Làm Thế Nào Để Có Được Niềm Vui Xuất Thế !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 30.2026 với chủ đề: Làm Thế Nào Để Có Được Niềm Vui Xuất Thế !!!

Tháng 1 12, 2026 - 12:17
 0  17
Làm Thế Nào Để Có Được Niềm Vui Xuất Thế !!!
ẢNH COPY TỪ INTERNET !!!

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được thư và những băn khoăn của bạn đọc Chánh Nhẫn ở Huế sau kì hỏi đáp 21/2026 vào ngày 29/12/2025...!!!

Kì 21/2026, bạn đọc Chánh Nhẫn có hỏi mình năm (05) câu hỏi liên hệ đến một số kết quả của việc giác ngộ trong đạo pháp...Sau khi trả lời, bạn đọc Chánh Nhẫn lại phát sinh một số trăn trở, lấn cấn đối với các trả lời ở kì đó nên mới có thư này...Cho nên, hôm nay chúng mình lại thảo luận tiếp...!!!

Bạn đọc Chánh Nhẫn thân mến !!!

Lý Tứ rất thông cảm với những trăn trở của bạn sau khi đọc trả lời kì 21/2026...!!!

Vì rằng, đối với các câu hỏi của bạn...Lý Tứ trả lời căn cứ vào thành tựu thực tế của một người đã giác ngộ...Do đó, với một người đang trong quá trình điều phục tâm thức, khi đọc lên và đối chiếu với bản thân, sẽ cảm thấy những trả lời ấy chưa hoàn toàn phù hợp với chỗ tu học của mình...Đây là điều dễ hiểu...!!!

Các bạn biết đấy...Tất cả mọi thành quả của Phật đạo từ thấp lên cao đều bắt nguồn từ giác ngộ...Tức, các thành quả này là sự thực chứng sau khi tâm thức đã được chuyển hoá như pháp và vị ấy hoàn toàn thể nhập cảnh giới ấy...Chứ không phải sự đạt được mang tính thời điểm của người còn trong quá trình điều phục tâm thức (chưa thật sự giác ngộ)...!!! Điều này giống như sức khoẻ của người không còn bệnh tật, hoàn toàn khác sức khoẻ của người bệnh đang trong thời kì chữa trị...!!!

Trong thư, bạn đọc Chánh Nhẫn có đối chiếu giữa một vài câu trả lời với ý của văn kinh...Về điều này, mình nghĩ giữa mình và Chánh Nhẫn còn phải thảo luận thêm ý nghĩa đích thực của các lời kinh đó là gì, việc ta hiểu đã chính xác hay chưa ??? Vì bởi, lời kinh viết là như vậy, ta hiểu ý nghĩa lời kinh ấy như thế nào mới được coi là phù hợp thì lại là chuyện cần bàn...Nếu ta hiểu chưa đúng hoặc sai lệch thì, câu chuyện sẽ dẫn đi một hướng khác...!!! Ví dụ như ý nghĩa của bốn tướng hay ngũ uẩn...vv...mà Chánh Nhẫn đã nêu...!!!

Trước khi trả lời bổ sung các thắc mắc của Chánh Nhẫn...Mời mọi người xem thư của bạn ấy...!!!

"Thưa Thầy Lý Tứ,

Tôi là Chánh Nhẫn. Trước hết, xin cảm ơn Thầy đã bỏ thời gian trả lời những điều tôi từng thưa hỏi. Đọc lại phần hồi đáp của Thầy, tôi thấy rõ nơi đó một tinh thần tu hành khá thoáng, không nặng hình thức, cũng không câu nệ chữ nghĩa. Điều này, thật ra, tôi rất trân trọng.

Tuy vậy, nói thật với Thầy, sau khi đọc xong, tôi vẫn cứ thấy trong lòng còn vài chỗ lấn cấn, không hẳn là phản đối, mà là chưa thật sự yên. Trong quá trình tự quán chiếu lại mình, rồi đối chiếu với những gì đã học, đã đọc trong Kinh điển từ trước tới nay, tôi vẫn thấy có vài điểm chưa thông. Sợ rằng nếu không hỏi cho rõ, lâu ngày những “tưởng là hiểu” đó sẽ thành ra lệch lạc lúc nào không hay. Vì vậy, tôi xin mạo muội viết thêm mấy dòng này, mong Thầy hoan hỷ chỉ dạy thêm.

Về chuyện dứt Kiết sử, Thầy nói rằng người dứt thật thì tự mình biết rất rõ, vì tâm luôn vắng lặng, an vui, bất động. Nghe thì tôi cũng thấy hợp lý. Nhưng khi nhớ lại những chỗ Đức Phật dạy trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, tôi lại sinh nghi. Trong kinh, Ngài phân tích kiết sử, lậu hoặc rất kỹ, và cũng nhấn mạnh đến việc đoạn tận hay chỉ là đè nén. Tôi tự hỏi, nếu chỉ dựa vào cảm giác an lạc, vắng lặng thì làm sao tôi biết đó là đoạn tận thật, hay chỉ là nhờ sức định mà đè xuống tạm thời? Tôi rất sợ cái cảnh “đá đè cỏ”, lúc yên thì thấy mình ổn, mà khi gặp việc lớn, việc trái ý, thì tham sân lại bật lên như cũ. Nếu được, mong Thầy chỉ cho tôi một cách tự soi, một dấu hiệu nào đó dựa vào Kinh điển, để người tu không tự lừa mình mà tưởng đã xong việc.

Đến chỗ Thầy nói về việc “biết tôi đang làm”, rằng điều đó không liên hệ gì đến ngã hay không ngã. Tôi hiểu ý Thầy muốn nói, và cũng không dám phủ nhận ngay. Nhưng trong lòng vẫn thấy chưa yên. Tôi thường tự nhắc mình câu trong Kinh Kim Cang: “Nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân… thì chẳng phải Bồ-tát”. Khi đang làm việc thiện, mà trong tâm vẫn rất rõ ràng “tôi biết tôi đang làm việc này”, thì cái “tôi” đó là gì? Có phải là một dạng rất vi tế của chấp ngã, của Mạt-na thức chưa buông? Tôi sợ rằng cái “biết” ấy, nếu không cẩn thận, lại biến thành “của tôi”, thành ngã sở lúc nào không hay. Mong Thầy nói rõ hơn cho tôi chỗ ranh giới này, giữa tỉnh giác thật sự và cái biết vẫn còn dính ngã.

Về việc tịch diệt và trách nhiệm, Thầy nói người giác ngộ thì không thấy khác giữa việc đời và việc đạo, nên không có mâu thuẫn. Nói thì rất hay, nhưng khi quay lại đời sống thực tế, tôi thấy mình vẫn loay hoay. Trong Kinh Lăng Già, nói đến “tịch diệt chúng sinh chủng tánh”, tức là dập tắt các tập khí phàm tình. Nhưng trong đời sống gia đình, xã hội, tôi vẫn phải lo toan, tính toán, phân biệt đủ thứ. Có lúc phải quyết đoán, có lúc phải lo lắng, thậm chí phải phiền não để gánh việc. Tôi thấy rất khó để vừa giữ tâm “tịch diệt” như trong kinh nói, mà vẫn tròn vai một người chồng, người cha, hay một người sống giữa xã hội. Không biết trong Kinh điển có chỉ ra một cách hành trì cụ thể nào để “vào đời mà không nhiễm”, hay đây chủ yếu là nói về thái độ tâm, chứ không phải là thực tại sinh hoạt?

Về chuyện “bão hòa” trong tu tập, chỗ này tôi cũng khá lo. Thầy nói khi thấy cảnh giới bị bão hòa thì nên nâng cao tri kiến. Nhưng tôi sợ nhất chữ bão hòa này. Trong đạo Phật, tôi từng nghe nhiều về lỗi “đắc thiểu vi túc”, mới có chút an ổn đã tưởng đủ, rồi dừng lại. Làm sao tôi biết mình thật sự đã tới lúc cần học pháp sâu hơn, hay chỉ là do tâm lười biếng vi tế, hoặc do đang mắc kẹt trong hỷ lạc của thiền định? Có dấu hiệu nào giúp người tu lâu năm tự biết mình đang đi đúng tiến trình văn – tư – tu, mà không phải chỉ đang “đứng yên trong cảm giác dễ chịu” không, thưa Thầy?

Cuối cùng, về Bát-nhã và an vui xuất thế gian, Thầy ví như mặt trời và ánh sáng, tôi nghe cũng thấy thấm. Nhưng rồi tôi lại tự hỏi, cái “an vui” đó rốt cuộc có còn là một loại cảm thọ không? Nếu Bát-nhã là thấy rõ ngũ uẩn đều không, thì cảm thọ cũng không thể là chỗ nương. Nếu tôi vẫn còn hướng đến một “niềm vui”, dù gọi là thượng thượng, thì liệu có phải tôi đang nuôi dưỡng một dạng ái rất vi tế đối với trạng thái tâm an lạc? Làm sao để đạt được sự an vui ấy mà không biến nó thành đối tượng để nắm giữ, để đúng là giải thoát, chứ không phải đổi từ khổ thô sang lạc vi tế?

Thưa Thầy, những điều trên đây tôi viết ra với tâm rất thật, không phải để bắt bẻ câu chữ, mà vì sợ mình hiểu chưa tới, rồi tự đi lệch lúc nào không hay. Mong Thầy lượng thứ cho lời văn còn vụng, ý còn lặp, và hoan hỷ chỉ dạy thêm cho tôi thấy được chỗ cốt lõi của pháp.

Kính chúc Thầy thân tâm an ổn.

11/01/2026 - 20:30:26 - Chánh Nhẫn - Huế" (Hết thư)

Chánh Nhẫn và bạn đọc thân mến !!!

Về các trăn trở của Chánh Nhẫn...Lý Tứ xin được giải thích như sau:

- Hỏi:

"Về chuyện dứt Kiết sử, Thầy nói rằng người dứt thật thì tự mình biết rất rõ, vì tâm luôn vắng lặng, an vui, bất động. Nghe thì tôi cũng thấy hợp lý. Nhưng khi nhớ lại những chỗ Đức Phật dạy trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc, tôi lại sinh nghi. Trong kinh, Ngài phân tích kiết sử, lậu hoặc rất kỹ, và cũng nhấn mạnh đến việc đoạn tận hay chỉ là đè nén. Tôi tự hỏi, nếu chỉ dựa vào cảm giác an lạc, vắng lặng thì làm sao tôi biết đó là đoạn tận thật, hay chỉ là nhờ sức định mà đè xuống tạm thời? Tôi rất sợ cái cảnh “đá đè cỏ”, lúc yên thì thấy mình ổn, mà khi gặp việc lớn, việc trái ý, thì tham sân lại bật lên như cũ. Nếu được, mong Thầy chỉ cho tôi một cách tự soi, một dấu hiệu nào đó dựa vào Kinh điển, để người tu không tự lừa mình mà tưởng đã xong việc."

- Trả lời:

a) Thư trước mình có nói rõ...Như người bệnh, hết hay chưa tự biết...Cũng như dấu hiệu nhận biết về việc tạm thời dứt do kìm nén...Đề nghị Chánh Nhẫn đọc kĩ đoạn trả lời kì trước, mình xin trích lại: "Giống như người bệnh, hoàn toàn hết bệnh hay tạm thời thuyên giảm nhờ tác dụng của thuốc, người ấy cảm nhận rất rõ...!!! Người hoàn toàn dứt kiết sử, ngoài việc vị ấy không còn tham sân như hồi chưa giác ngộ...mọi thời, mọi nơi tâm thức luôn vắng lặng, an vui, bất động...vv...!!! Người do kìm nén nên kiết sử tạm thời bị chế ngự, tuy tham sân không hiện khởi, nhưng tâm thức không được những điều hi hữu như người kia...!!!"

b) Tâm cảnh của người đã giác ngộ dứt kiết sử (không còn bệnh), hoàn toàn khác với các vị đang trong quá trình thực hành các học pháp đoạn trừ lậu hoặc (đang chữa bệnh)...!!!

c) Muốn thoát khỏi tình cảnh nhầm lẫn của việc "lấy đá đè cỏ" cũng như biết cách tự kiểm định bản thân...Không có con đường nào khác hơn là, "phải học tập chánh pháp để giác ngộ chân thật"...!!!

- Hỏi:

"Đến chỗ Thầy nói về việc “biết tôi đang làm”, rằng điều đó không liên hệ gì đến ngã hay không ngã. Tôi hiểu ý Thầy muốn nói, và cũng không dám phủ nhận ngay. Nhưng trong lòng vẫn thấy chưa yên. Tôi thường tự nhắc mình câu trong Kinh Kim Cang: “Nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng nhân… thì chẳng phải Bồ-tát”. Khi đang làm việc thiện, mà trong tâm vẫn rất rõ ràng “tôi biết tôi đang làm việc này”, thì cái “tôi” đó là gì? Có phải là một dạng rất vi tế của chấp ngã, của Mạt-na thức chưa buông? Tôi sợ rằng cái “biết” ấy, nếu không cẩn thận, lại biến thành “của tôi”, thành ngã sở lúc nào không hay. Mong Thầy nói rõ hơn cho tôi chỗ ranh giới này, giữa tỉnh giác thật sự và cái biết vẫn còn dính ngã."

- Trả lời:

a) Bồ tát giác ngộ, làm việc biết mình làm việc...Không liên hệ gì đến cái tôi hay bốn tướng...!!! Vì, cái tôi hay bốn tướng thuộc về tâm cảnh của người "chưa giác ngộ"...!!!

b) Ranh giới của người đã giác ngộ và người chưa giác ngộ, giống như khác biệt về thấy biết một vật nào đó của người trong bóng tối và người ngoài ánh sáng...!!!

- Hỏi:

"Về việc tịch diệt và trách nhiệm, Thầy nói người giác ngộ thì không thấy khác giữa việc đời và việc đạo, nên không có mâu thuẫn. Nói thì rất hay, nhưng khi quay lại đời sống thực tế, tôi thấy mình vẫn loay hoay. Trong Kinh Lăng Già, nói đến “tịch diệt chúng sinh chủng tánh”, tức là dập tắt các tập khí phàm tình. Nhưng trong đời sống gia đình, xã hội, tôi vẫn phải lo toan, tính toán, phân biệt đủ thứ. Có lúc phải quyết đoán, có lúc phải lo lắng, thậm chí phải phiền não để gánh việc. Tôi thấy rất khó để vừa giữ tâm “tịch diệt” như trong kinh nói, mà vẫn tròn vai một người chồng, người cha, hay một người sống giữa xã hội. Không biết trong Kinh điển có chỉ ra một cách hành trì cụ thể nào để “vào đời mà không nhiễm”, hay đây chủ yếu là nói về thái độ tâm, chứ không phải là thực tại sinh hoạt?"

- Trả lời:

a) Giác ngộ chân thật, "cái khó" mà bạn đã nêu sẽ không còn...!!!

b) Tổ Huệ Năng dạy: "Xông đao phá trận cũng thanh tịnh..."!!! Kinh Lăng Già Phật dạy: "Hoặc loạn tức thường"...!!!

- Hỏi:

"Về chuyện “bão hòa” trong tu tập, chỗ này tôi cũng khá lo. Thầy nói khi thấy cảnh giới bị bão hòa thì nên nâng cao tri kiến. Nhưng tôi sợ nhất chữ bão hòa này. Trong đạo Phật, tôi từng nghe nhiều về lỗi “đắc thiểu vi túc”, mới có chút an ổn đã tưởng đủ, rồi dừng lại. Làm sao tôi biết mình thật sự đã tới lúc cần học pháp sâu hơn, hay chỉ là do tâm lười biếng vi tế, hoặc do đang mắc kẹt trong hỷ lạc của thiền định? Có dấu hiệu nào giúp người tu lâu năm tự biết mình đang đi đúng tiến trình văn – tư – tu, mà không phải chỉ đang “đứng yên trong cảm giác dễ chịu” không, thưa Thầy?"

- Trả lời:

a) "Bão hoà" khác với “đắc thiểu vi túc” bạn đã nêu...!!! Đề nghị Chánh Nhẫn đọc lại đoạn trả lời ở kì trước: "Khi nào cảm nhận cảnh giới ta thành tựu bị bão hòa...Tức tâm trí không cần cầu tinh tấn...Đấy là lúc, phải nâng cao việc học tập lên tri kiến cao hơn...!!!"

b) Phải tâm niệm: "Chưa chứng Vô Thượng Bồ Đề, ta phải tinh tấn tu học"...Tâm niệm này, giúp người tu lâu hay mới tu không dừng lại hay thối chuyển...!!!

- Hỏi:

"Cuối cùng, về Bát-nhã và an vui xuất thế gian, Thầy ví như mặt trời và ánh sáng, tôi nghe cũng thấy thấm. Nhưng rồi tôi lại tự hỏi, cái “an vui” đó rốt cuộc có còn là một loại cảm thọ không? Nếu Bát-nhã là thấy rõ ngũ uẩn đều không, thì cảm thọ cũng không thể là chỗ nương. Nếu tôi vẫn còn hướng đến một “niềm vui”, dù gọi là thượng thượng, thì liệu có phải tôi đang nuôi dưỡng một dạng ái rất vi tế đối với trạng thái tâm an lạc? Làm sao để đạt được sự an vui ấy mà không biến nó thành đối tượng để nắm giữ, để đúng là giải thoát, chứ không phải đổi từ khổ thô sang lạc vi tế?"

- Trả lời:

a) Cái vui của xuất thế gian thượng thượng là cái vui của trí tuệ lớn...Không thể so sánh với cảm thọ bình thường hay cảnh giới ngũ uẩn giai không...!!!

b) Muốn đạt được an vui này, phải thành tựu "vô sư trí"...!!!

Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bạn đọc Chánh Nhẫn thoả mãn những thắc mắc đã nêu...!!! Chúc Chánh Nhẫn và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

12/01/2026
LÝ TỨ

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow