Vãng Sanh hay Vô Sanh
Có phân tích thấu đáo 16 pháp quán, chúng ta mới nhận ra mỗi một pháp quán đều ẩn chứa trong nó một giai đoạn nhất định của giáo pháp, đây là các giai đoạn bắt buộc người tu hành phải học tập, đúc kết và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống để chuyển hoá tâm thức!
Các bạn!
Phần lớn người tu hành trong Phật đạo đều nghe câu chuyện A Xà Thế giết cha là vua Tần Bà Sa La để đoạt ngôi, giam cầm mẹ mình là hoàng hậu Vi Đề Hi nơi cung cấm!
Tần Bà Sa La, Vi Đề Hi, A Xà Thế đều là những người theo Phật đạo, và trong bi kịch gia đình đau buồn ấy, giáo pháp của đức Phật đã giúp vua Tần Bà Sa La chứng A Na Hàm quả, hoàng hậu Vi Đề Hi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, A Xà Thế sau khi can tội đại nghịch bất đạo giết cha cướp ngôi vua, giam mẹ nơi cung cấm... đã vô cùng ăn năn và tìm đến Phật, được Phật giáo huấn, cuối cùng A Xà Thế chứng được “Niềm tin vô căn”, không phải bị đọa vào ba đường dữ!
Trước thảm cảnh gia đình, với nỗi khổ cùng cực của một phụ nữ, chán ngán tâm địa ác độc của con người mà cụ thể là con ruột của mình, bà Vi Đề Hi chỉ muốn từ bỏ cõi đời ác thế ngũ trược để tìm đến một thế giới nào đó, mà nơi ấy không có những tâm địa ác độc, không còn những sự khổ của trần gian!
Biết được tâm nguyện của Bà Vi Đề Hi, để giúp bà và vua Tần Bà Sa La thoát khỏi các món khổ nhân sinh, đức Phật với sức thiện xảo của mình, đã hoá hiện ra các tịnh quốc độ! Nương theo sức hoá hiện và sự ham thích chán khổ tìm vui của bà Vi Đề Hi, Phật đã dạy cho bà con đường học tập giáo pháp thông qua 16 phép quán để chứng Niết Bàn hiện tiền bằng lộ trình tu tập sau:
- Bước đầu, để tạm giúp bà dừng khổ đau! Phật đã dạy bà ta phép “nhật quán”! Nhật quán là công cụ chuyển hoá từ “đa tâm” đến “nhất tâm” theo nguyên lí “nhất tâm dừng hiện nghiệp”!
- Sau khi hiện nghiệp đã dừng, khổ phiền não không còn chiếm hữu tâm trí! Thế Tôn lại tiếp tục chuyển cảnh giới tâm thức của bà bằng cách đưa tâm thức của bà vãng sanh vào thiên giới bằng các phép “thuỷ quán, địa quán và thọ quán”! Căn bản của ba phép quán này là một trong những hình thức “khai thiên nhãn”!
Nâng nhục nhãn lên thiên nhãn, là quá trình không thể thiếu đối với người tu hành, đây là bước đệm quan trọng làm thay đổi nhãn lực bằng cách thay đổi nhận thức! Từ bước khởi đầu này, hành giả nhận ra rằng “nghiệp quả thông qua thấy nghe của nghiệp thức đều không thật”... Kinh cũng dạy: “Đồng một sông Hằng, chư thiên thấy đó là lưu li, loài người thấy đó là nước, ngạ quỷ thấy đó là lửa...”! Ba cái thấy sai biệt từ sông Hằng là tiền đề quan trọng giúp tâm ý người tu hành rời xa chấp nhất, phiền não không sanh, lậu hoặc hết che mờ khi căn cảnh phối ngẫu, hoàn thành học pháp vô lậu! Thành tựu học pháp vô lậu là công cụ giúp chuyển hoá “hữu lậu tâm thành vô lậu tâm”, biến “hữu lậu nghiệp thành vô lậu nghiệp”! Tinh yếu của phép quán trên chính là bệ phóng tốt nhất, là sự khởi đầu hoàn hảo đưa tâm thức người tu hành chuẩn bị bay vào quỹ đạo xuất thế theo lời dạy: “Như Lai đặt yên người tu hành nơi cõi trời Sắc Cứu Cánh...”! Sắc cứu cánh thiên tương đương thiền thứ tư, bất khổ bất lạc thọ!
- Các phép quán tiếp theo là “Bảo trì, bảo lâu và tổng quán” được Thế Tôn triển khai cho bà Vi Đề Hi sau khi khai thiên nhãn từ các pháp quán trước! Đây là cách thức “khai pháp nhãn thanh tịnh”! Khai pháp nhãn tịnh, là một trong những biện pháp biến phước đức hữu lậu của đạo thế gian thành công đức vô lậu của đạo xuất thế! Công việc này, giống như người sắp định cư nước ngoài quy đổi nội tệ thành ngoại tệ! Có ngoại tệ mới có thể sinh sống ở quốc gia khác, có công đức mới có thể sinh tồn ở quốc độ xuất thế!
- Để có thể trở thành công dân thực thụ và sinh sống ở một quốc gia nào đó, điều đầu tiên người ta phải học văn hoá của quốc gia ấy! Hiểu rõ, học thuộc văn hoá bản địa nơi mình sắp đặt chân đến là điều kiện giúp ta dễ dàng hòa nhập với xã hội mới! Các phép quán “toà tưởng, hình tượng, thân tâm Phật, Quan âm, Đại thế chí, phổ tưởng quán và tạp tưởng quán”... là cách giúp tâm thức bà Vi Đề Hi tương ưng với đạo quả xuất thế thông qua văn hoá xuất thế!
- Và cuối cùng, lời khai thị tối hậu của Thế Tôn chính là đòn quyết định đưa ý niệm vãng sanh trở thành nhân tố chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn hiện tiền bằng lời dạy mang quyết định nghĩa: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào trong tất cả tâm tưởng của chúng sanh. Cho nên khi tâm các ngươi tưởng Phật, tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình. Tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển Chánh Biến Tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)!
Đến đây, ta mới thấy các mục tiêu của Phật đạo là nhất quán! Mục tiêu cơ bản của Phật đạo mà bất kì người tu hành nào học tập giáo pháp của đạo này chính là chứng Niết Bàn (hai vô sanh) ngay hiện tiền, chứ không phải một kết quả vãng sanh về cõi nước nào đó ở vị lai sau khi thân hoại mạng chung! Và kết quả ấy phải được học tập thông qua cách này hay cách khác dưới sự hướng dẫn của một đạo sư chân chánh và thông tuệ!
Các điểm nhấn trong quá trình học tập của bà Vi Đề Hi giúp chúng ta nhận ra, dưới sức thiện xảo của một bậc đại giác, việc dùng ngữ ngôn trực tiếp giảng dạy, hay việc sử dụng hình ảnh quán tưởng nhưng trong đó lại “ẩn chứa” đầy đủ ý vị giáo pháp thông qua “Phật âm” một cách sâu kín, được coi là một “độc chiêu vô tiền khoáng hậu” của lịch sử giáo pháp, cách giáo hoá này chẳng khác trong nước lã nhưng lại ẩn chứa dược tính trị bịnh...
Cuối cùng, câu khai thị tối hậu chính là chiêu thức quyết định đẩy tâm thức vô lậu của bà Vi Đề Hi thành tâm thức xuất thế khi tâm thức ấy đã đến độ chín mùi! Đây chính là “yếu quyết tối vi mật” của đạo trí tuệ! Cũng chính điều này, một người bình thường cho dù có học và ứng dụng triệt để 16 pháp quán như những gì Phật dạy bà Vi Đề Hi nhưng thiếu chất liệu “Phật âm” mang rong nó thì cũng không thể thành tựu đạo quả xuất thế! Giống như người uống nước lã không được gia thêm dược tính chữa bệnh nhất định sẽ không hết bệnh từ thứ nước lã ấy!
- Các phép quán “thượng, trung, hạ phẩm” (14, 15, 16)... Chỉ là bài giảng cuối cùng giúp bà Vi Đề Hi nhận ra các tầng sâu của Niết bàn Diệt đế! Kinh Kim Cang Phật dạy: “Đồng là pháp (cảnh giới) vô vi, nhưng chư hiền thánh thấy có sai biệt...”! Chính sự sai biệt này mà: “Khi đức Thế Tôn nói lời ấy rồi, Vi Đề Hy phu nhơn cùng năm trăm thị nữ liền thấy tướng rộng dài của thế giới Cực Lạc, sắc thân của Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát. Tất cả đều sanh lòng vui mừng, khen là việc chưa từng có. Phu nhơn hoát nhiên đại ngộ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nguyện sanh về Cực Lạc. Đức Thế Tôn thọ ký cho tất cả đều được vãng sanh và sau khi sanh về tịnh độ đều chứng Chư Phật Hiện Tiền tam muội. Vô lượng chư thiên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề...”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)
Vâng! Vô sanh hay vãng sanh mới là mục tiêu của Phật đạo? Và, muốn thành tựu đạo quả vô sanh, người tu hành nên học tập như thế nào? Chắc giờ này các bạn đã có thể tự trả lời cho mình hai câu hỏi vừa nêu!
Các bạn!
Để giúp bà Vi Đề Hi và Tần Bà Sa La thoát khỏi bi kịch gia đình! Thế Tôn của chúng ta đã đi những bước ngoạn mục như:
1- Sử dụng Xá Lợi Phất trong vai trò tiếp thị, giới thiệu đến người tiêu dùng mà cụ thể là bà Vi Đề Hi sản phẩm độc đáo, đó là Thế Giới Cực Lạc qua bài Kinh A Di Đà!
2- Trưng bày sản phẩm và người tiêu dùng lựa chọn: “Bấy giờ đức Thế Tôn đang ở núi Kỳ Xà Quật biết rõ tâm niệm bà Vi Đề Hy, liền bảo hai tôn giả Mục Kiền Liên, A Nan theo lời yêu thỉnh bay đến cấm thất. Và chính Ngài cũng ẩn thân tại núi Kỳ Xà Quật, hiện ra nơi vương cung. Khi bà Vi Đề Hy lễ xuống vừa ngước đầu lên, đã thấy đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ngồi trên tòa sen bá bảo. Thân sắc tử kim rực rỡ bên tả có Mục Liên, bên hữu có A Nan đồng đứng hầu.
.........
Vi Đề Hy phu nhân thấy đức Thế Tôn, liền tự bứt chuỗi Anh Lạc đeo nơi thân, gieo mình phủ phục xuống đất, khóc lóc và thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kiếp trước con có tội chi nay sanh ra đứa con ác này. Và đức Như Lai lại có nhân duyên gì, mà cùng với Đề Bà Đạt Đa đồng làm quyến thuộc? Cúi xin đức Thế Tôn vì con giảng giải rộng những cõi nào không còn lo buồn khổ lụy để con được vãng sanh về đó.
Hiện nay con rất nhàm chán cõi Diêm Phù Đề nhơ khổ. Bởi cõi này dẫy đầy chúng địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, cùng nhiều điều lỗi lầm xấu ác. Con nguyện kiếp sau không còn thấy người dữ, không còn nghe tiếng ác nữa! Nay con gieo năm vóc trước đức Thế Tôn, tha thiết cầu xin sám hối! Nguyện đấng Đại Từ soi ánh huệ nhật, chỉ dạy cho con phép quán để sanh về chỗ nghiệp lành thanh tịnh.“
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, từ nơi tướng bạch hào giữa đôi mi, phóng ra ánh sáng vàng rực rỡ soi khắp vô lượng thế giới ở mười phương. Hào quang ấy trở lại trụ trên đảnh của Phật, hóa thành đài vàng như núi Tu Di. Những cõi nước trong sạch nhiệm mầu của chư Phật mười phương đều hiện rõ nơi tòa quang minh đó. Trong vô số quốc độ ảnh hiện ấy, có cõi do bảy báu hợp thành, có cõi thuần là hoa sen. Có cõi tráng lệ như cung trời Đại Tự Tại, có cõi sáng suốt như gương pha lê.
Vô lượng Tịnh Độ hiện bóng nơi đài quang minh, mỗi miền một vẻ rất rõ ràng, cực nghiêm đẹp. Sau khi dùng thần thông hiển thị các cõi trang nghiêm xong. Đức Thế Tôn bảo bà Vi Đề Hy nên tùy ý mình lựa quốc độ nào mà tâm mình ưa thích...
Bà Vi Đề Hy phu nhơn quan sát kỹ các Phật quốc rồi thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Các Tịnh Độ ấy tuy đều nghiêm sạch và có ánh quang minh. Nhưng nay con chỉ thích được sanh về thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Cúi xin đức Thế Tôn dạy con phép tư duy và chánh thọ”.
Khi ấy đức Thế Tôn liền mỉm cười, từ nơi miệng tuôn ra năm sắc quang minh, mỗi tia sáng đều chiếu đến đỉnh đầu vua Tần Bà Sa La. Lúc đó vua Tần Bà Sa La tuy bị giam cầm song tâm nhãn không chướng ngại. Từ nơi xa trông thấy đức Thế Tôn liền cúi đầu đảnh lễ, đạo căn tự nhiên tăng tiến, chứng được quả A Na Hàm....”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)
3- Chuyển giao sản phẩm và hướng dẫn cách sử dụng:
“Phật bảo Vi Đề Hy: “Ngươi là phàm phu, tâm tưởng yếu kém, chưa được thiên nhãn, không thể ở xa mà trông thấy cõi Cực Lạc. Chư Phật Như Lai có phương tiện lạ khiến cho ngươi được thấy cõi kia”.
Vi Đề Hy thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay con nhờ sức Phật được thấy quốc độ kia. Nếu sau khi Thế Tôn tịch diệt, những chúng sanh trược ác không lành, bị ngũ khổ bức não. Phải làm thế nào để được thấy Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc?”
Đức Phật bảo: “Vi Đề Hy! Ngươi và chúng sanh nên chuyên tâm, buộc niệm một chỗ, để tưởng cảnh giới Tây phương. Phương pháp quán tưởng ấy như thế nào? Phàm tất cả những người, nếu không phải bị mù từ lúc sơ sanh, đều thấy mặt trời lặn. Vậy ngươi nên ngồi ngay thẳng, hướng về phương Tây, tâm chú định một chỗ không được di động. Rồi quán tưởng mặt trời sắp lặn hình như cái trống treo. Khi đã thấy hình tướng ấy, phải chú tưởng cho thuần thục. Làm sao lúc nhắm mắt, mở mắt đều được thấy rõ ràng. Môn Nhật Quán này là phương pháp quán tưởng thứ nhứt.
Kế lại quán tưởng nước, thấy một vùng nước trong suốt đứng lặng. Phải thấy cho rõ ràng, ý đừng phân chia rối loạn. Khi thấy tướng ấy rồi nên tưởng nước đóng thành băng. Đã thấy băng trong ngần sáng ánh, lại tưởng đó là đất lưu ly. Đây là môn thủy tưởng, cũng là phép quán thứ hai....”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)
4- Kết quả: “Khi đức Thế Tôn nói lời ấy rồi, Vi Đề Hy phu nhơn cùng năm trăm thị nữ liền thấy tướng rộng dài của thế giới Cực Lạc, sắc thân của Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát. Tất cả đều sanh lòng vui mừng, khen là việc chưa từng có. Phu nhơn hoát nhiên đại ngộ, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nguyện sanh về Cực Lạc. Đức Thế Tôn thọ ký cho tất cả đều được vãng sanh và sau khi sanh về tịnh độ đều chứng Chư Phật Hiện Tiền tam muội. Vô lượng chư thiên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề...”! (Trích Thập Lục Quán Kinh)!
Điều ngoạn mục của các bài kinh này ta có thể thấy là: Hứa vãng sanh ở vị lai, nhưng lại chứng vô sanh ngay hiện tại! Đây mới đích thực là mục tiêu chân chánh của Phật đạo!
Các bạn!
Có phân tích thấu đáo 16 pháp quán, chúng ta mới nhận ra mỗi một pháp quán đều ẩn chứa trong nó một giai đoạn nhất định của giáo pháp, đây là các giai đoạn bắt buộc người tu hành phải học tập, đúc kết và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống để chuyển hoá tâm thức!
Và suốt 16 phép quán không thiếu bóng dáng của giáo trình từ hết khổ, dứt tập và chứng diệt! Xét đến đây, chúng ta mới thấy sức hoá hiện thiện xảo ẩn chứa trong bài kinh là như thế nào!
Cho đến hiện tại, tính xác thực cùng xuất xứ của các cuốn kinh như A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ v.v... còn nhiều nghi vấn!
Tuy nhiên, nếu xét tính tích cực về nội dung của các bản kinh này một cách như pháp (như lí tác ý), ta thấy trong đó ẩn chưa một quy trình giáo hoá ngoạn mục, không muốn nói là độc đáo theo hướng tiếp cận phi truyền thống nhưng lại đạt được các mục tiêu của giáo pháp một cách chắc thật!
Tất nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra khi chúng ta trực nhận chiều sâu của giáo pháp được ẩn chứa dưới lớp vỏ ngữ ngôn thông qua hình ảnh từ các phép quán, cũng như logic giáo hoá của cách này so với mục tiêu của Phật đạo là hợp lí hay không!
Nhưng, cũng chính tính chân thực, xuất xứ và một số ngữ ngôn có thể đã bị thêm bớt hoặc thay đổi theo kiến giải chủ quan của người biên tập đời sau trong các bài kinh gây hiểu nhầm, hiểu sai... dẫn đến việc phát sinh một vài cách tu tập và mục tiêu không chính thống, nhưng được cho là của Phật đạo, điều này gây ra sự phản bác, đồng thời không được một số người chấp nhận! Vì thế vô hình trung, mọi giá trị tích cực từ các bài kinh nói trên bị phủ nhận theo cách đánh đồng chỉ vì một vài đáp án sai lầm do vô tình hay cố ý hoặc không nhận ra tinh tuý trong ấy!
Để làm rõ những gì liên quan đến đề tài này, phạm vi một bài viết chưa thể nêu hết quan điểm của mình! Bài viết như một tư liệu tham khảo trước, buổi sinh hoạt trực tuyến kì này chúng ta sẽ trao đổi sâu hơn những khúc mắc, những ẩn mật, những điều vô lí (nếu có) trong các tư liệu nêu trên!
Để buổi sinh hoạt đạt kết quả tốt, các bạn có thể tìm hiểu trước các bài kinh A Di Đà và Thập Lục Quán!
10/12/2021
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


