Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (Sabbāsavā) !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 58.2025 với chủ đề: Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (Sabbāsavā) !!!

Tháng 11 9, 2025 - 14:47
 0  148
Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (Sabbāsavā) !!!
ẢNH COPY TỪ INTERNET !!!

Các bạn !!!

BQT vừa nhận được một số câu hỏi của Tỳ kheo Tâm Giác ở Huế...!!! Lời đầu tiên, xin chân thành cảm ơn Sư Thầy đã tin tưởng chuyên mục nên tiếp tục gởi các câu hỏi...!!!

Sau đây là nội dung thư và các câu hỏi:

"Kính gửi Thầy Lý Tứ,

Lời đầu, tôi xin phép được thay mặt sư huynh Pháp Tánh, trân trọng tri ân lời vấn an chân tình và đầy kính trọng của Thầy. Hiện tại sư huynh đang bận nhiều Phật sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và chưa trở lại Huế. Khi Ngài hồi sơn, tôi sẽ trực tiếp chuyển lời vấn an của Thầy tới Ngài.

Tôi đã đọc bài Thầy phúc đáp các câu hỏi tôi đã thưa hỏi liên quan đến Kinh Căn Tu Tập (Trung Bộ số 27), và trong lòng khởi lên sự hoan hỷ và cảm kích vô biên. Phong thái giải đáp của Thầy không chỉ sâu sắc về mặt giáo lý mà còn rất chân thành, thể hiện rõ tinh thần cầu thị và bình đẳng trong Pháp.

Vấn đề Bà-la-môn Pasariya dùng ý chí để chế ngự các căn, như Thầy đã giảng giải, quả là "hữu vi nên thô" và "hành động thô thiển của kẻ thiếu trí". Sự đồng cảm lớn nhất của tôi nằm ở chỗ, khi người tu hành thiếu tuệ tri mà chỉ dùng ý chí để "đóng" hay "kiểm soát" các căn, thì đó chỉ là sự đàn áp tạm thời, làm mất đi năng lực sáng suốt vốn có của căn. Đây là một sự sai lầm căn bản mà người tu thiền cần phải tránh.

Tôi cũng rất thấm thía với lời Thầy dạy về "xả" trong câu: "Do xả, nên cái này trở thành an tịnh, việc làm này trở thành thù diệu". Quả thật, việc xả phải xuất phát từ tuệ tri, từ sự thấu suốt bản chất vô thường, vô ngã của cảm thọ. Nếu không biết mà đã xả, e rằng đó là sự vô cảm hay buông xuôi, chứ không phải là sự xả của bậc Thánh, một hành động mà Thầy đã dẫn trong Thập Bát Bất Cộng của Phật: "Không có sự không biết mà đã xả" (Vô bất tri dĩ xả). Điều này làm sáng tỏ thêm con đường trí tuệ trong Phật Pháp.

Nhân đây, với tinh thần đồng đạo pháp lữ và cầu học, tôi xin được nêu lên một vài điểm còn trăn trở xoay quanh Kinh Tất Cả Lậu Hoặc (Kinh Sabbāsavā – Trung Bộ số 2), kính mong Thầy rộng lòng khai thị thêm.

Vấn Nạn Xoay Quanh Kinh Tất Cả Lậu Hoặc

1. Mối Tương Quan giữa "Thấy như Thật" và "Chế Ngự"

Kinh dạy rằng lậu hoặc được đoạn trừ do Thấy như thật (như lý tác ý), do Chế ngự (chế phòng), và năm pháp khác.

Thầy có thể giảng rõ hơn mối tương quan giữa hai pháp "Thấy như thật" và "Chế ngự" hay không? Phải chăng "Chế ngự" ở đây không phải là sự đè nén các căn theo kiểu Bà-la-môn Pasariya, mà là một sự chủ động, sáng suốt và uyển chuyển, được dẫn dắt bởi cái "Thấy như thật"? Làm thế nào để một hành giả có thể khéo léo vận dụng cả hai mặt "thấy" và "chế ngự" này trong đời sống hằng ngày?

2. Pháp "Tránh Né" trong Bối Cảnh Hiện Đại

Kinh liệt kê những đối tượng và hoàn cảnh mà vị Tỳ-kheo cần phải "tránh né" một cách khôn ngoan, như voi dữ, chó dữ, những hố xí...

Trong bối cảnh hiện đại, pháp "Tránh né" nên được hiểu và áp dụng như thế nào cho khế lý? Có phải đôi khi sự "tránh né" các trường hợp duyên xấu cũng chính là một biểu hiện của trí tuệ và sự chánh niệm tỉnh giác, thay vì là một sự sợ hãi hay chạy trốn?

3. Phân Biệt giữa "Trừ Diệt" và "Xả"

Kinh dạy phải "Trừ Diệt"các tư tưởng bất thiện đã khởi lên.

Vậy, sự khác biệt căn bản giữa "Trừ diệt" các lậu hoặc này với sự "Xả" mà Thầy đã giảng trong phần Vô Thượng Căn Tu Tập là gì? Có phải "Trừ diệt" là nỗ lực tinh tấn đoạn trừ các phiền não thô, còn "Xả" là trạng thái tâm vượt lên trên mọi tầng lớp cảm thọ một cách tự nhiên, sau khi đã thấu triệt chúng?

4. Sự Cân Bằng giữa Giới và Tuệ

Toàn bộ bảy pháp đoạn trừ lậu hoặc dường như là một tiến trình tu tập rất năng động và linh hoạt, bao gồm cả Giới (như chế ngự, tránh né) và Tuệ (như thấy như thật, tu tập).

Xin Thầy chỉ dạy, làm thế nào để một hành giả có thể giữ được sự cân bằng giữa hai yếu tố này, để không rơi vào cực đoan khổ hạnh ép xác, cũng không rơi vào sự buông lung trong danh nghĩa của "xả"?

5. Dấu Hiệu của Kết Quả Thực Tập

Khi một hành giả thực hành bảy pháp đoạn trừ lậu hoặc một cách tinh cần, làm sao để vị ấy tự mình nhận biết được các lậu hoặc đang thực sự được đoạn giảm, ngoài việc cảm nhận sự an tịnh nội tại? Có những dấu hiệu cụ thể, khách quan nào trong cách ứng xử với sáu trần, để hành giả có thể y cứ mà tự tin rằng mình đang đi đúng hướng trên con đường Thánh giới luật này?

Những lời giảng của Thầy như ngọn đuốc soi đường. Kính mong Thầy tiếp tục dùng biện tài vô ngại để khai mở thêm cho chúng tôi.

Kính chúc Thầy pháp thể khinh an, thân tâm thường an lạc.

07/11/2025 - 14:53:34 - Tỳ Kheo Tâm Giác - Huế"

Sư Thầy Tâm Giác và bạn đọc thân mến !!!

Trước khi trả lời các câu hỏi...Lý Tứ xin được trình bày sơ lược một vài cảm nhận, quan điểm của bản thân sau khi đọc bài kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc...!!!

Vì rằng đối với Lý Tứ, việc cảm nhận, phân tích một bài pháp nào đó trong quá trình tìm hiểu rất quan trọng...Trong quá trình đọc tụng, học tập mà, ta chưa cảm nhận thấu đáo, chưa thấy hết "những điểm nhấn" trong một bài pháp, sẽ rất khó giúp ta có một cái nhìn đa chiều, khó thấy được ý vị cốt lõi, cũng như khó tìm được chiếc chìa khoá để khai thông mạch nguồn của bài pháp...!!!

Các bạn !!!

Đọc Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc...Ta thấy, Phật đã chỉ ra có đến bảy (7) cách để đoạn trừ gồm: 1) Do tri kiến được đoạn trừ; 2) Do phòng hộ được đoạn trừ; 3) Do thọ dụng được đoạn trừ; 4) Do kham nhẫn được đoạn trừ; 5) Do tránh né được đoạn trừ; 6) Do trừ diệt được đoạn trừ; 7) Do tu tập được đoạn trừ...!!!

Trong bảy phương pháp đoạn trừ ấy, nếu để ý kĩ, ta sẽ thấy được chia thành hai nhóm, đó là:

Nhóm thứ nhất, nhờ "như lý tác ý" mà "các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt"...!!! Từ đó vị ấy như lí tác ý: “Ðây là khổ”, như lý tác ý: “Ðây là khổ tập”, như lý tác ý: “Ðây là khổ diệt”, như lý tác ý: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ..." !!!

Nhóm thứ hai, nhờ "như lý giác sát" mà "các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa..."...Nhờ thế, "Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc do thực hành (sáu pháp còn lại) mà được đoạn trừ...!!!

Bây giờ, chúng ta thử khảo sát sự khác biệt và giống nhau của hai nhóm nói trên...!!!

Điểm giống nhau: Cả hai nhóm, đều có một điểm chung đó là tất cả mọi cách thức đoạn trừ lậu hoặc trong giáo pháp đều phát khởi từ "như lí"...!!! Như vậy có thể hiểu, "như lí" hay "như pháp" chính là giềng mối, là xuất phát điểm quan trọng giúp người tu hành thành công trong quá trình chuyển hoá tâm thức đúng với tinh thần đạo pháp...!!! Ngược lại, những cách thức nào, không xuất phát từ "như lí", hoặc những cách thức nào xuất phát từ "phi lí"...nếu có thành công đều chẳng phải "một thiện pháp", thậm chí nó trở thành "một ác pháp"...!!!

Điểm khác nhau: Đồng thời cả hai nhóm đều xuất phát từ "như lí"...tức như giáo pháp mà đoạn trừ...Nhưng, nhóm thứ nhất, lấy "như lí" để "tác ý"...Từ tác ý này, vị ấy có thể tiếp tục tác ý các pháp thắng diệu hơn như: "Ðây là khổ tập; Ðây là khổ diệt; Ðây là con đường đưa đến khổ diệt !!!" Và cũng: "Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc do tri kiến được đoạn trừ..." !!!

Sự thắng diệu của "như lí tác ý" chính là, pháp đoạn trừ này có thể giúp hành giả xâm nhập cảnh giới giác ngộ, mà cụ thể là thánh quả Tu đà hoàn (căn cứ vào đoạn ba kết)...!!! Trong khi đó, nếu hành giả cũng lấy xuất phát điểm từ "như lí" nhưng, chỉ "như lí giác sát" thì, kết quả sau cùng của sự giác sát đó chỉ dừng lại ở: "Nhờ như lý giác sát mà các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa..." !!! Sự "không còn nữa" ở đây chỉ có thể được coi là, thứ biện pháp tạm thời trong quá trình đoạn trừ, nó không mang tính cốt lõi giúp đoạn trừ tận gốc lậu hoặc và tuệ tri để tiến vào thánh quả...!!!

Bây giờ, chúng ta khảo sát sự khác nhau giữa "tác ý" và "giác sát"...!!!

Như lí tác ý (yoniso manasikāra) là gì ???

"Như lý tác ý là chú ý đúng đắn, hợp lý, một thuật ngữ Phật học chỉ cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách sáng suốt, không bị chi phối bởi tham, sân, si. Nó là một phương pháp rèn luyện tâm trí để đưa ra những suy nghĩ và hành động thiện lành, hướng đến sự giải thoát...." !!! (Theo AI) !!!

Còn theo Từ điển pháp số Pāḷi-Anh-Việt thì, “Như lý tác ý; khéo tác ý, tác ý chân chính, chú ý có hệ thống, tư duy có phân tích; phản ánh có biện luận; suy nghĩ trong điều kiện cụ thể, suy nghĩ theo luật nhân quả.” !!! (Từ điển pháp số Pāḷi-Anh-Việt) !!!

Như lí giác sát (yoniso patisankhàna) là gì ???

"Như lý giác sát là một kỹ thuật quan trọng trong Phật giáo, là sự nhận biết tỉnh táo và sáng suốt của tâm thức. Nó là một phần của "giác sát" (mindfulness), là phương pháp thực hành chú ý đến hiện tại một cách có chủ đích, không phán xét, và giúp người thực hành phân biệt cái tốt, cái xấu để tránh khổ đau và đạt đến giác ngộ..." !!! (Theo AI) !!!

Còn theo Phật giáo A Lưới thì, "Như lý giác sát là một thuật ngữ Phật học hàm ý sự chú tâm nhận biết về thực tại tâm thức, ý thức rõ về ý nghĩa chính đáng của mỗi việc làm hay sự việc mà mình đang thực hiện nhằm bảo đảm sự việc ấy được chân chánh, hiền thiện, phục vụ cho mục đích tu học đạo lý giác ngộ hướng đến hoàn thiện con người, hoàn thiện nhân tính..." !!! (Theo Phatgiaoaluoi.com) !!!

Sau khi thẩm xét hai khái niệm "tác ý" và "giác sát", ta dễ nhận ra sự khác biệt của chúng, đó là: Một bên dùng tuệ giác, như pháp quán chiếu bản chất của lậu hoặc, nhằm giúp thấu tỏ mà đoạn trừ...Một bên nhắm thẳng đến sự việc bằng chính giáo pháp, để nhận biết (lậu hoặc ấy) nhằm đưa đến tỉnh giác mà đoạn trừ...!!!

Như vậy, ta có thể kết luận: "Như lí tác ý" trong quán sát, tư duy, thực hành giáo pháp...luôn mang trong nó tính ưu việt, bởi chính hàm lượng trí tuệ chứa trong việc làm ấy...Đây được coi là nguồn cơn giúp hành giả dễ dàng giác ngộ sau này...!!! Trong khi đó, "như lí giác sát", chỉ thuần tuý nương tựa vào giáo pháp để dập tắt lậu hoặc, trong ấy tính đối trị, nhất thời, không phát khởi từ tuệ giác...Sẽ là cản ngại trên bước đường tiến về giác ngộ (thánh quả)...!!!

Theo mình, sau khi có những cảm nhận, đánh giá các điểm nhấn mang tính cốt lõi của bài kinh...Ta dễ dàng trả lời các câu hỏi có liên quan một cách thoả đáng...!!!

Sau đây là nội dung các câu trả lời:

- Hỏi:

1. "Mối Tương Quan giữa "Thấy như Thật" và "Chế Ngự"

Kinh dạy rằng lậu hoặc được đoạn trừ do Thấy như thật (như lý tác ý), do Chế ngự (chế phòng), và năm pháp khác.

Thầy có thể giảng rõ hơn mối tương quan giữa hai pháp "Thấy như thật" và "Chế ngự" hay không? Phải chăng "Chế ngự" ở đây không phải là sự đè nén các căn theo kiểu Bà-la-môn Pasariya, mà là một sự chủ động, sáng suốt và uyển chuyển, được dẫn dắt bởi cái "Thấy như thật"? Làm thế nào để một hành giả có thể khéo léo vận dụng cả hai mặt "thấy" và "chế ngự" này trong đời sống hằng ngày?"

- Trả lời:

a) Theo những gì đã phân tích ở trên, ta thấy: "Thấy như thật" hay "như lí tác ý" hoặc "dùng tuệ giác" trong quá trình chuyển hoá tâm thức...Luôn là phương cách tu tập thù thắng hơn biện pháp sử dụng giáo pháp để chế ngự tâm thức như giác sát...!!!

b) "Như lí giác sát", hay dùng giáo pháp để "chế ngự" tâm thức trong tinh thần Phật đạo...Hoàn toàn không giống cách "dùng ý chí dập tắt tâm ý" của Bà-la-môn Pasariya...!!! Bởi, như lí giác sát được giáo pháp (như lí) dẫn khởi, do đó mặc dù hành động này cũng là "một hữu vi pháp" nhưng cách ứng dụng của nó "không thô thiển" trong mù tối như cách làm của người thiếu trí mà điển hình là cách dạy của Bà-la-môn Pasariya...!!!

c) Nếu không hoặc chưa thể dùng trí tuệ để "như lí tác ý" thì, có thể dùng sáu pháp còn lại để chế ngự tâm thức...!!! Đây là hai phương thức giải quyết vấn đề khác biệt tiêu biểu của một Độn A la hán và một A la hán đa văn...!!!

- Hỏi:

2. "Pháp "Tránh Né" trong Bối Cảnh Hiện Đại

Kinh liệt kê những đối tượng và hoàn cảnh mà vị Tỳ-kheo cần phải "tránh né" một cách khôn ngoan, như voi dữ, chó dữ, những hố xí...

Trong bối cảnh hiện đại, pháp "Tránh né" nên được hiểu và áp dụng như thế nào cho khế lý? Có phải đôi khi sự "tránh né" các trường hợp duyên xấu cũng chính là một biểu hiện của trí tuệ và sự chánh niệm tỉnh giác, thay vì là một sự sợ hãi hay chạy trốn?"

- Trả lời:

Người tu hành, việc sử dụng biện pháp né tránh trong một số hoàn cảnh nhất định nào đó, có thể được coi là cách giải quyết vấn đề bằng chính trí tuệ...Vì thế, việc làm ấy không hoàn toàn mang trong nó chủ kiến của sợ hãi hay chạy trốn...!!!

- Hỏi:

3. "Phân Biệt giữa "Trừ Diệt" và "Xả"

Kinh dạy phải "Trừ Diệt"các tư tưởng bất thiện đã khởi lên.

Vậy, sự khác biệt căn bản giữa "Trừ diệt" các lậu hoặc này với sự "Xả" mà Thầy đã giảng trong phần Vô Thượng Căn Tu Tập là gì? Có phải "Trừ diệt" là nỗ lực tinh tấn đoạn trừ các phiền não thô, còn "Xả" là trạng thái tâm vượt lên trên mọi tầng lớp cảm thọ một cách tự nhiên, sau khi đã thấu triệt chúng?"

- Trả lời:

a) Trừ diệt trong đạo pháp, gần giống với "như lí giác sát"...!!! Xả của đạo pháp, là kết quả của tuệ tri hay như lí tác ý...!!! Xả pháp chính là hình ảnh Vô Thượng Căn Tu Tập của bậc thánh...!!!

b) Sử dụng biện pháp trừ diệt để đoạn trừ là "hạ sách" trong đạo pháp"...!!! Xả để đoạn trừ, mới là hành động thắng diệu của bậc hiền trí...Cho dù đó là lậu hoặc, phiền não, kiết sử...vv...thô hay tế...!!!

- Hỏi:

4. "Sự Cân Bằng giữa Giới và Tuệ

Toàn bộ bảy pháp đoạn trừ lậu hoặc dường như là một tiến trình tu tập rất năng động và linh hoạt, bao gồm cả Giới (như chế ngự, tránh né) và Tuệ (như thấy như thật, tu tập).

Xin Thầy chỉ dạy, làm thế nào để một hành giả có thể giữ được sự cân bằng giữa hai yếu tố này, để không rơi vào cực đoan khổ hạnh ép xác, cũng không rơi vào sự buông lung trong danh nghĩa của "xả"?"

- Trả lời:

a) Chỉ khi nào ứng dụng thành thục ba học pháp vô lậu mới có thể giúp hành giả cân bằng giữa giới, định và tuệ...Vì rằng, chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, lập tức các học pháp vô lậu còn lại tự thành tựu do đặc tính "vô lậu bản nhiên" của tâm thức...!!! Còn lại, tất cả các học pháp hữu vi, hữu lậu, thế gian...vv... đều không có đặc tính "ba trong một" này...!!!

b) Đạo pháp chân chánh được xây dựng từ nền móng trí tuệ và trung đạo...Vì thế, đạo pháp chân chánh không hề có các cảnh giới hay hành trạng phát xuất từ sự mù tối bởi cực đoan, khổ hạnh, ép xác, buông lung...vv...!!!

- Hỏi:

5. "Dấu Hiệu của Kết Quả Thực Tập

Khi một hành giả thực hành bảy pháp đoạn trừ lậu hoặc một cách tinh cần, làm sao để vị ấy tự mình nhận biết được các lậu hoặc đang thực sự được đoạn giảm, ngoài việc cảm nhận sự an tịnh nội tại? Có những dấu hiệu cụ thể, khách quan nào trong cách ứng xử với sáu trần, để hành giả có thể y cứ mà tự tin rằng mình đang đi đúng hướng trên con đường Thánh giới luật này?"

- Trả lời:

a) Khi nào khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ...vv...giảm dần đến tịch diệt hoàn toàn, tâm thức an tịnh...Biết rằng, các biện pháp dứt trừ lậu hoặc mà ta áp dụng là đúng hướng...Và, ngược lại...!!!

b) Trong "Thánh giới luật": Sáu trần đồng một trần...Một trần tức không trần...!!!

Sư Thầy Tâm Giác và bạn đọc thân mến !!!

Những cảm nhận và trả lời vừa rồi, chỉ dựa vào "tri kiến chủ quan" của Lý Tứ...Tri kiến này, không đại diện và cũng không phải tất cả...!!! Hi vọng, những gì đã viết, có thể giúp Sư Thầy và bạn đọc có thêm một tư liệu tham khảo trong quá trình học tập...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

08/11/2025

LÝ TỨ

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow