Học Trò Lý Gia Trả Lời Thư Bạn Đọc Ngã Hành !!!

Sau đây, Lý Tứ xin đăng nguyên văn thư trả lời của Lý Phương Anh, có thể coi là đại diện môn đệ Lý Gia trả lời các câu hỏi, theo đề nghị của độc giả Ngã Hành...!!!

Tháng 5 21, 2026 - 21:13
 0  2
Học Trò Lý Gia Trả Lời Thư Bạn Đọc Ngã Hành !!!

Các bạn !!!

“Đến hẹn lại lên”...!!! Như vậy là, như những gì đã hứa trong chuyên mục 62/2025 về đề nghị của độc giả Ngã Hành... Sau 48 giờ gởi câu hỏi đi, Lý Tứ đã nhận về 18 thư trả lời của Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia...!!! Đó là trả lời của: Lý Diệu Tâm (MB0465); Lý Thái Đăng (TN0147); Lý Ngọc Hỷ (TN0189); Lý Hoàng Anh (EU1578); Lý Diệu Âm (MB572); Lý Phương Anh (MB424); Lý Tự Như (MB1700); Lý Hiền Long (MĐ863); Lý Minh Thuỳ (MĐ0180); Lý Thu Thuỷ (MĐ0665); Lý Diệu Sinh (MB 0857); Lý Đạt Thịnh (MĐ1138); Lý Minh Tuân (MB1349); Lý Thanh Liêm (MN0102); Lý Minh Vượng (MB1836); Lý Ngọc Linh (MB721); Lý Thiện Huệ (MN120); Lý Mai Phương (EU2190)...!!!

Thật ra, hầu hết HĐ Lý Gia thuộc thế hệ 8X, 9X, 10X... lứa tuổi của học tập và lao động... Và, 48 giờ qua lại là thời gian đầu tuần nên tất cả đều bận rộn... Thậm chí, có rất rất nhiều HĐ chưa đọc được bài viết...!!! Tuy vậy, một số HĐ chúng ta cũng đã rất nỗ lực, dành thời gian ít ỏi để trả lời câu hỏi...!!! Trong 18 thư của HĐ, hầu như tất cả đều trả lời thông suốt, chỉ khác nhau ở cách hành văn, đặt vấn đề...!!! Lý Tứ xin tán thán sức thông đạt, tinh tấn, vượt khó của tất cả Các bạn !!!

Theo đánh giá của mình, tất cả những câu hỏi của độc giả Ngã Hành không thể làm khó được HĐ Lý Gia... Vì rằng, với chương trình giảng dạy hiện tại của chúng ta, chỉ cần HĐ học qua các lớp Nhập Môn và Căn Bản là đã giải quyết rốt ráo những gì độc giả Ngã Hành thắc mắc...!!! Điều này, HĐ Lý Tự Như viết như sau:

“Thưa Thầy, con xong được 5 câu rồi ạ. Còn 2 câu nữa chiều chắc con hoàn thành. Đọc kỹ câu hỏi, con thấy chỉ cần nắm chắc kiến thức căn bản là giải quyết được hết và hóa giải công phu 25 năm của tiền bối Ngã Hành vậy....”

Và, Lý Tự Như cũng chỉ là học trò nhập môn của Lý Gia mới hơn một năm... Trong thư, Lý Tự Như đã viết: “Kính thưa Thầy, thưa tiền bối Ngã Hành! Con tên là: Nguyễn Quốc Hương năm nay 36 tuổi. Tên trong Lý Gia của con là Lý Tự Như. Con chính thức học tập dưới sự chỉ dạy của Thầy Lý Tứ từ ngày 2 tháng 7 năm 2024 tính đến nay được hơn 1 năm. Mới chỉ hơn một năm học tập Phật Đạo dưới sự giáo dạy của Thầy Lý Tứ mà tâm thức của con hoàn toàn chuyển biến − thanh tịnh, an vui thường hiện.

Con xin tri ân công đức vô lượng của Thầy và con xin phép kính Thầy ba lễ!!! Nay con xin được phép trả lời các câu hỏi của tiền bối ngã Hành...”

Độc giả Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Trước khi đăng nguyên văn thư trả lời tiêu biểu của HĐ Lý Gia như đề nghị... Lý Tứ xin được “lược trích” một số trả lời của HĐ Lý Gia để mọi người tham khảo và nhận ra cách giải quyết vấn đề của HĐ Lý Gia đồng điệu như thế nào...!!! Viết đến đây mình trực nhớ lời Phật dạy, đại ý: “Có những quốc độ, thiên chúng ở đó khác nhau về thân tướng nhưng đồng một suy nghĩ (thân dị ý đồng)...” !!! Vâng, HĐ Lý Gia tuy mỗi người một phương, mỗi người một hoàn cảnh, khác biệt rất xa về xuất thân, tuổi tác, v.v... Nhưng, tất cả những gì liên quan đến giáo pháp, họ đều có cách lí giải giống nhau, ý nghĩa như nhau... Có được điều này là nhờ, tất cả đều tinh tấn học tập, nhận thức, lãnh hội, thấu triệt và giác ngộ giống nhau... Theo mình, việc này cũng chẳng có gì là lạ trong chánh pháp...!!! Sau đây là trích lược:

- Lý Thái Đăng viết:

“A-lại-da thức ví như đám mây. Chân Tâm ví như mặt trời. Đám “Mây hư vọng” không còn thì trời lại sáng, hết mưa thì nắng hửng lên thôi !!!”

- Lý Diệu Tâm đã viết:

“- Vạn pháp vô tự tính là sự thật của các pháp.

- Như Lai Tạng thanh tịnh thường trụ là sự thật của Pháp thân Như Lai, không cần lấy gì làm nền tảng để khẳng định.

- Giống như hư không, không cần cái gì làm nền tảng...”

“Ba học pháp vô lậu (Giới − Định − Tuệ Vô Lậu) luôn thành tựu đồng thời, nghĩa là chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu....”

- Lý Hiền Long viết:

“Muốn biết Như Lai Tạng và các pháp có mối liên hệ nào hay không, và cái này có thể làm nền để khẳng định về cái kia hay không, thì phải hiểu rõ thế nào là Như Lai Tạng và thế nào là các pháp.

Với phàm phu vô văn, thì thức thứ 8 (nơi chứa đựng tất cả những kiến thức, tri thức đã học tập) có tên gọi là Hàm Tàng Thức. Gọi là Hàm Tàng Thức vì đó là nơi lưu giữ đủ thứ vừa kiến thức, tri thức, vừa cảm xúc và các đánh giá đúng sai, phải trái, tốt xấu…

Với một vị đã thành tựu viên mãn Diệt đế, thấy được bổn tâm, bổn tánh thì Hàm Tàng Thức chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí hay còn gọi là Bạch Tạng Thức, nghĩa là nó trở thành một nơi chỉ thuần lưu trữ kiến thức tri thức và hoàn toàn tịch diệt tất cả những cảm xúc, đánh giá đúng sai, phải trái, tốt xấu…

Còn với một vị viên mãn trí tuệ thì trở thành Như Lai Tạng. Gọi là Như Lai Tạng, hay Như Lai Tàng Tâm, vì với vị này, người đã trở thành một vị Như Lai, Hàm tàng thức trở thành một kho tàng lưu trữ tất cả những kiến thức, tri thức có thể dùng làm phương tiện thiện xảo để giúp người, độ thoát cho người, giúp người thành tựu các mục tiêu trong Phật đạo, như một Như Lai...

Còn pháp là đối tượng của ý căn, là những quan điểm, quan niệm được sinh khởi khi ý căn có nhu cầu tác ý. Vì là đối tượng của ý căn, nên tính chất của các pháp là không tự tánh, không tự tướng và không tự ngã...

Dựa vào ý nghĩa Như Lai Tàng và các pháp như đã trình bày như trên, thì câu hỏi “Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?” không thể thành lập...”

- Lý Diệu Âm viết:

“Trước hết chúng ta phải hiểu A lại da thức chính là thức thứ tám, tức là kho tàng cất chứa tất cả những hành vi, suy nghĩ, tri thức cảm xúc của mỗi người. Khi giác ngộ A lại da thức chuyển thành Đại viên cảnh trí, Đại viên cảnh trí hay Đại viên kính trí là hình ảnh ẩn dụ tâm thức như một tấm gương lớn. Tấm gương không từ chối vật, nhưng không sở hữu vật, sở hữu là thức, vô sở hữu là trí, nên Đại viên cảnh trí còn có tên là Vô sở hữu trí. Trí này như gương sáng, Khi giác ngộ tất cả những hành vi, hành hoạt, suy nghĩ và nhận thức đều được chuyển đổi theo đúng tinh thần của Phật đạo, khi những nhận thức mê muội u tối được chuyển đối thì tâm thức hành giả sáng suốt như gương sáng chứ không phải chân tâm chuyển đổi. Giống như Mặt trời luôn có trên bầu trời chỉ vì mây đen u ám che khuất nên có lúc ta không thấy, khi những mây đen này không còn nữa thì ta sẽ thấy rõ mặt trời chứ không phải chuyển đổi cái “mặt trời“ ở đâu đó đến. Hoặc chuyển đổi từ nước đục sang nước trong thì vẫn là nước đó chứ không phải mang nước trong từ nơi khác về...”

- Lý Tự Như viết:

“Bốn pháp ấn này dành cho các vị hữu học, ở cảnh giới thế gian. Còn Như Lai Tạng là cảnh giới xuất thế gian. Nên việc đem so sánh Như Lai Tạng với 4 yếu tố trên có điều gì đó không hợp lý.”

“Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, chính là toàn bộ Thức được chuyển thành Trí. Cái được chuyển ở đây tất cả “Thức mê” hay “Thức nghiệp” trong kho chứa của A-lại-da thức.

Về ngôn từ, có Thức và Trí, có chuyển Thức thành Trí nhưng thực tế vẫn chỉ là một cái Thức. Khi chưa giác ngộ thì là Thức mê, giờ giác ngộ rồi, gỡ mê ra trả lại về bản nguyên của Thức − tạm gọi là Trí vậy. Như đồ đạc trong căn phòng vẫn ở đó, do bóng tối mà ta không thấy được đồ. Giờ bật đèn sáng lên thì đồ đạc tự hiện.

Chân Tâm chính là trạng thái thanh tịnh vắng lặng khi thức mê được gỡ và các hư vọng tâm, hư vọng pháp không sanh. Tại thời điểm Tâm không động, không khởi (tức Chân tâm) thì Thức lúc ấy là Thức Nguyên − đó chính là Trí, và không có “chuyển” gì cả. 

Như căn phòng sáng lên thì đồ đạc cũng hiện rõ theo....

“Tam Vô Lậu Học (Giới vô lậu, Định vô lậu, Tuệ vô lậu) không phải đơn thuần là “tu Giới rồi tới Định rồi tới Tuệ” theo một thứ tự cứng nhắc, mà là ba học pháp tương hỗ và “đủ cả ba khi một môn được thành tựu”. Người học thành tựu một học pháp, lập tức thành tựu cả ba học pháp...”

- Lý Ngọc Hỷ đã viết:

“Kiến tánh thành Phật là mới xong phần Phật tâm, đã chuyển hóa căn bản các hạt giống ô nhiễm trong Tàng Thức, chứ Phật trí chưa thành.

Sát đạo dâm vọng là 4 giới cấm của Bồ tát, khi đi giáo hóa chúng sanh, tùy theo từng trường hợp mà Khai, giá, trì, phạm. Tất cả việc làm của Bồ Tát đều vì lợi ích chúng sanh. Tâm Bồ tát đã đồng hư không, không bị bất kỳ điều gì làm động lay...”

- Lý Hoàng Anh viết:

“Trí Lậu Tận thành tựu ngay khi mọi vọng tưởng chấm dứt. Vọng tưởng chấm dứt mọi phân biệt tự dừng. Thấy biết ở đây gọi là Trí Không Phân Biệt. Trí Như Lý là trí nương nhờ chánh pháp để tác ý như pháp. Trí này là trí của người lấy nền tảng chánh pháp làm đời sống, còn gọi là Chánh Pháp Nhiếp Thọ...

Kiến tánh là thấy được tánh bổn nhiên. Khi mọi vọng tưởng phân biệt đã dừng, A-lại-da thức đã chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, lậu hoặc đã hoàn toàn sạch trong tâm thức, đối trước thấy nghe hay biết, tâm thức hoàn toàn không còn động lay, như cảnh qua gương, gương thấy ảnh nhưng không giữ cảnh, cảnh qua gương vẫn sáng trong. Cái sáng trong này ví như tánh bổn nhiên của hữu tình, thường sáng thường chiếu soi như vậy, hoàn toàn không tích chứa bất cứ điều gì và không chịu bất kỳ sự chi phối nào của cảnh. Đối với gương sáng trong, tất cả các cảnh qua gương đều bình đẳng như nhau, hoàn toàn không có sự phân biệt...”

- Lý Minh Thuỳ viết:

“Trước hết về mặt khái niệm: (Trích từ bài viết của thầy Lý Tứ) 

Thức nghĩa là cái biết, thức là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một chúng sanh. khi một chúng sinh có mặt trên trên đời thì thức chi phối toàn bộ đời sống của chúng sanh từ ăn, ngủ, học tập,… thức phô diễn tất cả những gì hàm chứa trong nó để làm nên một thực thể sống. Vừa gom nhóm hiện tại để đưa vào kho cất giữ cho vị lai. Thức cất giữ mọi thông tin có được trong quá khứ lẫn hiện tại không cho mất, gọi là A lại da thức.

Trí chính là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một vị thánh trong Phật đạo. Ngày chưa giác ngộ, thức có bao nhiêu công việc, bao nhiêu chức năng, khi giác ngộ, trí đảm đương bấy nhiêu công việc, bấy nhiêu chức năng của thức để lại.

Chuyển thức thành trí: “Con đường chuyển hoá đó là chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để thức trở thành trí. Khi thành trí, trí đảm nhận công việc trước đây của thức, nhưng: không sai sử, không trói buộc, không chấp mắc, không gây ra phiền não…”

“Chân tâm hay bổn tâm vốn bất động, không sinh diệt, nhưng khi chưa giác ngộ chúng sinh bị thức sai sử, sản sinh biết bao quan điểm, quan niệm trói con người ta cứng ngắc không thể tự giải thoát, và vì mê các sản phẩm của thức mà bổn tâm không hiện, chỉ có chúng sanh tâm hay các thứ tâm hư vọng như buồn, vui thương ghét, tham lam, ganh ghét tật đố hiện khởi. Chỉ khi chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để
thức trở thành trí thì người tu hành mới có cơ may thấy bổn tâm, kiến bổn tánh...”

- Lý Thu Thuỷ viết:

“Niết bàn không phải là nơi chốn địa lý nào, vì Phật đạo không giáo dạy điều gì ngoài Tâm này. Niết Bàn là cảnh giới thanh tịnh của Tâm khi vị tu hành đúng chánh pháp để giác ngộ.

Niết bàn A La Hán và Bồ Tát là sự thanh tịnh, bất động giải thoát, về cơ bản là giống nhau. Chỉ có thấy biết là khác nhau...

Niết bàn của Bồ Tát: Trong Kinh Đại Niết-Bàn (Mahāparinirvāṇa Sūtra): có giải thích rằng Niết-bàn của Bồ tát (hoặc Phật) là “Niết bàn vĩ đại” (Great Nirvana) và “lạc” (niềm vui cao) hơn Niết-bàn của Thanh văn (A-la-hán). Bởi vì Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn mà tiếp tục trở lại thế gian độ tha cho hết thảy chúng sanh....”

- Lý Minh Tuân viết:

“Sự khác biệt cốt tử giữa Ngũ Đại và Thất Đại.

* Ngũ đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không): Chỉ đề cập đến 5 đại chủng cấu thành nên phần thân (sắc) của một hữu tình.

* Thất đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức): Đề cập đầy đủ 7 đại chủng cấu thành nên 5 món: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức của một hữu tình (được đề cập trong Kinh Lăng Nghiêm). 

Sự khác biệt cốt tử ở đây là: Khi thêm vào Kiến đại và Thức đại thì 7 đại chủng này mới đủ duyên để tạo nên một hữu tình − một thực thể sống có tri và có giác (có sự hiểu biết, tiếp thu, học tập… để tiến bộ). Còn khi chỉ đề cập đến Ngũ đại thì chỉ nói đến thân (vô tri) mà thôi....”

- Lý Diệu Sinh viết:

“Chân Tâm (hay Phật Tánh, Như Lai Tạng) là thường hằng bất biến, bản chất “vốn không sanh diệt” vốn “không khởi”.

A-lại-da thức là nơi tích chứa tập nhân và là nền tảng của sinh tử. A-lại-da thuộc về thức mê, hay là trạng thái của một hữu tình bị ba lớp vô minh (Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa) làm cho “ngu, mê, lầm” che phủ.

Sự khác biệt giữa hai khái niệm này cho thấy Chân Tâm là bản thể chân thật (Thật Tánh), còn A-lại-da là trạng thái của tâm bị che chướng (mê).

Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, cái được chuyển là tính chất mê lầm, vô minh và hữu lậu của A-lại-da, biến đổi thành trí tuệ vô lậu (Đại Viên Cảnh Trí) − trí tuệ này biểu hiện sự viên mãn của Chân Tâm....”

- Lý Đạt Thịnh viết:

“Như đã trả lời, các quả vị trong Phật Đạo đều bắt đầu từ “thấy biết như pháp” hay Giác Ngộ, vì thấu suốt nên tự xả, vì xả nên tự có định chẳng do dụng công,nhân đây giới tự thành tựu, đây là tính chất 3 trong 1 của Đạo Xuất Thế. Vì vậy, tự trong Tuệ đã bao gồm Định và Giới và ngược lại.

Từ quả vị thấp nhất của Phật Đạo là Tu Đà Hoàn, cũng phải xuất phát từ chánh tri kiến chứ chẳng phải do dụng công theo thứ lớp, nhân nơi tri kiến mà kiết sử, lậu hoặc được đoạn trừ, Thánh giới thành tựu...”

- Lý Thanh Liêm viết:

“Muốn biết cái gì được chuyển thì điều kiện người này giác ngộ. Vì bản chất thức và trí không phải hai món.

Chân tâm hay Bổn tâm là thứ tâm không còn sinh diệt. Nhưng không phải ai cũng thấy và biết được. Từ phàm tâm muốn thấy được Bổn tâm thì người này phải giác ngộ hay nói cách khác tiến trình phải chuyển từ đa tâm về thiểu tâm, nhất tâm, tâm không và không tâm. Giống như muốn có được nước trong người này phải lắng trong đục...”!!!

- Lý Ngọc Linh thì viết:

“A lại da là kho tích chứa các hạt giống nghiệp, chứa chấp mê lầm. Khi chưa giác ngộ thì A lại da là nguồn gốc sinh ra phiền não, khổ đau.

Đại Viên Cảnh Trí: Khi giác ngộ A lại da thay vì tích chứa, lưu giữ lại những thứ đi qua thì lúc này nó trở thành tấm gương lớn chỉ phản chiếu lại những thứ đi qua nó chứ không thủ giữ, tích chứa những thứ đó nữa.

Nếu dùng hình tượng thì có thể ví A lại da khi chưa giác ngộ như một tấm gương nhưng lại bị phủ lên một lớp keo dính, nên thay vì thực hiện chức năng soi chiếu thì nó lại dính chặt những thứ vô tình đi qua nó. Khi đã giác ngộ A lại da vẫn là chiếc gương đó, nhưng đã được làm sạch lớp keo và bụi bẩn bám lên bề mặt, lúc này nó trở lại với đúng chức năng soi chiếu mà không nắm giữ.

Vì chỉ soi chiếu nên dù có bao nhiêu thứ đi qua, bao nhiêu thứ soi vào mà nó vẫn không bị động lay, sinh khởi.

Vậy nên việc chuyển ở đây là chuyển về mặt tính chất, từ không chiếu soi, sang chiếu soi, từ mờ tối sang sáng rõ...” !!!

- Lý Thiện Huệ viết:

“- Như Lai Tạng là bản thể thanh tịnh thường trụ”, câu này là thật (thiệt) nghĩa, sự thật nó như vậy!

- “Tất cả pháp đều vô ngã, vô tự tính.” Câu này cũng là thật nghĩa, các pháp (nhận thức, quan điểm, quan niệm...) đều vô ngã, vô tự tính!

Hỏi: Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?

Đáp: Đã là sự thật, thì theo mình chỉ nên thấy và biết! Chứ khẳng định làm gì?! Vì có khẳng định hay không, thì sự thật vẫn là sự thật!

Vả chăng, lấy cái vô thường, biến hoại của vạn pháp, đi khẳng định cái chân thật, có vẻ có gì đó khập khiễng gượng ép, lại càng không thể! Không thể lấy cái vô thường sanh diệt, khẳng định cái thường hằng bất biến!”

- Lý Mai Phương viết:

“Qua 3 ví dụ trên ta thấy không hề có sự chuyển đổi theo cách hiểu của ngài Ngã Hành ở đây, tấm gương/hồ nước/mặt trời luôn tồn tại ở đó, vì lý do nào đó chúng bị che chắn nên bản chất không được hiển lộ đầy đủ.

Khi chúng sanh còn vô minh, A-lại-da-thức là kho tàng chủng tử chứa đầy tập khí và nghiệp lực, về bản chất nó đã bị nhiễm ô. Khi ta minh tâm kiến tánh, xóa tan hết các vô minh, ta trả A-lại-dathức về cái gốc thanh tịnh trong sạch ban đầu của nó chính là đại viên cảnh trí.

Đại viên cảnh trí như là thật trí, ta hình dung nó như một tấm gương lớn tròn đầy có thể soi chiếu vạn vật, vạn pháp một cách chân thật nhất, nó trực nhận đúng bản chất mọi sự vật sự việc nhưng không lưu lại bất cứ dấu tích nào khi sự vật hay pháp đã rời đi.” (Hết phần lược trích) !!!

Độc giả Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Vừa rồi, là một số trích lược trả lời của HĐ Lý Gia...!!! Sau đây, Lý Tứ xin đăng nguyên văn thư trả lời của Lý Phương Anh, có thể coi là đại diện môn đệ Lý Gia trả lời các câu hỏi, theo đề nghị của độc giả Ngã Hành...!!!

Đôi nét về Lý Phương Anh...!!!

Lý Phương Anh là HĐ thứ 424 của Lý Gia, nhập môn cách đây chừng 5 năm...!!! Là một trong những nữ môn đồ được BQT Lý Gia trao tặng danh hiệu cao quý “Lý Nữ Phương Danh”...!!!

Trước đây Lý Phương Anh có thời gian dài công tác tại Thuỵ Sĩ và biết đến Lý Tứ thông qua các bài đăng trên mạng...Sau khi mãn công tác, Phương Anh về nước tìm gặp mình rồi trở thành HĐ Lý Gia...!!!

Hiện nay, Phương Anh đã trên 30 tuổi, phụ trách Ban Khoa Giáo, đang cùng các thành viên Ban Giảng Huấn biên soạn giáo trình và giảng dạy tại một số cấp học của Lý Gia..!!!

Sau đây, toàn văn các câu trả lời của Lý Phương Anh !!!

“Kính thưa Thầy,

Kính thưa độc giả Ngã Hành và tất cả bạn đọc,

Kính thưa HĐ Lý Gia,

Thể theo đề nghị của độc giả Ngã Hành và yêu cầu của Thầy từ chuyên mục Bạn Đọc Hỏi − Lý Tứ Trả Lời − 62/2025, Con Lý Phương Anh, là học trò thứ 424 của Thầy, xin tham gia trả lời bảy câu hỏi của bạn đọc Ngã Hành.

* Câu hỏi 1: − “Về Như Lai Tạng và Vô Ngã Thưa Thầy, kinh điển thường nói:

“Như Lai Tạng là bản thể thanh tịnh thường trụ”, nhưng lại cũng nói:

“Tất cả pháp đều vô ngã, vô tự tính.”

Vậy:

Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?

Và nếu Như Lai Tạng là bản thể bất biến, điều ấy có trái với Tứ Pháp Ấn: Vô thường − khổ − vô ngã − bất tịnh chăng?

Tôi đã hỏi điều này với nhiều vị pháp sư, nhưng hoặc rơi vào chấp “chơn ngã”, hoặc né tránh câu hỏi.”

* Trả lời:

1. Cần hiểu:

Vạn pháp vô tự tánh: Đây là sự thật (thật tánh) của vạn pháp! 

Như Lai Tạng là thật tánh.

Ý nghĩa: Tánh của Như Lai Tạng là chân thật. Đây cũng là sự thật của Như Lai Tạng!

2. Xét:

Như Lai Tạng bản thể bất biến là Tạng vi mật của Chư Phật.

Vô thường − khổ − vô ngã − bất tịnh là bốn pháp ấn dùng ấn tâm của Nhị thừa.

3. Kết luận:

Giữa Như Lai Tạng của Phật và Tứ Pháp Ấn của Nhị thừa là hai cảnh giới hoàn toàn khác nhau, cách biệt đến vô lượng, nên không thể so sánh rằng: Hai thứ ấy (hai cảnh giới ấy) là đồng hay dị, là thuận hay nghịch.

* Câu hỏi 2 − “Về Thức A-lại-da và Sự “Không Khởi” của Chân Tâm

Kinh Lăng Già nói A-lại-da là nền tảng của sinh tử. Kinh Lăng Nghiêm lại khẳng định Chân Tâm vốn không động.

Vậy tôi xin hỏi:

Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, cái gì được chuyển? Nếu Chân Tâm vốn không sinh khởi, vậy việc “chuyển” có thật xảy ra không, hay chỉ là danh ngôn tạm lập?”

* Trả lời:

1. Cần hiểu:

- Chuyển A lại da thành Đại Viên Cảnh Trí là chuyển thức mê (trói buộc, u tối) thành thức giác (giải thoát, minh liễu)... Tức chuyển cảnh giới của tâm thức từ mê sang giác chứ không chuyển tri thức.

- Chân tâm bản chất không sanh diệt. Nhưng khi mê, hư vọng pháp vọng khởi, tâm thức lập tức sanh diệt.

2. Xét:

Ví dụ kinh điển đã được nêu trong Kinh: Giống như bản chất đèn không có quầng, nhưng khi mắt nhặm lập tức thấy đèn có quầng....

3. Kết luận:

Chuyển ở đây, chính là việc làm cho mắt hết nhặm, chứ không phải chuyển để đèn từ có quầng trở thành không quầng.

Chuyển này là sự thật, nhưng sự thật này chỉ xảy ra đối với những người giác ngộ.

* Câu hỏi 3 − “Về Chuyển Y và Trí Lậu Tận trong Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già dạy về “Chuyển Y” (Y chuyển), tức là chuyển cái Tự Tướng của A Lại Da Thức thành Trí Lậu Tận và chuyển cái Biệt Tướng thành Trí Bất Tư Nghị Biến Dị.

Câu hỏi: Trí Lậu Tận được thành tựu ngay khi nào? Nó khác gì với Trí Không Phân Biệt và Trí Như Lý cũng được đề cập trong kinh? Nếu Trí Lậu Tận là trí dứt hết phiền não lậu hoặc, vậy thì A Lại Da Thức đã thật sự được chuyển tận gốc hay chỉ là không còn chấp thủ vào các hạt giống hữu lậu?”

* Trả lời:

1. − Trí Lậu Tận (Vô Lậu) thành tựu khi tâm thức dứt mê.

- Trí Vô Phân Biệt thành tựu khi tâm thức giác ngộ.

- Trí Như Lý có được khi học tập đúng chánh pháp.

Ba thứ trí này ở ba cảnh giới khác nhau, được sắp xếp từ thấp lên cao như sau:

- Bậc hữu học thành tựu Trí Như Lý;

- Bậc Vô Lậu thành tựu Trí Lậu Tận;

- Bậc Vô Học thành tựu Trí Vô Phân Biệt.

2. Người thành tựu Trí Lậu Tận chỉ mới dứt hết phiền não lậu hoặc thô trọng... Chỉ đến khi nào thành tựu Vô Phân Biệt Trí thì A Lại Da thức mới hoàn toàn chuyển thành trí.

* Câu hỏi 4 − “Về Giới − Định − Tuệ trong Thực Chứng

Nhiều tôn phái nói rằng phải “giữ giới để an định”, “định sanh tuệ”. Nhưng lại có người chứng ngộ đột ngột mà không qua quá trình “định lực mạnh”.

Do đó, xin Thầy (hay học trò Thầy) giải thích:

Giới − Định − Tuệ là tiến trình tuần tự, hay là ba mặt đồng thời của một thực tại? Nếu tuần tự, sao có người không cần vào thiền định sâu mà vẫn khai mở tuệ giác? Nếu là ba mặt đồng thời của một thực tại, xin được giải thích rõ cơ chế, và viện dẫn kinh điển chứng minh?”

* Trả lời:

1. Ba học pháp vô lậu Giới, Định, Tuệ là hệ quả của nhau theo nguyên lí “cái này có nên cái kia có”.

Giống như có đèn, lập tức có ánh sáng và sự đốt cháy... Đèn dụ cho Giới vô lậu; Ánh sáng dụ cho Định vô lậu; Đốt cháy dụ cho Tuệ vô lậu.

2. Dẫn Kinh:

- Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng:

“Này Thiện tri thức! Pháp môn của ta lấy Định Tuệ làm gốc. Chớ lầm bảo rằng Định Tuệ là khác. Định Tuệ là một thể, chẳng phải hai. Định là Thể của Tuệ, Tuệ là Dụng của Định. Tức khi Tuệ, Định ở tại trong Tuệ. Tức khi Định, Tuệ ở tại trong Định.” 

“Ví như ngọn đèn và ánh sáng. Có đèn tức có sáng, không đèn tức tối. Đèn là Thể của sáng, sáng là Dụng của đèn. Tên gọi tuy có hai, nhưng Thể vốn chỉ là một.”

- Kinh Lăng Nghiêm:

“Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ.”

3. Định vô lậu không giống Định thế gian, nên người thành tựu Định thế gian được coi là sâu cũng không thể khai mở Tuệ giác vì thiếu yếu tố vô lậu.

Trong khi đó, người chưa hoặc không thành tựu Định thế gian, nhưng nhờ học tập giáo pháp vô lậu nên Tuệ giác được khai mở, bây giờ Định vô lậu và Giới vô lậu cũng tự thành tựu theo.

* Câu hỏi 5 − “Về Bảy Đại trong Kinh Lăng Nghiêm và Mối Liên Hệ với Ngũ Đại

Kinh Lăng Nghiêm đề cập đến Thất Đại (Bảy Đại): Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, để chứng minh tất cả đều là Thể Như Lai Tạng và đồng một bản thể.

Câu hỏi: Xin giải thích rõ ràng và sâu về sự khác biệt cốt tử giữa Ngũ Đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không) theo cách hiểu của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ hay Pháp Tướng Tông và Thất Đại của Kinh Lăng Nghiêm. Cụ thể, việc thêm vào Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có ý nghĩa và dụng ý như thế nào? Xin được giải thích và chứng minh cụ thể?”

* Trả lời:

- Ngũ Đại: Nói về cấu tạo của thân chúng sinh.

- Thất đại: Nói về cấu tạo của một hữu tình gồm sắc (thân), tri (thức đại) và giác (kiến đại).

* Câu hỏi 6 − “Về Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối trong Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm đưa ra Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Bốn lời dạy rõ ràng về sự thanh tịnh) như là hàng rào bảo vệ giúp hành giả tu thiền định không bị đọa lạc.

Câu hỏi: Nếu một vị tu hành đã thật sự đạt đến Kiến Tánh (Kiến Tánh Thành Phật, như Thiền Tông dạy) và đã chuyển hóa căn bản các hạt giống ô nhiễm trong Tàng Thức, vị ấy có còn bị ảnh hưởng hoặc chi phối bởi Bốn Giới Cấm này (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) không? Nếu còn chi phối, tại sao lại là Kiến Tánh? Nếu không, xin cho một giải thích triệt để về Cơ Chế nào đã khiến nghiệp lực từ những hành vi này không thể sinh khởi đối với vị đã Kiến Tánh.”

* Trả lời:

1. Kiến Tánh: Không phải là kết quả của chuyển hoá Tàng Thức... Mà là kết quả của sự “hoát nhiên trực nhận” các tính chất bất biến của Bổn Tánh hay Phật Tánh đang hiện hữu trong tâm thức.

Sự trực nhận này không bị chi phối bởi việc giữ giới hay phá giới.

2. Nhân đây, Phương Anh xin ghi lại mẩu đối thoại và ví dụ mà Thầy đã khai thị cho Phương Anh trong một đương cơ đặc biệt cách đây hai năm.

Thầy dạy:

“Giống như một tên trộm và một người tu phạm hạnh. Người tu phạm hạnh đang tĩnh tu trên núi, kẻ đạo tặc đang thực hiện hành động đạo tặc ở thôn làng...

Hai người này cùng hoát nhiên nhìn thấy ánh trăng trên trời... Ánh trăng của vị tu hành và tên đạo tặc không hề sai khác...!!!

Đạo tặc và người tu dụ cho phá giới và giữ giới; Hoát nhiên nhìn thấy ánh trăng dụ cho kiến tánh; Sự không sai khác giữa hai ánh trăng dụ cho Phật tánh bình đẳng trong tất cả chúng sanh...!!!”

Sau khi nghe Thầy khai thị xong, Phương Anh nổi da gà, rợn tóc gáy, rùng mình vì trong lòng chưa bao giờ cảm thấy những nghĩa lý thâm u được sáng tỏ đến như vậy !!!

* Câu hỏi 7 − “Về Bản Chất của Niết-bàn

Kinh A-hàm nói Niết-bàn là “diệt tận ái dục”.

Kinh Đại thừa lại mô tả Niết-bàn như “trí tuệ viên mãn”, “pháp thân thường trụ”.

Vậy xin Thầy-hay học trò của Thầy-trả lời cho rõ ràng: Niết-bàn là trạng thái tâm lý, là bản thể siêu hình, hay là sự vận hành đúng pháp của trí tuệ?

Và Niết-bàn của A-la-hán có khác Niết-bàn của Bồ Tát không? Nếu khác, khác ở điểm nào?”

* Trả lời:

1. Niết Bàn không phải trạng thái tâm lí, không phải bản thể siêu hình, lại càng không phải là sự vận hành đúng pháp, v.v... Mà, nó là sự thật hằng hữu trong tâm thức của mọi hữu tình khi hữu tình đó dứt mê!

2. Niết Bàn của ba thừa giống nhau về Thể nhưng khác nhau về Trí và Dụng.

Ví dụ đã được nêu trong Kinh:

“Giống như ba người cùng ăn mật, ăn ít hay nhiều cũng đều có vị ngọt như nhau (đồng Thể)... nhưng khác nhau ở tác dụng (Dụng) và hiểu biết (Trí).”

Phần trả lời câu hỏi của con đến đây kết thúc.

Con thành kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy !!!

Kính chúc Thầy sức khỏe, trụ thế dài lâu !!!

Chúc HĐTM an vui, tinh tấn!!!

Chúc tất cả bạn đọc thành ở đời, đạt ở đạo!!!

Lý Phương Anh (MB424) (Hết thư) !!!

Độc giả Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Phật đạo là Đạo Trí Tuệ (Duy Tuệ Thị Nghiệp)...!!! Muốn có sự nghiệp ấy, không có con đường nào khác hơn là phải học tập, học tập và học tập...!!!

Ngày xưa, Thế Tôn của chúng ta như một người Thầy giáo... Các môn đệ của ngài là những học trò... Họ quây quần bên nhau để cùng dạy và học...!!! Học để thay đổi nhận thức, học để thấu suốt nhân sinh và vũ trụ dưới nhãn quan Phật đạo, học để biết cơ chế vận hành tâm thức, học để thấy được thiệt tướng muôn pháp, học để xua tan bóng tối vô minh do nhận thức sai lầm, v.v... Sau khi học và thấm nhuần những điều ấy, mỗi học trò tự trực nhận ra sự thật hằng hữu của thân, tâm, thế giới và các pháp là gì... Trực nhận này, Phật đạo gọi là giác ngộ...!!!

Xưa đã như thế, hôm nay chắc chắn phải như thế... không thể nói khác hay làm khác...!!! Vấn đề được đặt ra ở đây là: “Cái như thế vừa nêu, ta tìm ở đâu” ??? Giải quyết được câu hỏi này, nhất định “Đạo ngay trước mắt”...!!!

Hi vọng, những trả lời vừa rồi của các học trò Lý Gia... Có thể giúp bằng hữu Ngã Hành và tất cả bạn đọc thoả mãn những gì đã thắc mắc...!!!

Chúc độc giả Ngã Hành và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

18/11/2025

LÝ TỨ

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow