Trả Lời Phản Biện Của Bạn Đọc !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 23.2025 với chủ đề: Trả Lời Phản Biện Của Bạn Đọc !!!

Tháng 8 26, 2025 - 17:01
 0  88
Trả Lời Phản Biện Của Bạn Đọc !!!

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được một số phản biện của bạn đọc Pháp Tánh ở Huế !!! Nội dung như sau:

"Thưa tác giả Lý Tứ,

Trước hết, cho phép tôi bày tỏ lòng cảm ơn đến ông vì đã dành thời gian giải đáp những thắc mắc của tôi trong lá thư trước.

Qua phần trả lời, tôi thấy được nơi ông một tâm nguyện muốn trình bày Phật pháp như một nền giáo dục sống động, dễ tiếp cận cho đại chúng.

Điều tôi bất ngờ là ông đã trả lời rất nhanh những câu hỏi của tôi một cách tự tin và chắc thật - quả không hổ danh bạn đọc đã ngợi ca:

"Lý viên dung diệu pháp

Tứ thâm đạt tâm tông."

Tuy nhiên, với sự nghiên cứu Phật học của mình, tôi không khỏi băn khoăn trước một vài điểm trong lập luận của ông. Vì vậy, trong tinh thần cầu học, tôi xin được đưa ra 4 chủ đề phản biện, để mong làm sáng tỏ vấn đề.

1. Thứ nhất, về “thức mê” và “vô minh”.

Ông giải thích rằng thức mê là cách gọi khác của vô minh, nhưng đồng thời ví “thức mê như ngọn đèn tắt, vô minh như căn phòng vụt tối”. Như vậy, vô hình trung ông đã đặt chúng trong quan hệ nhân – quả. Nhưng nếu đã là đồng nghĩa thì vì sao cần phân tầng? Hơn nữa, trong hệ thống 12 nhân duyên, vô minh và thức vốn là hai chi riêng biệt. Nếu gộp chung như ông thì liệu còn giữ được mạch logic nhân quả trong giáo lý Duyên khởi không?

2. Thứ hai, về “nghĩa không”.

Ông phân biệt "tánh không là nhận thức", "rốt ráo không là tâm chứng", và "nghĩa không là trí chứng". Tôi nhận thấy đây là một cách lý giải khá mới mẻ, nhưng trong kinh Bát Nhã và các luận thư Đại thừa, tôi chưa thấy sự phân tầng này. Xin ông cho biết, cách chia này dựa trên y cứ kinh luận nào, hay là một kiến giải riêng? Nếu là kiến giải riêng, thì ông định vị nó ở đâu trong hệ thống Phật học truyền thống?

3. Thứ ba, về thoát ly chấp hữu – vô.

Ông cho rằng tất cả cảnh giới của Phật đạo đều do giác ngộ mà chứng nhập, chứ không phải do “cột trói vọng tưởng”. Tuy nhiên, lịch sử Phật giáo cho thấy các truyền thống từ Nguyên thủy đến Đại thừa, đặc biệt là Thiền tông, đều nhấn mạnh công phu thiền định, trì giới, quán chiếu là điều kiện tất yếu cho giác ngộ. Nếu bỏ qua công phu thực hành, chỉ nhấn mạnh “học và tư duy như pháp”, thì khác nào biến Phật pháp thành một lý thuyết thuần trí thức? Quan điểm của ông ở đây tôi cảm thấy đã làm nhẹ đi, thậm chí phủ nhận vai trò của thực hành thiền quán và giới luật trong quá trình tu tập. Ông có thấy sự mâu thuẫn này không?

4. Thứ tư, về căn bản giác ngộ.

Ông cho rằng giác ngộ là “hoát nhiên nhận ra” sau quá trình học và tư duy. Nhưng giác ngộ trong Phật pháp, nếu thiếu yếu tố hành trì thực chứng, thì dễ rơi vào “giác ngộ khái niệm”, chỉ dừng ở cấp độ ngôn ngữ, tri thức. Kinh điển luôn nhấn mạnh “đến để thấy” (ehipassiko), nghĩa là phải có trải nghiệm trực tiếp, chứ không chỉ nhận ra qua lý luận. Xin ông cho biết, ông phân biệt thế nào giữa “giác ngộ ngôn từ” và “giác ngộ thực chứng”? Và trong hệ thống ông đang trình bày, con đường nào để hành giả tránh khỏi cái bẫy của sự giác ngộ khái niệm?

Tôi nghĩ với người học đạo thì sự trao đổi thẳng thắn luôn cần thiết. Mong ông không e ngại mà cũng trực tâm bày tỏ rõ thêm, để tôi cùng nhiều bạn đọc khác có thể mở rộng cái thấy, tránh được sự chấp trước sai lệch trên con đường học Phật.

Kính chúc ông pháp thể khinh an, đạo tâm kiên cố.

Trân trọng,

25/08/2025 - 19:33:13

Pháp Tánh - Huế

Pháp Tánh và bạn đọc thân mến...!!!

Lời đầu tiên, Lý Tứ chân thành tán thán những phản biện mà bạn đọc Pháp Tánh đã gởi về chuyên mục sau trả lời kì 21/2025...!!!

Trong thư, bạn đọc Pháp Tánh có viết: "Tôi nghĩ với người học đạo thì sự trao đổi thẳng thắn luôn cần thiết. Mong ông không e ngại mà cũng trực tâm bày tỏ rõ thêm, để tôi cùng nhiều bạn đọc khác có thể mở rộng cái thấy, tránh được sự chấp trước sai lệch trên con đường học Phật." (Hết trích)

Pháp Tánh thân mến !!!

Về những gì đã nêu trong đoạn trích...!!! Lý Tứ từ trước đến giờ, vẫn luôn ghi nhận mọi góp ý, hoan hỉ trước mọi phản biện...vv...!!! Và cũng chưa từng "e ngại" hay "né tránh" trước bất kì thắc mắc nào của bạn đọc, hoặc chối bỏ điều mình đã nói...Mà, sẵn sàng trả lời theo năng lực...điều gì biết Lý Tứ nói rằng biết, điều gì không biết nói rằng không biết...Mong Pháp Tánh và bạn đọc yên tâm !!!

Về các phản biện, xin được trả lời như sau: (Câu hỏi dài, mạn phép không đăng lại để giảm thiểu dung lượng...Nếu bài viết dài quá, facebook sẽ cắt)

- Hỏi:

1. "Thứ nhất, về “thức mê” và “vô minh”.

- Trả lời:

Hầu như mọi người tu hành đều biết, 12 nhân duyên người xưa thường ví như 12 mắt xích trong một sợi dây xích...Chỉ cần 1 mắt bị đứt, lập tức toàn bộ các mắt xích mất kết nối...Theo tôi, ví dụ này hơi khó hiểu...!!!

Ta có thể đưa một ví dụ khác về 12 nhân duyên dễ cảm nhận hơn: 12 nhân duyên giống như một vòng lửa...Vòng lửa ấy, từ một đốm lửa được quay tròn, đi qua 12 điểm trong một quỹ đạo nhất định...Bất kì đốm lửa dừng ở điểm nào trên quỹ đạo ấy...Lập tức vòng tròn lửa tự mất...!!!

Từ ví dụ, ta thấy 12 chi trên vòng tròn 12 nhân duyên, thực chất chỉ là "sự duyên" (leo, men) của một đốm lửa (vô minh) mà thôi...!!! Như vậy, đốm lửa ở vị trí đầu tiên là nhân, duyên đến vị trí thứ 2 và cứ thế tiếp tục duyên đến 10 điểm khác trên quỹ đạo...tạo thành "vòng lặp" 12 nhân duyên...!!!

Và, đây cũng là lí do vì sao học thuyết này có tên gọi "thuyết 12 nhân duyên" chứ không gọi "thuyết 12 nhân quả"...!!! Do đó kinh dạy: "Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc...vv...!!!"

Ví dụ đèn tắt phòng tối...là minh hoạ nhân duyên chứ không phải nhân quả...Vì bóng tối không phải cái quả của nhân đèn tắt sinh ra...!!! Hình như Pháp Tánh hiểu nhầm ví dụ...!!!

Hoặc, giống như một người làm 12 chức nghiệp khác nhau (từ trong nhà đến xã hội)...!!! Tuy ở mỗi vị trí công việc, người đó có một danh xưng khác nhau...nhưng cũng chỉ một người...!!! Ở bất kì vị trí nào, nếu chẳng may người ấy mất đi...Lập tức các chức danh của người ấy cũng mất theo...!!!

Nói có 12 chi nhân duyên, là để người học dễ hình dung vòng luân chuyển tâm thức qua 12 giai đoạn có 12 tên gọi như thế (nhằm mô tả chức năng) chứ chẳng phải thực chất tâm thức có 12 chi riêng biệt như bạn đọc Pháp Tánh đã nêu...!!! Khi giác ngộ, hết vô minh...vòng luân hồi tự mất...!!!

Nếu 12 nhân duyên có 12 chi riêng biệt thì, không thể nào đoạn 1 chi mà các chi còn lại tự tịch diệt như tinh thần giáo pháp đã dạy (Bạn đọc có thể tìm hiểu pháp quán luân chuyển hoặc quán hoàn diệt)...!!!

- Hỏi:

2. Thứ hai, về “nghĩa không”.

- Trả lời:

a) Về Tánh không (không tánh), mời Pháp Tánh và bạn đọc tham khảo đoạn trích từ Giác Ngộ Online...sẽ hiểu "thực thể tối hậu của mọi hiện tượng" (hiện tượng hay những gì thấy nghe thuộc về nhận thức)...!!!

"Đối với Trung quán, tánh Không là một kinh nghiệm cảm nhận về thực thể tối hậu của mọi hiện tượng. Không dựa vào một tư duy mang tính cực đoan nào, không căn cứ vào một quan điểm nào, không đứng vào một vị thế nào thì đấy chính là phương cách giúp thấu triệt được tánh Không. Bởi vì tất cả các pháp từ nhân duyên sanh, duyên sanh chỉ là huyễn tướng của sự hòa hợp, bởi thế quán sát cái gọi là tự tính chân thật thì thấy chúng chẳng có mảy may một thực thể nào. Không có cái tự tánh thường trụ, độc lập tự thành nên gọi là tính Không. Nhưng tính Không không phải là sự phủ định nhân quả, mà chỉ muốn nói các pháp đều là giả danh" (giacngo.vn) !!!

Đoạn Đại Bát Nhã nói về các pháp (pháp thuộc nhận thức) như sau:

"Này Thiện Hiện! Ông nên biết các Đại Bồ-tát khi mới tu học Bồ-tát đạo, nên quán sát thật kỹ các pháp tự tánh nó đều không thể đắc, chỉ do chấp trước, hoà hợp mà tạo ra, nên quán sát thật kỹ tự tánh của các pháp hoàn toàn không, ở trong đó không nên chấp trước. Nghĩa là không nên chấp trước sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không nên chấp trước nhãn xứ cho đến ý xứ. Không nên chấp trước sắc xứ cho đến pháp xứ. Không nên chấp trước nhãn giới cho đến ý giới. Không nên chấp trước sắc giới cho đến pháp giới. Không nên chấp trước nhãn thức giới cho đến ý thức giới. Không nên chấp trước nhãn xúc cho đến ý xúc. Không nên chấp trước các thọ do nhãn xúc làm duyên sanh ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sanh ra..." (Trích Đại Bát Nhã - Tập 20 - Hoà Thượng Thích Trí Nghiêm dịch)

b) Về tâm chứng:

Kinh Kim Cang dạy: "Bất ưng trụ sắc sanh tâm...Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm..." Câu này ý nói: Nếu tâm không trụ vào bất kì thứ gì thì tâm không sanh...!!! Tâm không sanh (hay không tâm), Phật đạo gọi là rốt ráo không...!!! Vì thế, không hoặc rốt ráo không thuộc về tâm chứng...!!!

c) Về trí chứng:

Mời Pháp Tánh và bạn đọc tham khảo đoạn kinh Bát Nhã (Trí tuệ của Phật đạo) để nhận ra nghĩa không do trí chứng (Bát Nhã) là như thế nào...!!!

Trong đoạn trích dưới có câu: "Bát-nhã Ba-la-mật-đa sâu xa không nói, không nghe, không hiểu mà thường siêng năng tu học...."!!! Câu này ý nói: Muốn thấu đạt các "nghĩa không" (kể cả 18 pháp không) phải học Bát Nhã Ba La Mật để trí chứng các nghĩa ấy...!!!

"Này các Thiên tử! Các pháp như sắc… cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ-đề đều lìa văn tự, đều chẳng thể nói, cho nên đối với Bát-nhã Ba-la-mật-đa cũng không có người nói, không có người nghe, cũng không có người hiểu. Vì vậy, đối với các pháp, các ông nên theo những điều đã nói mà tu tập pháp nhẫn kiên cố. Những ai muốn trụ, muốn chứng quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán thì phải nương vào nhẫn đây mới trụ chứng được. Những người muốn trụ, muốn chứng quả Ðộc giác Bồ-đề cũng phải nương vào nhẫn đây mới trụ chứng được. Những ai muốn trụ, muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ-đề thì phải nương vào nhẫn đây mới trụ chứng được.

Như vậy, này các Thiên tử! Các đại Bồ-tát từ sơ phát tâm cho đến khi được Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ-đề, nên trụ Bát-nhã Ba-la-mật-đa sâu xa không nói, không nghe, không hiểu mà thường siêng năng tu học." (Trích Đại Bát Nhã - Tập 18 - Hoà Thượng Thích Trí Nghiêm dịch) !!!

Như vậy, những gì liên hệ đến Bát Nhã (không phải tương tợ Bát Nhã), đều thuộc về trí chứng vậy...!!!

Văn kinh Bát Nhã tương đối khó hiểu nếu người đọc chỉ dựa vào tri thức mà tự thân chưa giác ngộ...Vì rằng, các cảnh giới này thuộc Bồ Tát pháp...!!!

d) "Nếu là kiến giải riêng, thì ông định vị nó ở đâu trong hệ thống Phật học truyền thống?"

Cái gọi là "hệ thống Phật học truyền thống" ấy ở đâu ra ??? Nó có tự bao giờ ??? Có truyền thống tất có ngoài truyền thống ??? Vậy, đã có ai là người từng học tập và giác ngộ từ cái gọi là "ngoài truyền thống" ??? Theo tôi, Phật học là Phật học, chẳng có Phật học nào là truyền thống, Phật học nào ngoài truyền thống...!!!

Tóm lại, học tập trong Phật đạo nhằm giải quyết những vấn đề căn bản liên hệ đến một hữu tình đó là, thân, tâm, trí và thế giới...Trong ấy, có những vấn đề người học dùng nhận thức để hiểu biết, có những vấn đề cần tâm chứng mới đạt được, có những vấn đề phải nhờ đến trí chứng mới thành công...Vì thế trong quá trình học tập và thấu suốt, các tầng giác ngộ mới lần lượt hiện khởi và cho ra các nhãn lực sai khác như nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn...!!! Các loại nhãn lực này, là cảnh giới của thực chứng chứ chẳng phải cảnh giới của văn tự hay suy luận...!!!

- Hỏi:

3. "Thứ ba, về thoát ly chấp hữu – vô."

- Trả lời:

a) Học đạo phải gồm đủ 3 pháp: Văn, tư, tu...!!!

Văn: Tiếp nhận kiến thức...!!!

Tư (thiền tư): Tìm nơi vắng vẻ tư duy đến tận nguồn cơn những điều đã học...!!!

Tu: Ứng dụng những nghĩa lí mình đã học và tư duy thấu đáo vào thực tế cuộc sống để chuyển hoá tâm thức...!!!

b) Bạn đọc Pháp Tánh đã viết: "Tuy nhiên, lịch sử Phật giáo cho thấy các truyền thống từ Nguyên thủy đến Đại thừa, đặc biệt là Thiền tông, đều nhấn mạnh công phu thiền định, trì giới, quán chiếu là điều kiện tất yếu cho giác ngộ. Nếu bỏ qua công phu thực hành, chỉ nhấn mạnh “học và tư duy như pháp”, thì khác nào biến Phật pháp thành một lý thuyết thuần trí thức? Quan điểm của ông ở đây tôi cảm thấy đã làm nhẹ đi, thậm chí phủ nhận vai trò của thực hành thiền quán và giới luật trong quá trình tu tập. Ông có thấy sự mâu thuẫn này không?" (hết trích)

Theo tôi thì: "Lịch sử Phật giáo và kinh điển cũng chỉ ra rằng, trong một thời thuyết pháp của Phật, đại chúng sau khi nghe xong, không rời chỗ ngồi, có vô số người nghe pháp chứng vô số quả vị sai biệt...Hoặc, gần nhất Lục Tổ Huệ Năng là một ví dụ...!!! Không lẽ, những điển hình giác ngộ đã nêu đều "lý thuyết thuần tri thức"...???

Giới luật thuộc về tổ chức, giới vô lậu của tam vô lậu học mới là căn bản chung để giác ngộ vô lậu quả...!!! Thiền quán hay thiền tư chỉ dành cho những ai cần thời gian tĩnh tâm tư duy nếu người ấy không thể giác ngộ trực tiếp trong quá trình thính pháp (học tập)...Những thứ ấy không thể là mẫu số chung cho tất cả hành giả tu học...Khi nào, ta coi những thứ ấy là mẫu số chung, mới mâu thuẫn với phương châm "duy tuệ thị nghiệp" của giáo pháp...!!!

Nói chung, đồng thời là giáo pháp...Nhưng giáo pháp ấy được triển khai như thế nào để học trò đạt hiệu quả học tập như, có cần thiền quán, có cần thủ giữ giới cấm hay chỉ thực hiện vô lậu giới của 3 học pháp vô lậu...đều tuỳ thuộc vào định hướng của người thầy, phương pháp giảng dạy và cơ trí người học...Đây mới chính là tinh thần cốt lõi của nền giáo dục Phật đạo, đây chính là sự thể hiện sức "thiện xảo phương tiện" mà đạo pháp luôn đề cao vậy...!!! Nếu thấy hứng thú, xin mời Pháp Tánh và bạn đọc tham khảo các bài chia sẻ từ youtube Lý Gia để thông cảm sâu sắc phương châm giáo dục này...theo đường dẫn: https://youtu.be/AaZ3drX5D9g?si=rlzzLaNsyyWgso5q

- Hỏi:

4. "Thứ tư, về căn bản giác ngộ." ???

- Trả lời:

a) Sau khi giác ngộ mới biết (ta) hành cái gì (hành: an trú như chỗ đã giác ngộ mà tồn tại, mà đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín...vv...)...!!! Chưa giác ngộ, biết hành cái gì để được coi là "hành như pháp" đây...???

Người chưa giác ngộ, chỉ có thể văn, tư, tu như đã nêu ở câu 3...!!!

b) Giác ngộ: Sự thực chứng (như pháp) của tâm thức...!!! Sao lại có: "giác ngộ khái niệm", "giác ngộ ngôn từ" và "giác ngộ thực chứng" (như bạn nêu) ??? Nếu do khái niệm, do ngôn từ, thậm chí do ngoại duyên tác động... mà tâm thức ta thực chứng một tầng cảnh giới nào đó của đạo pháp thì, tầng thực chứng (cảnh giới) từ những nguồn khác nhau ấy đồng như nhau (đồng nhất) chứ (phương tiện khác, cứu cánh đồng mà)...!!!

c) "Kinh điển luôn nhấn mạnh “đến để thấy” (ehipassiko)" !!!

Đến để mà thấy, ý của câu này là "thực chứng (giác ngộ) để mà thấy, mà bắt gặp...Chứ không phải chưa đến (suy luận) hay còn đi (đang trải nghiệm thông qua hành trì) mà thấy...!!! Hình như Pháp Tánh giải thích câu này chưa thoả đáng...!!! Giống như đến A để thấy A, chứ không phải trải nghiệm con đường đến A để vọng tưởng về A...!!!

Hy vọng, những giải thích vừa rồi có thể giúp Pháp Tánh và bạn đọc giải toả những thắc mắc đã nêu...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

25/08/2025

LÝ TỨ

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow