li mâu thun vi chính lp lun 'không pháp' mà ông đưa ra trước đó.”


Ông không hiu nguyên lý “Phá chp nhưng không phá pháp”. Khi Tác gi Lý T nói “không pháp không tâm” trong bài k, đó là nói v t tánh rt ráo (chân đế). Còn khi Tác gi yêu cu thin chng phi y c “gii lut và nghĩa kinh”, đó là nói trên phương din phương tin, quy ước (tc đế) để kim chng, tránh tà kiến. Đây chính là tinh thn “Trước đem văn t giáo khi tín, sau dùng quán chiếu phá chp” ca các t sư. Không có mâu thun. Người tu trước phi nương theo pháp (gii, kinh) để đi, sau khi đến đích ri thì thy “pháp cũng không”. Ông đem cái thy ca đích đến (không pháp) để ph nhn cái cn thiết trên đường đi (nương pháp), đó là li sai ca người chưa thông giáo lý Nh đế.


7. V cu cánh tu tp: “Vng lng hay Diu dng?”


Ông phê bình: “Nếu ch dng s vng lng (tch dit) mà thiếu đi 'Diu dng' dn thân cu độ chúng sinh, hành gi có th rơi vào trng thái 'nước chết'.”


Đây là li phê bình vi vàng. Toàn b cun sách ca Tác gi Lý T nhn mnh đến giác ng và thy được chân tướng làm nn tng. “Vng lng” mà Tác gi nói là s tch tĩnh ca tâm giác ng, không phi là s chết cng ca hôn trm. Tác gi luôn gn “vng lng” vi “trí tu” và “gii thoát”. Còn “diu dng” là h qu t nhiên ca tâm giác ng y. Tác gi Lý T không viết sách để dy v B Tát hnh nhp thế chi tiết (vì sách là giáo trình căn bn), nhưng không có nghĩa Tác gi ph nhn nó. Trong các bài ging trên lytu.vn, Tác gi nhiu ln nhc đến lòng bi mn và trách nhim vi chúng sinh. Tinh thn: “Như nhng cánh hoa b công anh, đem yêu thương và ước mơ đi đến nơi xa nht” ca Lý Gia không là chí nguyn ca B tát là gì? Trước khi ông phê phán người khác, ông phi tìm hiu tht k người ta đã ch!?

Kết lun, thưa “hc gi Chân Thin”,


Phn bin ca ông ging như mt người dùng bn đồ địa cht để phê bình mt bn đồ giao thông, ri kết lun bn đồ giao thông “sai” vì không ghi rõ tng lp đất, tng đá. Cun Pht Giáo và Thin ca Tác gi Lý T là mt bn đồ giao thông tu hc xut sc: ch rõ l trình, phương tin, ct mc, và nguy him cn tránh. Nó được v bng kinh nghim thc chng và tâm huyết sư phm, ch không phi bng s sao chép máy móc t các bn v cũ.


Ông dùng tiêu chun ca “hc gi” (nng v t nguyên, lch s, so sánh kinh vin) để đo lường mt tác phm thc hành, chuyn hóa. Đó là s không thích hp. Pht pháp là để tu, để chng, không phi ch để bàn lun trên giy. Ba mươi năm ca tôi, Ngã Hành, cho thy: nhng k gii bin lun kinh đin chưa chc đã an nhiên t ti; còn nhng người thc hành theo mt l trình rõ ràng, khế cơ như Lý Gia, li có s bình an và trí tu tht s.


Ông mun phn bin, hãy đến tham d mt lp hc ca Lý Gia, để xem “công ngh” và “bn đồy có đưa người ta đến đích hay không. Còn ngi nơi thư phòng, dùng trí thc để phân tích, ct xén tng câu ch, thì mãi ch là “ngón tay ch trăng” mà chưa bao gi tht s thy trăng.


Ngã Hành tôi ch tôn trng chân lý - li l l mãng, thng mà tht. Hc gi Chân Thin nghe có không lt l tai thì cũng hoan h.


Cui cùng xin tng hc gi Chân Thin mt câu nói bt h ca Lý lão đại ca: "Trượng phu là người dám nh b nhng gì k khác không dám nh b, và dám nut vào nhng gì người khác không dám nut."


Ha ha ha ha…
31/12/2025 - 12:03:49 - Kính thư - Ngã Hành - HC MC NHAI" (Hết thư)


Rt mong nhn được nhng câu hi lí thú, b ích t mi người...!!!


- Các bn có th gi câu hi theo đường link sau: 
https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoc đặt câu hi trc tiếp t Website 
LyTu.Vn

31/12/2025
LÝ T

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow