Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 88.2026 với chủ đề: Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

Tháng 6 6, 2026 - 21:07
 0  7
Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

Các bạn !!!

Chiều nay, nhận được trả lời của Lý Chân Như ở Sài Gòn và Lý Phúc Nhân ở Hà Nội...!!! Mình sẽ lần lượt đăng lên chuyên mục...!!!

Sau đây là trả lời của Lý Chân Như - MĐ 0665:

"Kính thưa Thầy Lý Tứ!

Kính thưa hành giả Pháp Quang!!!

Con là Lý Chân Như, học trò thứ 665 của Thầy Lý Tứ, con đang ở Miền Đông. Con xin phép được trả lời 15 câu hỏi của hành giả bằng thấy biết của con. Xin tri ân công đức của Thầy.

Câu hỏi 1:

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quan sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm ThuyếtPháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Các Pháp rỗng lặng, không có hai pháp, vì bản chất các Pháp là: Không tự tánh – Không tự tướng – Không tự ngã vì các pháp là do duyên hợp. Khi các căn xúc đối với Trần, ta chạy theo những thấy nghe ngửi nếm xúc chạm nơi ngũ dục, rồi sinh ra các quan điểm, quan niệm về trần cảnh đó, gọi là các Pháp. Mà Phật chỉ ra rằng: Các Pháp này vô thường, do duyên hợp. Tức những quan điểm, quan niệm sinh khởi khi các căn xúc đối với trần ấy, không có chân lý, đúng với thời điểm này, sai với thời điểm khác. Đúng với người này, sai với người khác, đúng với quốc gia này nhưng lại sai với quốc gia khác. Phật chỉ ra rằng: “Các Pháp là vô thường, khi ta nương vào thứ vô thường là nhân của biến hoại, khổ đau, phiền não”. Phật cũng chỉ ra rằng: bản chất của các Pháp là thanh tịnh, không có tính trói buộc hay giải thoát. Sự trói buộc là do các căn của ta cấu nhiễm với Trần thiếu sánh suốt nên mới sinh ra những quan điểm, quan niệm nhị nguyên: đẹp – xấu, hơn– thua, đúng – sai, béo – gầy. Trong kinh Kim Cang Phật thuyết: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng." – Tức bất kỳ pháp nào có tướng, thì cái tướng ấy đích thị là tướng hư vọng. 

Ví dụ: Nếu cái chén uống trà, ta mặc định rằng cái chén này chỉ dùng để uống nước, không dùng để uống rượu, không dùng để uống thuốc được … thì ta chỉ giới hạn góc nhìn về cái chén này ở cái nghĩa uống trà. Sự giới hạn này do quan điểm quan niệm của ta mặc định cái chén này dùng để uống trà. Bởi vậy, khi ta phá bỏ cái “quan điểm quan niệm” cái chén để uống trà, thì cái chén ấy sẽ có … vô lượng nghĩa mà ta có thể hữu dụng trong sinh hoạt.

Câu 2:

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Con xin bổ sung đầy đủ bản dịch của Hoà thượng Thích Trí Tịnh trích đoạn như sau: "Vì ham muốn của chúng sinh vô lượng nên thuyết pháp vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Vô lượng nghĩa từ một pháp sinh. Một pháp ấy tức là vô tướng. Vô tướng như thế, không tướng mà chẳng phải không tướng, chẳng phải không tướng mà không tướng, đó gọi là thật tướng. Đã gọi là thật tướng thì không lớn không nhỏ, không sinh không diệt, không trụ không động, không tiến không lùi; cũng như hư không, không có hai pháp."

Vô tướng là nhất tướng, nhất tướng là thật tướng, nghĩa rằng: “Bản chất của các pháp là không có tự tướng.” Tức là các Pháp vốn tự nó thanh tịnh, mọi “tướng” do quan điểm, quan niệm định đặt đều là tướng hư vọng, không có chân lý.

Ví dụ: Cái bàn này dùng để học bài, là một pháp. Thực ra cái bàn này đủ duyên thì là cái bàn học, hết duyên gẫy mục thì làm củi đun. Cái bàn học này không có tướng cố định là cái bàn học (tức không có tự tướng, không là chính nó). Đủ duyên thì là bàn học, hết duyên là củi đun.

Câu 3: Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

- Tánh tướng của các pháp bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt là nói về bản chất.

Ví dụ: Một bông hoa sen không có tánh thơm hay thối, không có tướng hồng hay trắng, tất cả là do quan điểm định đặt của thế gian cho bông sen ấy. Bông sen và tánh tướng của bông sen ấy tự nó thanh tịnh khi chưa có sự định đặt của con người.

- “Niệm niệm sinh diệt chẳng ngừng không sinh diệt” – là nói về hiện tượng. Vừa khởi lên đã thay đổi. Ý niệm này mất đi thì ý niệm khác sinh ra. Không có một niệm nào tồn tại cố định.

Ví dụ: Hôm qua bác còn rất thân thiết với ông hàng xóm và nói: “Tôi rất tin tưởng ông bạn”. Nhưng sáng nay, bác phát hiện ông hàng xóm vô vườn nhà bác vặt trộm rất nhiều trái sầu riêng đem bán. Thì cái ý niệm “Tôi rất tin tưởng ông bạn” hôm qua chắc chắn sẽ thay đổi khi thấy hành vi ăn trộm của ông bạn hàng xóm.

Câu 4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và "vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời: Ta nhận thức bản chất vạn pháp đều là … vô tướng để ta không bị dính chấp vào bất kỳ tướng cố định nào gây trở ngại cho thính pháp! Trong kinh Kim Cang Phật thuyết: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” … tức là cứ thấy Pháp nào có tướng, thì cái tướng ấy đích thị là … tướng hư vọng.

Câu hỏi 5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời: Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa, bản chất sự sai khác này là đối tượng thính pháp khác nhau, do nguyện của các đối tượng thính pháp này khác nhau: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.

Câu hỏi 6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (PhẩmThuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời: Bất kỳ người tu hành nào đều phải học tập qua tứ niệm xứ và ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Những vị Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, khi có “nhất tâm như ý túc” trên con đường tu học, thì niềm tin vào đức Phật, vào giáo pháp sẽ mọc rễ trong tâm thức vị này. Ban đầu, vị Bồ tát phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh, họ dựa vào “như lý tác ý”, nương vào Phật thần lực để tiếp cận nghĩa ở nhiều mức độ khác nhau. Học Phật Pháp là học từ kiến thức cơ bản đến chuyên sâu theo thứ lớp, cho nên dù chưa thực chứng nhưng cũng có thể thấu hiểu giáo pháp nhờ học tập từ người thầy, từ kinh điển để có những kiến thức chắc thật của mình.

Câu hỏi 7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Để”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

a) Kinh này từ nhà Phật đi ra. Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ Đề. “Trụ ở Bồ Tát sở trụ” .Đây là vòng tròn của: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Câu này đúng.

b) Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì? Ngôi nhà chư Phật ở đây là Phật tánh, là nơi vốn có trong mỗi chúng sanh. Như lời Phật thuyết: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Việc tìm lại Phật tánh sẵn có trong mỗi chúng sanh được ví như việc “trở về ngôi nhà bổn tâm vốn thanh tịnh, vốn tự Niết bàn”.

Câu hỏi 8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời: Chỉ cần là người “trì kinh nầy” thì dù thân có vướng mắc nghiệp ngũ lậu, bệnh nặng nơi thân tâm thì cũng sẽ tìm được cứu cánh Niết bàn. Một người mà đã có phương tiện và tâm lượng đại bi rộng lớn rồi thì nhìn thấy người từng khổ như mình, có phát tâm muốn cứu giúp hay không khi phương tiện sẵn có trong tay rồi?

Câu hỏi 9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đứcthứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

a) Trong Kinh Duy Ma Cật có tư tưởng rằng Bồ-tát có thể thị hiện: Giàu sang, Nghèo khổ, Bệnh tật, Người hèn kém, Người bị xã hội xem thường. Mục đích của sự thị hiện này để tuỳ duyên độ sinh. Vị “Thái tử sơ sinh” xuất thân từ con trai của vua Tịnh Phạn, nhưng họ phải có “hạt giống” Phật thì mới có thể bước chân vào con đường tu tập, rồi cũng đi vào các ngôi làng làm hành khất để có đời sống khiêm hạ, tạo cơ hội cho cư sĩ bố thí. Ví dụ về hạt giống Phật trong thái tử sơ sinh là: Theo kinh điển chính thống: Thái tử sơ sinh không phải là Phật đã thành đạo. Ngài là Bồ-tát trong đời cuối cùng. Sau 35 năm tu học và thiền định, dưới cội Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài mới chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và trở thành Thích Ca Mâu Ni. Vì vậy, nếu nói ngắn gọn: Chủng tánh Phật của Thái tử Tất Đạt Đa là chủng tánh của một vị Bồ-tát đã viên mãn ba-la-mật qua vô lượng kiếp, chỉ còn một đời cuối cùng để thành Phật. Theo Đại thừa, đó cũng là sự hiển lộ gần viên mãn của Phật tánh vốn có nơi tất cả chúng sinh.

b) Không có sự mâu thuẫn về quan điểm: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì trước khi thái tử Tất Đạt Đa thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, ông cũng chỉ là một phàm phu.

Câu hỏi 10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu“đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

a) Câu khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” là nói khả năng tiến tu của một người không lệ thuộc vào thời gian, không gian vật lý. Mà muốn nói rằng: Nếu vị tu hành nào học đúng chánh pháp, chăm chỉ hành trì kinh này sẽ có ngày bùng vỡ trong một sát na nhận thức. Như Lục Tổ Huệ Năng lúc gánh củi nghe câu kinh: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm. Bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sinh tâm”. Rồi hoát nhiên giác ngộ bổn tâm thanh tịnh, chứng quả Niết bàn.

b) Sự chuyển hoá tâm thức, là sự “đốn ngộ” trong kinh đại thừa, tức là khả năng trực nhận chân lý ngay nơi một niệm, không phải do suy luận từng bước mà thấy thẳng được bản chất của tâm và các pháp. Không phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm như bác nói.

Câu hỏi 11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hoá nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời: Câu hỏi ở đây đã nêu rõ trong Phẩm Mười Công Đức: Vị vua thơ ấu cai trị đất nước hay nhà vua lúc cai trị đều không sai khác khi có sự uỷ thác. Vậy vị phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức của ai, người ấy hưởng, đâu phân bì phàm phu hay bậc thánh. Vì khi Phật sắp nhập Niết bàn, ngài A Nan có hỏi: “Sau khi ngài nhập niết bàn, tăng đoàn sẽ nương tựa vào đâu?" Đức Phật trả lời rằng: “Sau khi Ta diệt độ, giới luật sẽ là thầy của các ông.” Vậy vị nào y kinh thuyết pháp tức là y vào giới luật, mà giúp người đắc đạo, thì đã làm đúng tinh thần đức Phật truyền trao.

Câu 12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời: Nhiều người bị hiểu lầm khi đọc văn tự kinh: “Người thiện nam, thiện nữ… chưa tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước và ngay thân này thành tựu vô sanh pháp nhẫn, lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát”.

Ý kinh không nhất thiết nói rằng: Không cần tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Tự nhiên thành Thất Địa. Mà muốn nói: Khi người ấy thâm nhập thật nghĩa của kinh. Tâm tương ưng với thật tướng. Thì công hạnh của Lục độ bắt đầu hiện khởi một cách tự nhiên.

Ví dụ: Thấy vô ngã thì bố thí không còn chấp người cho, người nhận.

Thấy duyên sinh thì nhẫn nhục dễ thành tựu.

Câu hỏi 13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời: Vô minh là con đẻ của nghiệp thức. Khi thành tựu tam vô lậu học, ta sẽ biết con đường nào đưa ta đến vô minh, con đường nào đưa ta đến minh. Đồng thời với thành quả sơ ngộ đó, ta bắt đầu nếm vị ngọt “rìa đĩa mật” và biết con đường chắc thật đưa đến Niết bàn thanh tịnh để diệt trừ căn bản vô minh. Khi trí tuệ phát sinh thì các vô minh sẽ tịch diệt. Vô minh cuối cùng là vô minh trụ địa cũng tịch diệt khi thành tựu quả vị Phật.

Câu hỏi 14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

a) Sự thành tựu Pháp Vân Địa (địa thứ 10), là địa cao nhất giúp vị ấy trở thành một vị Biện tài vô ngại. Pháp Vân địa giống như mây lớn che khắp hư không rồi tuôn mưa nuôi dưỡng muôn loài, Bồ-tát ở địa này dùng trí tuệ và giáo pháp để lợi ích vô lượng chúng sinh. Pháp Vân Địa giúp Bồ-tát viên mãn năng lực thuyết pháp như: Thông đạt sâu xa vô lượng pháp môn, có thể tùy căn cơ mà thuyết pháp, không bị ngăn ngại bởi ngôn ngữ, nghĩa lý hay phương tiện giáo hóa. Vì vậy gọi là: Mây pháp che khắp và mưa pháp tuôn khắp. Đây chính là sự vi diệu mà một vị thành tựu giáo pháp có thể đạt được. Như Phật khẳng định: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” vì thế, việc thành tựu Pháp Vân Địa cũng là một sự thành tựu giúp bồ tát trên con đường làm công hạnh, giáo hoá chúng sanh, để hướng tới những sự bùng vỡ tâm thức lớn lao tiếp đó, thành tựu như một vị Phật.

b) “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại, giống như bác chưa đặt chân đến Hà Nội, nhưng bác đã có được các thông tin về thủ đô, các công trình tham quan du lịch, Hồ hoàn kiếm bằng ảnh chụp, tư liệu trên internet. Việc “giác” là cảm nhận cho đến ngộ là một hành trình học tập lâu dài, sự ngộ sẽ đến khi việc học tập đúng chánh pháp.

Câu số 15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời: Phàm phu chứng thánh quả vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại… thánh quả ở đây là Niết bàn diệt đế. Hoặc câu nói: Phàm phu Bồ Tát cũng đúng, thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu.

Con, Lý Chân Như - MĐ 0665" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

06/06/2026

LÝ TỨ

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow