Phiếm Đàm Của Lý Ngọc Hải ( Phần 4 )

"Sao y bản chính" từ Group Lý Gia !!!

Phiếm Đàm Của Lý Ngọc Hải ( Phần 4 )

Phiếm đàm
CÔNG PHU LÝ GIA

Phần 2: THUẬT KHINH CÔNG CỦA LÝ NỮ PHƯƠNG DANH

Nếu như hệ thống nhân vật trong Tâm Pháp xuất hiện theo kiểu dương thịnh âm suy (nhiều nam, ít nữ - chỉ một mình Thất muội là nữ nhi), thì ở các cao thủ Lý Gia trang, yếu tố “âm” lại vô cùng thịnh (nhưng dương không suy). Một trong những minh chứng cho âm thịnh, chính là sự tinh tấn vượt bậc trong luyện thuật khinh công (môn công phu nhẹ bẫng) của 19 Lý Nữ Phương Danh – “tấm huân chương” mà “Lý Gia lão trang chủ” đích thân tán thán và phong tặng.

Tại hạ (kẻ ở dưới) – tức người viết bài này – đã từng không ít lần thầm thốt lên: “Các hạ (người ở trên) quả không phải nữ nhi thường tình”. Các hạ thật khiến cho kẻ này mở mang tầm mắt. Không hổ là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu ngoài đời, con cháu Ngài Quán Thế Âm trong đạo.”

Ai không tin nhận xét này, xin mời thâm nhập Lý Gia để tự mình “kiến thiệt tế” (nhìn thực tế) các nữ đồ đệ Lý Gia trang an tọa chủ đàn, vung đao ngôn, múa kiếm luận, khinh công hành, mà hồ tâm vẫn không gợn động, dù những cuộc ấy gặp rất nhiều câu hỏi khó và đôi khi, cả…thái độ khó của “người trong giang hồ”.

CÙNG “LÝ”, KHÁC SỰ

Trong Thần Điêu hiệp lữ của Kim Dung, có một nữ nhân ghê gớm họ Lý, đó là Lý Mạc Sầu. Lý Mạc Sầu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ, và cũng chính là sư tỷ của thần tiên tỉ tỉ Tiểu Long Nữ.
Cùng là họ Lý, nhưng hắc phụ Lý Mạc Sầu và Lý Nữ Phương Danh (nữ nhân họ Lý vang danh bốn phương) khác nhau rất xa ở cách hành sự.

Vốn là người con gái rất đẹp, nhưng vì chìm đắm trong Dục giới, nên sau khi thất tình, Mạc Sầu trở thành người tàn độc. Ả dùng công phu “Ngũ độc thần chưởng” và “Băng phách ngân châm” để giải tỏa hận thù, nên ngày càng lún sâu vào sát giới.

Người viết không biết trong số các nhân vật sau này trở thành Lý Nữ Phương Danh có ai thất tình không, nhưng chắc chắn một vài người, trước khi tìm ra Lý Gia trang, đã phải trải qua một vài biến cố.

Trên hành trình hành tẩu giang hồ ba cõi, họ đã bị đả thương bởi nhiều “cao thủ hắc bang” (Tham bang, sân bang, si bang chứ không phải Cái Bang) hoặc bị “tẩu hỏa nhập ma” khi luyện “Phiền não cầm nã thủ”, “Khổ sở thần kiếm”, “Hàng mê thập bát chưởng”, “Kiết sử đao pháp”, “Lậu hoặc đả cẩu bổng”, “Vô minh kiếm phổ”… Tuy nhiên, vì không biết rõ căn nguyên thâm sâu này, và không phải là nhà “chưởng học” nên các y bác sĩ thế gian gọi bệnh này là “trầm cảm”, “suy nhược thần kinh”…

Xuất phát điểm của hai họ Lý này giống nhau ở chỗ: Đều gặp những chuyện phiền não, bất như ý, nhưng Lý Nữ Phương Danh may mắn hơn Lý Mạc Sầu ở điểm cốt tử: Tìm đúng thầy chữa tâm bệnh. Tất nhiên, từ nhân đến quả là một quá trình không chỉ ở hiện đời. Những cơ duyên mà Lý Nữ Phương Danh có hôm nay, cũng không ở ngoài những nỗ lực và nhân duyên đã gieo trồng bền bỉ từ bao lâu không biết nữa.

Lý Mạc Sầu cũng có người thầy dẫn dắt, nhưng nàng không biết vị này chỉ là một “Vô minh thiền sư”, nên càng đi đường càng tắc. Tương lai của Lý Mạc Sầu cũng giống cái tên buồn bã của môn phái mà nàng bái sư: Cổ Mộ. Còn tương lai của Lý Nữ Phương Danh càng đi càng sáng giống cái tên môn phái họ cầu học - phái Niết Bàn chân đế.

Lý Mạc Sầu thường cưỡi một con lừa hoa, trên cổ đeo một chiếc chuông phát ra tiếng nhạc. Mỗi lần Mạc Sầu xuất hiện, đều nhắc đến câu hát "Vấn thế gian tình thị hà vật?" ("Hỏi thế gian tình là gì?") – để nhắc lại mối thù tình đã được nàng huân tập trong tâm thức suốt mấy chục năm rong ruổi giang hồ.

Lý Nữ Phương Danh thường cưỡi cỗ xe Bát Chánh Đạo, tay cầm dây cương cột bằng bằng 11 cuốn sách của ân sư. Mỗi lần Lý Nữ Phương Danh xuất hiện, họ không hỏi “thế gian, tình là gì” mà khẳng định: “Muội xin tán thán sự tinh tấn của các huynh đệ”. Chỉ nhìn hai cái “sự” đó đủ biết cái “Lý” cũng khác nhau một trời một vực.

KIẾP NẠN, YÊU QUÁI VÀ BƯỚC CHÂN BẤT ĐỘNG

Đoạn kết (quả báo) của Lý Mạc Sầu cũng cay đắng như những nhân duyên mà Lý Mạc Sầu đã tạo tác: Trả thù tình, nhưng lại trúng độc hoa tình. Nửa viên thuốc giải duy nhất bị Thần điêu đại hiệp Dương Quá ném xuống vực sâu, Mạc Sầu tuyệt vọng tử tự trong đám cháy tại Tuyệt tình cốc. Đến phút cuối, nàng vẫn còn hát:

"Tình là chi hỡi thế gian
Câu thề sinh tử đa mang một đời..."

Cuộc đời của Lý Mạc Sầu là minh chứng rõ ràng của một ác nghiệp được vận hành viên mãn bởi 4 yếu tố: Nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả, nghiệp báo. Cái mầm cây (nhân) thù hận được chăm sóc bằng thuốc tăng trọng tàn độc liều cao (duyên) thì quả (mất mạng) và báo (phải chết đau đớn, chết bởi đúng thứ mình khởi tạo để trả thù tình).

Cả đời Mạc Sầu đi hại người để tìm thuốc giải khỏi hận thù, nhưng nàng không biết rằng phương thuốc đoạn trừ phiền não, hận thù lại không bao giờ có trong tủ thuốc của các ông lang, dù ông lang ấy có là thần y như Hoa Đà, Biển Thước.

Thần dược ấy chỉ có trong một loại cây có “quả” tên là Vô lậu. Cái cây dị biệt kia chỉ mọc và sinh trưởng được trên “vùng đất tâm thức” có tên là Hai vô sanh (không sanh tâm, không sanh pháp). Con đường đi tới nơi có quả đó gọi là Phật đạo – nơi không thể đến bằng tàu xe chạy bằng cơm hoặc bằng xăng. Chỉ có tàu không gian chạy bằng Trí mới có thể đưa người ta đến bến Giác, cảng Ngộ!

Có đường, có cây, có quả, biết rõ nơi đến, nhưng việc hái được nó vừa khó hơn lên trời vừa dễ hơn thò tay lấy tiền trong túi. Bằng chứng là bao đời bao kiếp, hằng hà sa số người khua chiêng gióng trống đi hái quả, cuối cùng vẫn chỉ gặt được toàn quả đắng. Thế nhưng, vẫn có nhiều người hái được quả trong một niệm – thuật ngữ mà Lý Gia lão trang chủ thường gọi là “hoát nhiên”.

Muốn có có quả trong tay, ngoài nỗ lực tự thân, buộc phải có một Hướng đạo sư thượng thặng. Nếu ai không tin, xin mời nghe lại bài hát nổi tiếng “Con đường dưới chân anh” trong phim Tây du ký:

Đây hành lý anh mang�Tôi cầm cương dắt ngựa�Nhìn ngắm trời cao chập chùng�Lòng lo lắng không yên�Đường thỉnh kinh thật xa�Không màng hiểm nguy cất bước�Ngày tháng cùng năm trôi dần�Ngọt bùi đắng cay đều qua�Biết đi hướng nào về đâu�Là la là la la lá la la là la

Như vậy dù có hát “là lá la” cả đời, cũng không thể đến được đích. Nói tóm lại, đường thỉnh kinh, nếu không có Tề Thiên Đại Thánh mắt lửa ngươi vàng hộ trì, thị hiện 72 phép thần thông, ra uy Như ý gậy, nương tựa duyên lành, thì Đường Tăng sao có thể vượt được ải mỹ nhân ở Tây Lương Nữ Quốc, chứ nói gì đến ải yêu quái hóa hiện trùng trùng điệp điệp.

Nếu Lý Mạc sầu mất cả đời Mê vẫn hoàn Mê, thì Lý Nữ Phương Danh mới đi được một phần nhỏ của đời, đã cập bờ Giác. Căn bệnh trọng của họ đã được Vị lão nhân theo phương pháp “Tuệ y” kê đơn bốc thuốc. Vì lão nhân ấy là thầy thuốc kiêm kiếm khách, kiêm nhà văn, kiêm nhà sáng tác kệ, kiêm giáo viên Đại học offline, kiêm giáo viên online, nên cách chữa bệnh cũng kỳ quái: Bất kỳ thứ gì cũng có thể dùng làm biệt dược cứu người.

Ngoài đời, nếu ai quảng bá chữa được bách bệnh, ta có thể suy ra vị đó thần y dỏm. Nhưng trong đạo thì khác. Đệ nhất nghĩa y là người có thể bốc thuốc hiệu quả cho mọi loại tâm bệnh nhân gian.

Gặp đúng “quý nhân”, cộng với ý chí và sự say mê tự thân, vô minh bệnh của họ dần dần thuyên giảm, cho đến một ngày, họ “hoát nhiên” thấy thân tâm mình rỗng rang, nhẹ bẫng, hỷ lạc, không luyện khinh công mà lại đạt khinh công. Họ an trú trong trạng thái đó, không mở nhục nhãn mà dùng giác liễu soi lại tâm mình và sung sướng nhận ra: “Té ra, ta vốn chả bệnh tật gì. Cũng chả có hắc bạch bang phái nào đả thương ta, chính tâm thức hư huyễn này đã khai đao và hóa hiện ra yêu quái và các vết thương ngày càng trầm trọng.”.

Từ đó, thuật khinh công của các Lý Nữ Phương Danh ngày càng ảo diệu. Họ tiến rất nhanh trên con đường đến vùng đất có nhiều quả ngọt xuất thế. Họ điềm tĩnh và sắc sảo trên vị trí chủ đàn và thi triển võ công “Hộ trì nhất dương chỉ” cho huynh đệ. Họ ngày càng bình dị trong đời thường. Và từ chỗ là bệnh nhân, giờ đây, một mặt họ nương nhờ “Bát nhã y lực” của vị ân sư, một mặt nâng cao tay nghề, bắt đầu ra tay bốc thuốc cứu người. Họ đang bước những “bước chân bất động” đến miền đất Chân Thiệt! Họ đang thực tập để biến cả may mắn và kiếp nạn thành xăng Trí, nạp nhiên liệu cho cỗ xe vĩnh cửu!

Họ vẫn đang khiến “Lý Gia lão trang chủ” vuốt cằm (không có râu) cười ha ha tự hào và khiến cánh mày râu Lý Gia vừa nể phục, vừa “sốt ruột một cách văn minh” trên con đường tu học.

THẬT LÀ:
Nữ nhi, đâu có thường tình
Mày râu cũng phải đứng hình, sởn da
Mới hay Lý Tứ lão gia
Rèn gươm, đúc kiếm đúng là nghệ nhân!
Lý Ngọc Hải