Cảm Nhận Chữ "Đế" Trong "Phật Giáo Và Thiền" - Trí Minh

Cảm Nhận Chữ "Đế" Trong "Phật Giáo Và Thiền" - Trí Minh

Khi đọc cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN người đọc sẽ thấy những đoạn trích dẫn, in đậm và lặp đi, lặp lại nhiều lần, bởi ý nghĩa sâu thẳm trong từng chữ, từng câu và từng đoạn…như sau:

Phật dạy: “Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật. Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế.

Hàng phàm phu có tập không có đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế. Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế.

Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có diệt có chơn.

Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có đạo có chơn.” (Trích kinh Hoa Nghiêm – HT Thích Trí Tịnh dịch)

Chữ “ĐẾ” trong đoạn kinh (nêu trên); trong cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN được xuất hiện rất nhiều lần bởi ý nghĩa đặc biệt của nó…

Có thể nói “Thấu chữ ĐẾ đến đâu, thấu Phật đạo đến đó”! Không hiểu hoặc hiểu sai chữ ĐẾ thì đó, chính là “KHỔ ĐẾ”!

Chữ “ĐẾ” trong Phật đạo, tưởng chừng như khó khăn, làm đau đầu nhiều người từ trước đến nay, như vòng xoáy nhấn chìm tất cả những ai tu hành, mà còn hiểu sai chữ “ĐẾ”. May thay! Vấn nạn này, đã được tác giả LÝ TỨ khai thông bế tắc! Xứng danh với lòng tôn kính của những người giác ngộ xưng tán “Lý viên dung Diệu Pháp; Tứ thâm đạt Tâm tông”!

Đối với tác giả, mọi vấn đề đưa ra trong cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN đều được cắt nghĩa rõ ràng, giảng giải thấu thoát, biện tài vô ngại, như bàn về “Trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay” nhờ vậy mà, cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN đã đưa người đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, nhất là khi (tâm người đọc) bắt gặp cảnh giới tương ưng với những lời khai thị bát nhã, khai mở tâm trí, của đạo xuất thế.

Thực tế chứng minh, nhiều người nhờ đọc, tu học theo cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN mà đã vào được cảnh giới sơ ngộ… không nhọc công tốn sức, hỷ lạc xuất hiện, khinh an trong lòng, quả là DIỆU PHÁP.

Bàn về chữ “ĐẾ”, tác giả viết:
“Bốn đế là: Khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Tại sao không đặt tên bốn món là khổ tập diệt đạo, mà phải thêm ĐẾ vào?”

Câu hỏi này chính là những khái niệm đầu tiên cần thấu suốt để làm cơ sở đi sâu vào bốn đế. Bởi lẽ, nếu chỉ nói có bốn danh tự khổ, tập, diệt, đạo mà không nói đến ĐẾ, thì bốn danh tự kia chỉ có tên gọi mà không có thực thể.

Tiếng khổ là “sự cọ xát của môi lưỡi răng họng… Và hơi phóng ra…,” tự thân danh tự này không khổ và cũng không có tính chất của khổ. Nếu chỉ nói riêng danh tự khổ, như tử khổ chẳng hạn, thì hằng ngày biết bao nhiêu người chết, tuy vậy không phải mọi người đều khổ vì danh tự chết kia. Thực tế chỉ những cá nhân nào liên quan đến cái chết nói trên, mới cảm nhận có khổ. Những người không khổ hay không thấy khổ chỉ vì không có mối liên hệ nào hoặc chưa dự phần vào tử sự. Sự không liên hệ này Phật giáo gọi là không có ĐẾ.

Từ nơi một pháp, chúng sanh không thấy khổ vì pháp này không có ĐẾ, tức nơi thân tâm không có mối liên hệ đến pháp kia (như con nít không biết hiểm nguy của cọp dữ, trẻ nhỏ vui đùa trong nhà lửa).

Sở dĩ chúng sanh có khổ bởi thân tâm có chủng tử sinh khổ, chủng tử sinh khổ này là những món như: Tham, dục, ái, vô minh. Ví dụ: Ái biệt ly khổ, bản chất biệt ly chưa phải là nguyên nhân sinh khổ, bao giờ biệt ly này có ÁI, thì ái mới là nguyên nhân làm cho biệt ly sinh khổ. Sự liên hệ này Phật giáo gọi là ĐẾ.

Do đó, ĐẾ là mối liên hệ, chỗ y cứ, là chỗ dựa, là nhân tố quyết định chúng sanh đau khổ hay an vui. Nếu tự thân hoặc quyến thuộc chết thấy có khổ, là bởi vì khổ này có ĐẾ, tức trong tâm còn mối liên hệ của ái, dục, tham luyến.

Như vậy có thể khái niệm ĐẾ là chỗ y cứ, chỗ dựa nương để KHỔ và TẬP phát triển, giống như đất là nơi chốn để hữu tình vô tình nương cậy phát sinh. Nếu hữu tình vô tình không nương nơi đất để sinh tồn thì hữu tình vô tình tự diệt.

Thì cũng vậy, KHỔ và TẬP đều nương nơi ĐẾ để phát triển, ví như phiền não sanh tử nương nơi kiết sử mà hiện, kiết sử nương nơi thân tâm mà trú, nếu không có Thân Thọ Tâm Pháp thì kiết sử y vào đâu để KIẾT và SỬ; hoặc ví dụ như ma quỷ và nỗi sợ hãi nương nơi bóng tối mà hình thành, nếu bóng tối trở thành ánh sáng thì ma quỷ và nỗi sợ hãi ma quỷ không xuất hiện.

Như vậy có thể kết luận sanh tử phiền não là KHỔ, mê lầm, kiết sử là TẬP, thân thọ tâm pháp là ĐẾ. Nếu tu tập yểm ly thân thọ tâm pháp đến rốt ráo thì tập khởi sẽ không còn, tập khởi không còn thì khổ đau chấm dứt.
Thân tâm thoát ly khỏi khổ đau và mọi nguyên nhân sanh khởi chấm dứt gọi là giải thoát. Đây là phương tiện tu hành và cách nhìn nhận vấn đề cốt tuỷ của Thanh Văn thừa gọi là tứ thánh đế.

Nhu cầu của Thanh Văn là giải thoát, cho nên việc yểm ly để giải thoát theo đúng quy trình bốn đế được Thanh Văn thực hiện nghiêm ngặt.

Cắt ái ly gia để yểm ly ái cộng nghiệp ta quen gọi là xuất thế tục gia.

Thọ nhận giới cụ túc để viên mãn yểm ly năm ấm gọi là xuất ngũ ấm gia.

Tìm nơi thanh vắng tu hành hộ trì các căn thoát ly khỏi trói buộc năm dục đối với năm căn để ra khỏi dục giới, thăng tiến vượt qua cảm thọ và giác quán gọi là xuất ly sắc giới.

Phân chia ý thức đến tột bờ mé vượt qua các tưởng ra khỏi vô sắc giới gọi là xuất tam giới gia.

Nhất tâm thiền định diệt trừ cảm thọ và giác tưởng cuối cùng, rốt ráo giải thoát vào Diệt Thọ Tưởng định hoàn thành sứ mạng tu hành.

Ở đây có người cho rằng giai đoạn thứ hai là xuất phiền não gia; điều này không hợp lý, bởi lẽ phiền não chỉ là hiệu ứng của vô minh. Vô minh chưa dứt nên vọng sinh phiền não, giống như con mắt bệnh phát sinh hoa đốm, không ai đi diệt hoa đốm. Người trí chỉ nên chữa lành con mắt thì hoa đốm tự diệt. Vì thế yểm ly ngũ ấm là việc làm cần thiết để vô minh tiêu trừ, vô minh tiêu trừ phiền não tự diệt.

Cũng là những căn bản này nhưng Bồ Tát có cách nhìn nhận vấn đề khác hơn. Thân thọ tâm pháp sở dĩ là nền tảng để tham sân hiện khởi chỉ vì tâm mê bốn món này.

Vì bởi một khi đã mê muội thì người ta sẽ lầm tính chất và giá trị của nó, giống như trẻ con chơi trò chiến tranh. Những chiến binh và vũ khí của đám trẻ chưa từng là chiến binh và vũ khí. Cũng chẳng có sự chết chóc do vũ khí gây nên, cũng như chẳng có sự hơn thua trong cuộc chiến tưởng tượng này, nhưng khi đã lao vào cuộc chơi thì buồn vui đau khổ được thể hiện như thật. Hoặc ví như ảo sư chặt đầu ảo nhân, ở đây không hề có các giá trị đích thực, chỉ vì mê muội trong các sự việc trên mà lầm nhận in tuồng có tích chứa các giá trị không thực kia rồi phát sanh phiền não.

Bồ Tát nhìn nhận giá trị thực của bốn niệm xứ bổn lai thanh tịnh nên hết mê. Hết mê thân thọ tâm pháp thì vọng tưởng không phát sanh, vọng tưởng không phát sanh ngay đấy chân giá trị của bốn niệm xứ xuất hiện đó là sự tự tịnh của bốn món. Thấy được ý nghĩa này Bồ Tát không vọng cầu, không mê muội, bây giờ các ĐẾ trở về bổn chơn gọi là chơn đế. Một khi bốn đế đã chơn thì khổ và tập tự chơn, ngay đây là Niết Bàn an tịnh.

Như vậy, ta đã xét KHỔ và chỗ dựa nương của khổ là ĐẾ, nếu khổ không có đế thì khổ không thể là khổ, khổ bây giờ chỉ còn là văn tự, kinh dạy: Tiếng khổ chỉ là âm thanh cộng hưởng giữa môi lưỡi răng họng cằm nướu và hơi phát ra, không có thực thể.”

Đối với người đọc, nếu khéo vận dụng vào tu học thì chỉ một câu kết luận của tác giả thôi, cũng phát sinh bao điều lợi lạc, ví dụ:

“Như vậy có thể kết luận sanh tử phiền não là KHỔ, mê lầm, kiết sử là TẬP, thân thọ tâm pháp là ĐẾ.”

Bởi mê lầm bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà chúng sanh đau khổ. Muốn hết mê lầm phải giác ngộ, “ĐẾ” là chìa khóa để mở ra cánh cửa giác ngộ, nhưng có một điều đặc biệt là những ai lấy công nghệ xử lý đầu vào trên THÂN (lấy thân làm đế) để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Thanh văn; ai lấy công nghệ xử lý trên THỌ để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Duyên giác; ai lấy công nghệ xử lý trên TÂM để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát; ai lấy công nghệ xử lý trên PHÁP để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát nhất thừa.

Tứ niệm xứ, là NIỆM trên bốn chỗ “ĐẾ” Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Tại mỗi chỗ, người tu hành trong Phật đạo gửi gắm vào đây sự nhớ nghĩ, tư duy quán chiếu của mình, dùng sức giác tác động vào tâm ý nhằm thay đổi sự nhận thức mê lầm của tâm trên 4 “ĐẾ” (gọi là giác ngộ), từ đó nhận ra cho được cách giải thoát, khỏi sự trói buộc trên từng “ĐẾ”.

Khi chọn một “ĐẾ” làm món chính, thì ba món còn lại là pháp hỗ trợ cho pháp tu chính; điều này thực hiện được, bởi bốn món có quan hệ chặt chẽ, mật thiết và ràng buộc lẫn nhau, có thể gọi đó là công nghệ xử lý cho ra sản phẩm 4 trong 1.

Tại phần VI: CHÁNH KIẾN, tác giả lại nâng nhãn lực lên một cấp độ cao hơn.

“Chánh kiến là sự thấy biết đúng đắn làm cơ sở quyết định lựa chọn phương tiện phù hợp.

Tứ diệu đế được coi là công thức giải bài toán khổ thì 37 phẩm là phần ứng dụng công thức để cho ra kết quả diệt khổ và đế là những ẩn số.

Ẩn số x y được thay bằng thân, thọ, tâm, pháp. X y chỉ ra cái gì là khổ niệm xứ và phương thức giải quyết x y.
Niệm xứ gọi là đế, tức là dựa trên nguyên lý cái gì kiết sử nương vào để làm khổ đau thì giải quyết tận gốc cái đó. Bốn món thân, thọ, tâm, pháp là mảnh đất để kiết sử dựa vào làm nhân sinh khổ.

Mỗi thừa thấy nhân sinh khổ khác nhau, vì thế ba thừa ra đời và mỗi thừa giải quyết tận gốc một căn nguyên sinh khổ. Khi căn nguyên đã diệt thì thứ nguyên tự diệt. Giống như rễ cái của một gốc cây đã bị chặt đứt thì rễ con không thể giữ vững và chỉ cần một tác động nhỏ nhất định thân cây ngã đổ.

Thân, thọ, tâm, pháp chính là bốn chiếc rễ cái. Khi niệm xứ này là rễ cái thì ba món còn lại sẽ là rễ phụ. Mỗi thừa tìm cách diệt chiếc rễ cái của mình thì cây đại thụ khổ não không còn.

Chánh kiến chính là nhắm thẳng vào niệm xứ chính và đề ra phương cách giải quyết. Phương cách giải quyết là tổng thể 37 phẩm trợ đạo, tức là toàn bộ hệ thống kinh điển cho một thừa. Mỗi thừa trên con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề có nhiều địa vị, mỗi địa vị lại có một nhận thức mới về nguyên nhân sanh khổ và bây giờ chánh kiến lại phải thay đổi.

Cứ như vậy Phật tri kiến là chánh kiến cuối cùng của người tu hành, nên Phật giáo mới có tục đế, thánh đế, chân đế, và chân. Chân tức là sự thật này không dựa vào một cái gì hết, có nghĩa tự chân hay còn gọi là thiệt tướng.”

Chữ “ĐẾ” của tác giả Lý Tứ được hiển bày như viên ngọc quý trong vô số của quý nằm trong kho báu “PHẬT GIÁO VÀ THIỀN”. Thấu suốt mỗi chữ “ĐẾ” cũng có thể để xưng tán là “Thiên Nhân Sư”

Thấu suốt chữ “ĐẾ”; có thể xưng “VƯƠNG”; Chẳng “ĐẾ” chẳng “VƯƠNG”; Diệu Hương lan tỏa.
Kính mong người tu học sớm có được kho báu “PHẬT GIÁO VÀ THIỀN” để cứu mình và giúp người Giác ngộ, Giải thoát và có Trí tuệ.

Xin kính lễ tác giả LÝ TỨ!!!
TRÍ MINH