HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (1) !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 68.2025 với chủ đề: HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (1) !!!

Tháng 11 24, 2025 - 10:19
Tháng 11 24, 2025 - 10:19
 0  107
HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (1) !!!
ẢNH COPY TỪ INTERNET !!!

Các bạn !!!

Hôm nay, mình nhận được một bài thơ (không đề tựa) của bạn đọc có Pháp danh Tần Mục ở Hà Nội...Và, trả lời của Lý Thái Đăng, Lý Hiền Long và Lý Thu Thuỷ về các phản biện của bằng hữu Ngã Hành...!!!

Lẽ ra, đợi đến hết kì hạn là 15:00 ngày 25/11/2025 sẽ tổng kết rồi gởi đi một lượt...Nhưng, sau khi đọc trả lời của HĐ, mình thấy các câu trả lời rất dài, nếu tổng hợp và đăng vào một kì chuyên mục, sẽ vượt quá dung lượng cho phép một bài đăng của facebook...Cũng như, một lần phải đọc đến 15 câu trả lời, người đọc rất khó có thể phân tích, đánh giá cụ thể từng trả lời, dẫn đến rối rắm...!!!

Cho nên, mình quyết định...Sau khi nhận được một số trả lời nào đó, xét thấy đủ dung lượng cho một kì, mình sẽ gom các trả lời đó đăng lên...Làm như thế, bằng hữu Ngã Hành cùng bạn đọc có thời gian, thư thả để đọc phân tích, đánh giá...vv...từng trả lời một...!!!

Sau khi đưa ra thời hạn chót để các HĐ gởi trả lời về mình là 20:00 ngày 25/11/2025 trên chuyên mục kì 67/2025...Sáng nay, mình mới trực nhớ 20:00 ngày Thứ Ba, 25/11/2025 trùng với buổi sinh hoạt định kì Vô Đối Môn của Lý Gia...Cho nên, buộc phải dời hạn chót gởi trả lời vào lúc 15:00 (thay vì 20:00)...Mong các bạn thông cảm...!!!

Trong mỗi chuyên kì mục đăng trả lời của HĐ Lý Gia, phần chủ đề mình sẽ để tên "HĐ LÝ GIA TRẢ LỜI PHẢN BIỆN BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH (1)" !!! Các kì chỉ khác nhau ở con số trong ngoặc đơn (..)...Ví dụ: (1); (2);....!!! Để tránh nhầm lẫn...!!!

Sau đây là bài thơ của bạn đọc Tần Mục ở Hà Nội và trả lời của Lý Thái Đăng, Lý Hiền Long và Lý Thu Thuỷ...!!!

1- THƠ TẦN MỤC

Tây Hồ lạnh, hai mươi lăm năm

Hắc lao sâu, một bóng lầm than

Thư Lý Gia, cửa ngục bỗng mở

Xiềng rơi xuống, gió thoảng ngát hương

Thầy hoá khách, áo vải thâm trầm

Không quở mắng, chỉ mỉm cười thầm

“Ta từng khổ, ba mươi năm ngục

Đêm trăng sáng, tự phá tan xiềng”

Mười lăm kiếm, Ngã Hành vung tới

Sắc lạnh lùng, gió rít đêm đen

Thầy chẳng đỡ, chỉ đưa vào lò

“Rèn đi con, lửa hãy còn nguyên”

Từ bi ấy, không lời hoa mỹ

Chỉ một thoáng, địch đã thành thân

Người phản biện, thành người hộ pháp

Ngọn lửa cũ, bỗng cháy ngàn lần

Lý Gia ơi, đứng lên đáp kiếm

Mài lưỡi gươm, sáng thêm chánh pháp

Ngã Hành ơi, xin nhận ngọn đèn

Thầy trao rồi, chớ để đêm tàn

Một que củi, ta nguyện cháy hết

Cho Tây Hồ, hoa nở ngút ngàn.

23/11/2025 - 0:00:04 - Pháp Danh Tần Mục - Hà Nội"

2- TRẢ LỜI CỦA LÝ THÁI ĐĂNG:

"Con Xin trả lời truy vấn:

Kính thưa Thầy !!!

Con xin trả lời truy vấn của độc giả Ngã Hành:

“1. Truy Vấn Lý Thái Đăng (TN0147) - Về A-lại-da và Chân Tâm

Lý Thái Đăng ví: "A-lại-da thức ví như đám mây. Chân Tâm ví như mặt trời. Đám 'Mây hư vọng' không còn thì trời lại sáng, hết mưa thì nắng hửng lên thôi!!!"

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu Chân Tâm ví như Mặt Trời (luôn sáng, thường trụ) và A-lại-da ví như Đám Mây (che khuất), thì theo logic này, khi Mây (A-lại-da) tan biến, Mặt Trời (Chân Tâm) sẽ tự hiển lộ. Vậy, lý thuyết "Chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí" (chuyển một cái gì đó sang một cái khác) trong Duy Thức tông có vẻ dư thừa và không cần thiết chăng?

Mặt Trời có "chuyển" thành Trí tuệ gì không? Nếu không, tại sao lại dùng danh từ "Đại Viên Cảnh TRÍ" thay vì chỉ nói "Chân Tâm hiển lộ"? Sự khác biệt cốt lõi giữa "Trí" và "Tâm" (trong ngữ cảnh Duy Thức) nằm ở đâu mà phải dùng đến thuật ngữ "chuyển" phức tạp như vậy?”

Trả lời:

Theo thống kê của AI: “Chuyển Thức Thành Trí” (將識成智 / 轉識成智) là giáo lý đặc trưng của Du-già – Duy Thức tông (Yogācāra), được trình bày trong nhiều kinh – luận, nhưng không nằm trọn trong một bài kinh duy nhất. Tuy nhiên, có những kinh quan trọng nêu rõ giáo lý này:

Kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocana Sūtra – 解深密經)

Đây là nguồn kinh điển quan trọng nhất trình bày về:

• 8 thức

• Tam tánh (biến kế – y tha – viên thành)

• Chuyển y (āśraya-parāvṛtti) – tức sự chuyển hóa căn bản, nền tảng của “chuyển thức thành trí”.

Kinh mô tả rất rõ quá trình:

• A-lại-da thức được chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí

• Mạt-na được chuyển thành Bình Đẳng Tính Trí

• Ý thức chuyển thành Diệu Quan Sát Trí

• Tiền ngũ thức chuyển thành Thành Sở Tác Trí

Nền tảng lý luận về “chuyển thức thành trí” xuất phát từ kinh này…”

Độc giả Ngã Hành truy vấn Thái Đăng, nhưng câu trả lời đã có tại bài viết của ST Lý Phương Anh (câu 2):

“1. Cần hiểu:

- Chuyển A lại da thành Đại Viên Cảnh Trí là chuyển thức mê (trói buộc, u tối) thành thức giác (giải thoát, minh liễu)...Tức chuyển cảnh giới của tâm thức từ mê sang giác chứ không chuyển tri thức.

- Chân tâm bản chất không sanh diệt. Nhưng khi mê, hư vọng pháp vọng khởi, tâm thức lập tức sanh diệt.

2. Xét:

Ví dụ kinh điển đã được nêu trong Kinh: Giống như bản chất đèn không có quầng, nhưng khi mắt nhặm lập tức thấy đèn có quầng....

3. Kết luận:

Chuyển ở đây, chính là việc làm cho mắt hết nhặm, chứ không phải chuyển để đèn từ có quầng trở thành không quầng.

Chuyển này là sự thật, nhưng sự thật này chỉ xảy ra đối với những người giác ngộ.” (Lý Phương Anh).

Xin tán thán ST Phương Anh có câu kết rất chân lý “Chuyển này là sự thật, nhưng sự thật này chỉ xảy ra đối với những người giác ngộ.” !!!

Dưới góc nhìn của Thái Đăng, bài viết của Thầy Lý Tứ trích dẫn những câu trả lời của học trò và bài viết của ST Lý Phương Anh đã hoạ nên một bức tranh cảnh giới về tâm thanh tịnh trí bát nhã, có thể ví mỗi câu trả lời (được Thầy Lý Tứ trích dẫn) là một chìa khoá. Ai nắm được chìa khoá đúng lúc và tra ngay vào ổ khoá thì nhà Như Lai mở toang !!!

Tây nguyên 23/11/2025

Học trò Lý Thái Đăng"

3- TRẢ LỜI CỦA LÝ HIỀN LONG:

"Con thưa thầy, con là Lý Hiền Long, MĐ863, được sự cho phép của Thầy, con xin phép trả lời bạn đọc Ngã Hành về câu truy vấn bạn đọc gởi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI - 67/2025 !!!

Xin chào bạn đọc Ngã Hành,

Tôi là Lý Hiền Long, rất hoan hỷ nhận được câu truy vấn của bạn đọc gởi đến chuyên mục. Tin rằng với tinh thần cầu thị, những câu hỏi của bạn đọc không chỉ giúp chúng tôi có cơ hội cọ sát thêm với các loại câu hỏi khác nhau của người cầu học Phật đạo, mà biết đâu có thể giúp bạn đọc nhận ra được điều gì đó vượt ra ngoài văn tự ngữ ngôn thường tình.

Câu hỏi Truy Vấn Lý Hiền Long (MĐ863) - Về Danh Xưng Tàng Thức

Lý Hiền Long phân loại: Phàm phu vô văn có Hàm Tàng Thức (chứa đựng tri thức, cảm xúc, đánh giá). Vị thành tựu Diệt đế có Bạch Tạng Thức (thuần lưu trữ tri thức, tịch diệt cảm xúc, đánh giá). Vị viên mãn trí tuệ có Như Lai Tạng (kho tàng lưu trữ kiến thức, tri thức dùng làm phương tiện thiện xảo).

NGÃ HÀNH HỎI:

Các danh xưng Hàm Tàng Thức, Bạch Tạng Thức, Như Lai Tạng này có phải là thuật ngữ chính thống được tìm thấy trong các bộ kinh luận chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa (như Duy Thức Tam Thập Tụng, Thành Duy Thức Luận, Lăng Già Kinh, Pháp Hoa Kinh) không?

Đặc biệt, "Bạch Tạng Thức" được định nghĩa là trạng thái sau khi thành tựu Diệt Đế và thấy được bổn tâm, bổn tánh. Diệt Đế là quả vị A-la-hán, một vị đã sạch lậu hoặc, nhưng chưa phải là "viên mãn trí tuệ" (Phật). Vậy, "Bạch Tạng Thức" có phải là Thức thứ Tám của A-la-hán không? Nếu là Thức thứ Tám của A-la-hán, tại sao nó lại chỉ thuần lưu trữ kiến thức, tri thức mà không còn vai trò "tổng báo" (duy trì thân mạng) và "năng tàng" (chứa nghiệp chủng tử) nữa? Vai trò đó đã được chuyển cho ai?

Trả lời:

Trước khi trả lời bạn đọc, tôi xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc vì không dò lỗi đánh máy, nên đã viết nhầm Bạch Tịnh thức thành Bạch Tạng Thức. Bạch Tịnh Thức mang ý nghĩa như tôi đã viết ở lần trả lời trước: Là một nơi thuần thanh tịnh (Tịnh), trắng bạch (Bạch), chỉ lưu trữ tri thức, hoàn toàn tịch diệt cảm xúc và các đánh giá đúng sai, tốt xấu. Nếu bạn đọc là người đã thực chứng ý nghĩa của Bạch Tịnh Thức, thì tôi tin rằng cho dù tôi viết nhầm thành Bạch Tạng Thức, bạn đọc vẫn sẽ hoan hỷ, hiểu được ý nghĩa và sẽ không bị kẹt mắc ở từ ngữ. Phật dạy y nghĩa bất y ngữ chính là như vậy.

Về ý thứ nhất trong câu hỏi: “Các danh xưng Hàm Tàng Thức, Bạch Tạng Thức, Như Lai Tạng này có phải là thuật ngữ chính thống được tìm thấy trong các bộ kinh luận chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa (như Duy Thức Tam Thập Tụng, Thành Duy Thức Luận, Lăng Già Kinh, Pháp Hoa Kinh) không? Xin trả lời như sau:

• Như Lai Tạng (如來藏) là thuật ngữ CHÍNH THỐNG xuất hiện nhiều trong Kinh Lăng Già, Kinh Thắng Man.

• Bạch Tịnh Thức (白淨識), cũng gọi là Vô Cấu Thức (無垢識) là thuật ngữ CHÍNH THỐNG trong Duy Thức Tam Thập Tụng.

• Hàm Tàng Thức (含藏識) là thuật ngữ CHÍNH THỐNG - đây chính là một trong các dị danh của A Lại Da Thức, Tàng Thức. Thứ thứ tám này có nhiều dị danh khác nhau nhưng đồng chỉ một thứ. Trong Kinh Lăng Già là A Lại DaThức, Tàng Thức, trong Kinh Giải Thâm Mật là “A Đà Na Thức”.

Nói “Hàm Tàng Thức” là để giải thích rõ thêm về ý nghĩa 含 (hàm) là chứa đựng, bao hàm; 藏 (tàng) là nơi tàng trữ, là kho chứa; 識 (thức) là những nhận thức, kiến thức, tri thức. Vì A Lại Da có khả năng "hàm chứa tất cả chủng tử", nên có gọi nó là Hàm Tàng Thức thì cũng không sai ngữnghĩa so với định nghĩa về A Lại Da Thức trong Kinh Lăng Già, lại vừa giúp người học hiểu rõ về nghĩa chân thật của thức thứ tám này.

Tóm lại, cả ba thuật ngữ này đều là danh xưng chính thống được tìm thấy trong kinh điển và luận thư chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa. Chúng không phải là thuật ngữ tự sáng tạo mà có căn cứ rõ ràng trong Tam Tạng.

Về ý thứ hai trong câu hỏi: “…Vậy, "Bạch Tạng Thức" có phải là Thức thứ Tám của A-la-hán không? Nếu là Thức thứ Tám của A-la-hán, tại sao nó lại chỉ thuần lưu trữ kiến thức, tri thức mà không còn vai trò "tổng báo" (duy trì thân mạng) và "năng tàng" (chứa nghiệp chủng tử) nữa? Vai trò đó đã được chuyển cho ai?” Xin trả lời như sau:

Bạch Tịnh thức là tên gọi khác của Tàng Thức, là thức thứ tám của một A-La-Hán sau khi đã được chuyển hóa, hoàn toàn tịch diệt lậu hoặc và tất cả những cảm xúc, đánh giá.

Tuy ta gọi tên nó là thức thứ tám, nhưng phải hiểu rằng mỗi hữu tình tựu trung cũng chỉ có một cái thức, chính là món thứ năm trong ngũ ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thức đảm nhận nhiều công việc khác nhau, tại mỗi thời điểm sẽ có một tên gọi khác như nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức. Khi hiểu được điều này, thì sẽ hiểu được Thức cũng đảm nhận công việc gìn giữ mạng căn và chủng tử nghiệp, khi rời thân nghiệp này Thức sẽ được thúc đẩy để tìm đến thân nghiệp sau. Với phàm phu chưa giác ngộ, chủng tử nghiệp thiện hay ác sẽ thúc đẩy thức tìm thân sau tương ứng với Nghiệp. Với một vị đã giác ngộ viên mãn Diệt đế, Thức chuyển thành Trí, Trí này sẽ thúc đẩy hữu tình tìm thân mới theo Nguyện.

Do đó, với một vị A-La-Hán, sau khi thành tựu họ tuyên bố một trong tứ thành tựu đó là “bất thọ hậu hữu”, nghĩa là các chủng tử nghiệp hình thành đời sống luân hồi trong ba cõi đã hoàn toàn tịch diệt, điều này không có nghĩa là tất cả các chủng tử như nghiệp thiện, chủng tánh anh lạc, … cũng hoàn toàn tịch diệt.

Để hiểu thêm, mời bạn đọc Ngã Hành tham khảo PHẨM NHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM - Quyển Hai, Kinh Lăng Già, đoạn Phật trả lời ngài Đại Huệ:

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói ‘‘Như Lai Tạng’’, chẳng đồng với cái thuyết ‘‘Chơn Ngã” của ngoại đạo. Đại Huệ! Ta có lúc nói Không, vô Tướng, vô nguyện, Như thật tế, Pháp tánh, Pháp thân Niết Bàn, Lìa tự tánh, Bất sanh bất diệt, Bổn Lai tịch tịnh, Tự tánh Niết Bàn v.v... dùng những danh từ này để thuyết Như Lai Tạng xong, ấy là vì Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác muốn đoạn dứt sự e sợ danh từ vô ngã của phàm phu, nên nói cảnh giới lìa vọng tưởng, vô sở hữu là Như Lai Tạng.

Đại Huệ! Bậc Bồ Tát vị lai, hiện tại, chẳng nên sanh ngã kiến chấp trước. Ví như thợ gốm nơi một đống đất dùng phương tiện nhơn công, nước, cây, bánh xe quay để làm ra các món đồ gốm, thì Như Lai cũng như thế; ở nơi pháp vô ngã lìa tất cả tướng của vọng tưởng, dùng đủ thứ trí huệ, phương tiện khéo léo, hoặc thuyết Như Lai Tạng, hoặc thuyết vô ngã. Do nhân duyên này, nên cái thuyết Như Lai Tạng của ta chẳng đồng với cái thuyết chơn ngã của ngoại đạo. Vì khai mở cái trói chấp ngã của các ngoại đạo, nên có cái thuyết Như Lai Tạng, khiến họ lìa vọng tưởng ngã kiến chẳng thật, ngộ nhập cảnh giới ba cửa giải thoát, mong họ chóng được vô Thượng Bồ Đề."

4- TRẢ LỜI CỦA LÝ THU THUỶ:

"Kính gửi thầy!

Thân mến gửi bạn đọc Ngã Hành!

Con là Lý Thu Thuỷ, học trò thứ 665 của thầy, tại Miền Đông. Hôm nay độc giả Ngã Hành gửi truy vấn về câu trả lời của con. Con xin gửi lại phần trả lời thắc mắc của bạn đọc Ngã Hành bằng thái độ cầu thị, sự trân quý. Bởi với người học đạo, đây chính là cơ hội để học hỏi. Một cơ hội hiếm có trong cuộc đời người tu hành.

Sau đây, con xin trình bày phần thấy biết của mình:

Câu hỏi: Truy Vấn Lý Thu Thuỷ (MĐ0665) - Về Niết Bàn A- La - Hán và Bồ Tát:

Lý Thu Thuỷ nói: "Niết bàn A La Hán và Bồ Tát là sự thanh tịnh, bất động giải thoát, về cơ bản là giống nhau. Chỉ có thấy biết là khác nhau ... Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn mà tiếp tục trở lại thế gian độ tha."

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh chốt lại: "Niết Bàn của ba thừa giống nhau về Thể nhưng khác nhau về Trí và Dụng." Nếu Niết Bàn A- La- Hán và Bồ Tát giống nhau về Thể (Thanh tịnh, Giải thoát), thì thấy biết khác nhau (Trí) và hành động khác nhau (Dụng) là do đâu mà có?

Con xin tách câu hỏi của bạn đọc Ngã Hành làm 2 câu:

Câu 1: Nếu Niết Bàn A-la-hán và Bồ Tát giống nhau về Thể (Thanh tịnh, Giải thoát), thì thấy biết khác nhau (Trí) và hành động khác nhau (Dụng) là do đâu mà có?

Trả lời:

Sự giống nhau Niết Bàn Ba Thừa (A La Hán, Bồ Tát): Thanh Tịnh, Bất Động, Giải Thoát.

Thấy biết (Trí) và Hành động (Dụng) khác nhau do nguyện khác nhau:

Vì A La Hán khi chứng niết bàn diệt đế đã đạt được ý nguyện: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm xong, không còn trở lui sinh hữu này nữa.” (kinh: Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ). Tức là vị ấy không còn mong cầu điều gì thêm nữa.

Niết bàn của Bồ Tát: Dù cùng thể thanh tịnh, bất động, giải thoát nhưng phát nguyện của Bồ Tát khác với A La Hán, tiêu biểu là Tứ Hằng Thệ Nguyện (Kinh Pháp Hoa, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Hoa Nghiêm):

“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.”

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Với phát nguyện trên, Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn thanh tịnh, mà trở lại ba cõi để giáo hoá chúngsanh. Phát nguyện của Bồ Tát không dừng lại ở phần tựđộ mà phát tâm “độ tha” mãnh liệt đến độ hết vô biên chúng sanh”.

Tức là mục tiêu/phát nguyện khác nhau thì đích đến/kết quả đạt được khác nhau.

Ví dụ:

- Một người có phát nguyện chỉ cần học lấy bằng cử nhân để kiếm 1 nghề để tự nuôi thân là mãn nguyện rồi (đấy là A La Hán). Khi đỗ đại học, lấy được bằng cử nhân ra trường đi làm kỹ sư, nhà giáo là mãn nguyện rồi.

- Một người có tâm nguyện học lên thạc sĩ sư phạm, ra trường dạy nhiều người có được cái nghề nuôi thân để cuộc sống người ấy tốt hơn (đấy là Bồ Tát).

Câu 2: La- Hán nhập Niết Bàn (Vô Dư Y NiếtBàn) thì Tàng Thức không còn sinh khởi, khôngcòn tái sinh. Bồ Tát nhập Niết Bàn (Vô Trụ Xứ Niết Bàn) thì vẫn thị hiện sinh tử để độ chúngsinh. Thể Niết Bàn của A – La - Hán là sự Diệt Tận hoàn toàn (theo Tứ Đế), còn Thể Niết Bàn của Bồ Tát là sự Thường Trụ (theo Đại Thừa). Hai sự thật này về Thể (bản chất) có thật sự "giống nhau về Thể" không? Nếu giống, xin giải thích rõ sự tương đồng ấy.

Trả lời:

Thể - Trí – Dụng của Niết Bàn A – La – Hán và Thể Bồ Tát là thường trụ theo phân tích cụ thể sau:

Thể A La Hán: Thanh tịnh, giải thoát (Niết-bàn)

Trí A La Hán: Nhận biết phiền não đã đoạn tận

Dụng A La Hán: Tu tập, giáo hóa tùy duyên, mục tiêu giải thoát cá nhân.

Thể Bồ Tát: Thanh tịnh, giải thoát (Niết bàn)

Trí Bồ Tát: Biết vô lượng chúng sinh và pháp giới.

Dụng Bồ Tát: Hóa độ chúng sinh vô tận, tuỳ duyên hóa hiện, mục tiêu cứu khổ vô biên chúngsanh.

- Kinh nói Thể A La Hán và Bồ Tát giống nhau ở Thanh Tịnh – Giải Thoát: Phẩm Phổ Hiền.

- Kinh nói Trí A La Hán là kinh SaṃyuttaNikāya: Mô tả A-la-hán đã đoạn trừ lậu hoặc, thấy biết hết khổ, không còn trở lại sinh tử. Trí A-la-hán là trí vô lậu, trí giải thoát.

- Kinh nói Trí Bồ Tát: Kinh Duy Ma Cật có câu Phật dạy Duy Ma Cật: “Không trụ vô vi, không tânh hữu vi”

- Kinh nói về Dụng của Bồ Tát: Kinh Phổ Hiền thể hiện ở Bốn lời thệ nguyện của Bồ Tát.

- Kinh nói về Dụng của A La Hán là kinh Saṃyutta Nikāya: A-la-hán tu tập, giữ giới, thực hành thiền định, đạt Niết-bàn cá nhân. Nếu giáo hóa, chỉ tùy duyên, không như Bồ-tát hoá độ vô lượng chúng sinh. Mục tiêu cuối cùng của Dụng A-la-hán là giải thoát cá nhân, đoạn tận phiền não, sinh tử đã hết.

Kết Luận: Dựa vào sự phân tích trên, ta có thể nhìn thấy rõ sự giống nhau ở Thể, khác nhau ở Trí và Dụng rất rõ ràng." (Hết trả lời)

Chúc bằng hữu Ngã Hành và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

23/11/2025

LÝ TỨ 

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow