Lý Phúc Nhân Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 89.2026 với chủ đề: Lý Phúc Nhân Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!
Các bạn !!!
Sau đây là trả lời của Lý Phúc Nhân - MB 0888 ở Hà Nội:
"Kính thưa Thầy Lý Tứ!
Kính thưa bác Pháp Quang!
Con là Lý Phúc Nhân, học trò thứ 888 của Thầy Lý Tứ. Trước tiên con xin cảm ơn Thầy đã cho chúng con tham gia trả lời các câu hỏi của bác Pháp Quang!
Cảm ơn bác Pháp Quang đã gửi câu hỏi đến chuyên mục và tạo đương cơ tuyệt vời cho HĐ Lý Gia tham gia trả lời các vấn đề liên quan đến Kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa thuộc Pháp Vân môn, để HĐ Lý Gia “rèn thêm đao pháp”!
Sau đâu là phần trả lời của con:
Câu 1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
a) Phật dạy: “Hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp” – đây là lời Chân thật của Đức Phật. Có nghĩa thiệt tướng các pháp (các quan điểm quan niệm) không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã. Tự nó xưa nay vốn dĩ đã như vậy nên câu hỏi “vì sao các pháp bản lai rỗng lặng” có lẽ phải coi lại??? Vì nếu có lý do để các pháp rỗng lặng thì chẳng phải là “bản lai”, giống như hư không, nếu có cái gì đó sinh ra hư không thì hư không chẳng phải hư không!
b) Phật dạy Bản lai hữu tình Không Tâm, Không Pháp, nhưng chúng sinh mê nên sinh pháp đối đãi nhị nguyên như đúng sai, phải trái, thiện ác…Giác ngộ Tâm thức không còn nhị nguyên đối đãi…nên gọi là các pháp không hai. Như câu kinh tiếp theo Phật dạy: … “Chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, tạo ra mọi điều ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả, chịu đủ mọi khổ độc, hàng vô lượng ức kiếp, mà không tự biết để tìm lối ra.”
c) Quán sát được các pháp từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng…sẽ được Vô lượng nghĩa, đây là cảnh giới của Bồ tát Nhất thừa thể nhập Trung đạo siêu quá mọi suy luận của thế gian, Tâm Trí vị này luôn rỗng lặng mới có thể sinh vô lượng nghĩa, giống như hư không luôn rỗng lặng nhưng có thể thâm nhập bất kỳ nơi nào có khoảng trống!
Câu 2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"
Trả lời:
Để trả lời câu hỏi này rõ hơn, con xin trích đầy đủ đoạn kinh văn:
“Bồ Tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng như thế, đều biết cả rồi. Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt. Lại quán sát ngay nơi Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Quán sát như thế rồi, mà vào mọi căn tánh ham muốn của chúng sanh; vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.”
a) Các pháp (quan điểm, quan niệm) không tự tướng, có nghĩa tự nó không có tướng xấu, tướng đẹp, tướng cao tướng thấp…nói cách khác là tướng của các pháp bản lai rỗng lặng, do đó mới sinh vô lượng nghĩa. “Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy”. Có nghĩa bản lai pháp vô tướng nhưng chẳng phải không có pháp lành để hóa độ chúng sinh, Bồ tát khi thuyết pháp hóa độ chúng sinh nhưng trong lòng chẳng thấy có pháp, vì Phật pháp là Không pháp…thì mới gọi là “thật tướng”
b) Vì sao Vô tướng là Thật tướng?
Vì “Thật tướng là Nhất tướng, Nhất tướng là Vô tướng”, đây là chân ngữ của Đức Phật!
Câu 3.
Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"
Trả lời:
Kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”, đây là chân lý vì bản lai hữu tình Không Tâm, Không pháp, Tâm Trí luôn rỗng rang thanh tịnh, nhưng do chúng sinh Mê nên sinh Tâm hư vọng, Pháp hư vọng. Tâm và Pháp niệm niệm sinh diệt không ngừng nên chúng sinh luân hồi trong ba cõi, sáu đường. Bồ tát là những vị đã Giác Ngộ có Trí tuệ nên quan sát “niệm niệm chẳng dừng luôn sinh diệt” của chúng sinh để có phương tiện giúp người. Chúng sinh dứt mê, giác ngộ chân thật sẽ thấy các pháp không sanh diệt. Vì vậy, hai cái thấy này không trái ngược nhau, cũng chẳng phải không trái ngược nhau! Chỉ do Mê, Ngộ khác nhau nên mới thấy khác nhau!
Câu 4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"
Trả lời:
a) Có thể hiểu như vậy.
b) Trí tuệ “Vô tướng” là cảnh giới xuất thế, khi bi ngưỡng của chúng sinh hợp với bi nguyện của Bồ tát mà “sinh” ra vô lượng nghĩa để hóa độ chúng sinh, nhưng tánh “rỗng lặng” là thường nên không mất, giống như cái trống vậy, có người đánh sẽ kêu, không đánh không kêu, đánh nhiều kêu nhiều, đánh ít kêu ít…nhưng cái trống vẫn “rỗng lặng”.
Câu 5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"
Trả lời:
- Bản chất sự sai khác này là do nhận thức của người nghe khác nhau!
- Đức Phật có ba lần chuyển bánh xe pháp (chuyển pháp luân), tùy theo căn trí chúng sinh, tùy theo sự giác ngộ của để tử, tùy thời…mà thuyết pháp, nên người nghe cảm nhận ý nghĩa khác nhau, dó đó “văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác."
Câu 6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"
Trả lời:
a) “Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, văn lý chân chánh, không gì tôn hơn”, nên Kinh này chủ yếu dành cho Bồ tát Nhất thừa. Bồ tát sơ phát tâm chưa thực chứng mà đọc tụng và giảng nói kinh này thì chỉ tiếp cận trên ý nghĩa của văn tự, chứ không thể thâm nhập nghĩa lý thâm u sâu mầu của Đai thừa Vô lượng nghĩa!
b) Để họ (dù chưa thực chứng) có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, chỉ có cách tìm cầu Thiện Tri Thức cầu học chánh pháp cho đến khi giác ngộ và viên mãn Trí tuệ.
Câu 7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"
Trả lời:
a) Có thể hiểu như vậy!
b) “Ngôi nhà Chư Phật” là Bản Giác, là Pháp Bổn Trụ!
Trong Kinh Thủ Lăng nghiêm Phật dạy: “Chư Phật từ bản giác đi (chiếu) ra, chúng sanh từ thỉ (thuỷ) giác đi vào (ngộ được), chỗ gặp nhau gọi là đẳng!”
Câu 8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"
Trả lời:
Hình như bác Pháp Quang trích kinh không đầy đủ, nên đặt câu hỏi lại nói “Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao?”
Đoạn kinh trích từ Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba là ý muốn nói đến năng lực bất khả tư nghì của kinh này: "Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy cũng lại như thế, tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử.”
Kinh nói rất rõ: “Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia.”
Đây là hình ảnh minh họa, tuy vị Thuyền trưởng mắc bệnh nhưng có thuyền bè bền chắc…vẫn có thể đưa mọi người đi sang qua bờ bên kia.
Người trì kinh này cũng thế, tuy thân còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo,…đây là nói đến Phàm phu tướng của Bồ tát, có nghĩa nhục thân chịu qui luật của ba cõi, nhưng Trí tuệ viên mãn nhờ thấu suốt kinh này, nên được trang biện vô lượng nghĩa để cứu độ chúng sinh. Do đó “Đại bi” và “Phương tiện” không thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn.
Câu 9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"
Trả lời:
a) “Người đó” là những “chúng sanh nào được nghe kinh nầy dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Tuy chưa độ mình mà có thể độ cho người khác, và cùng các Bồ Tát để làm thân thuộc. Chư Phật Như Lai thường hướng về người ấy mà diễn nói kinh pháp; người ấy nghe rồi đều hay thọ trì, thuận theo chẳng trái, rồi lại vì người khác mà tùy nghi diễn nói rộng ra.” – Đây chính là năng lực của người đó, nên “phẩm vị không đến từ năng lực…” là không hợp lý.
b) Bất kỳ quan điểm nào đã nêu…thì “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” - đây là Thật ngữ của Phật
Câu 10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"
Trả lời:
Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp”…là nói đến sự chuyển biến của tâm thức! “Mê nghe kinh trọn kiếp, Ngộ chỉ một sát na”!
Câu 11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"
Trả lời:
a) Thẩm quyền giáo hóa nằm ở cả chứng lượng bản thân và sự trung thành với lời Phật dạy, vì không trung thành với lời Phật dạy thì chẳng thể có chứng lượng bản thân!
b) Kinh Kim Cang Phât dạy: “Tu Bồ Đề! Nếu phước đức có thật, Như Lai chẳng nói được nhiều phước đức. Vì phước đức là không, nên Như Lai nói là nhiều phước đức.”
Câu 12.
Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"
Trả lời:
a) “Vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương Bất động địa Bồ tát (Bát địa Bồ tát do tu hành sanh), Thất địa đại Bồ tát do Trí tuệ sanh!
b) Trong kinh ghi rõ: “Nếu thiện nam, thiện nữ…phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, …” Có nghĩa, Khi tâm Bồ Đề và đại bi chân thật phát khởi, thì các pháp Ba-la-mật sẽ tự nhiên xuất hiện trong đời sống. Ví dụ: Thấy kẻ nghèo khó thì thực hành bố thí, muốn lợi ích chúng sinh thì giữ giới, gặp nghịch cảnh thì tu nhẫn nhục…từ đó Trí tuệ tăng trưởng.
Câu 13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"
Trả lời:
a) Trí tuệ phát sinh thì gốc rễ vô minh tan rã, vô minh tan rã thì nghiệp chướng tiêu tan, mà được thanh tịnh.
b) … “nhất thời liền được tiêu tan” có nghĩa ngay tại thời điểm trí tuệ phát sinh thì nghiệp chướng liền tiêu tan. Trí tuệ là thường nên không có chuyện “nghiệp chướng tiêu tan nhất thời” giống như dùng phép tu chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường theo cách thế gian!
Câu 14
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"
Trả lời:
a) Là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong vị lai!
b) Đọc hiểu ý nghĩa, cho đến thấu suốt Kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa là đang “dần dần thấy được” cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại.
Câu 15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"
Trả lời:
Cả hai nhận định đều hợp lý! Thánh quả là những quả vị mà tâm thức người tu hành không còn khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc (đạo quả Vô lậu)
Kính Thầy!
Con, Lý Phúc Nhân - MB0888 (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
06/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


