Lý Hoàng Anh Trả Lời Các Câu Hỏi Của Hành Giả Pháp Quang !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 81.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Anh Trả Lời Các Câu Hỏi Của Hành Giả Pháp Quang !!!
Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!
Như vậy là, sau 24 giờ gởi câu hỏi của hành giả Pháp Quang đến bạn đọc và HĐ Lý Gia...Sáng nay, đã có những câu trả lời đầu tiên từ Sư Muội Lý Hoàng Anh (EU 1578) đang sinh sống và làm việc tại Vương Quốc Bỉ...!!!
Sau đây là toàn bộ mười lăm (15) câu trả lời của SM Lý Hoàng Anh:
"Con kính thưa Thầy,
Được sự cho phép của Thầy, con xin được tham gia trả lời 15 câu hỏi của bạn đọc, hành giả cao tuổi, bác Pháp Quang, được Thầy đăng trên Chuyên mục kỳ 80/2026.
Sau đây là phần trả lời của con với bạn đọc hành giả Pháp Quang:
Kính thưa bác Pháp Quang,
Con là Lý Hoàng Anh, là học trò thứ 1578 của Thầy Lý Tứ, hiện đang sinh sống và làm việc tại Vương Quốc Bỉ.
Trước tiên, con xin được bày tỏ lòng kính trọng của con đối với bác - một hành giả cao tuổi, tâm huyết và đã dành nhiều năm nghiên cứu hành trì đối với giáo pháp thâm diệu của Đức Phật. Quả thật là một việc đáng trân quý biết bao trong thời vàng thau lẫn lộn này.
Kế nữa, con xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với các câu hỏi bác gửi đến chuyên mục của Thầy con. Nhân đây, mà hàng hậu học chúng con lại có thêm những cơ hội để được sở kiến những đường kiếm pháp đẹp, học tập được từ các bậc cao nhân và được luyện rèn kiếm pháp đối với bản thân.
Sau cùng, con biết ơn giáo pháp vi diệu của Đức Từ Phụ. Biết ơn trí tuệ siêu việt của ba đời Chư Hiền Thánh. Nhất là biết ơn trí tuệ siêu việt của Thầy con, đã cho chúng con có được cơ hội học tập và thâm nhập Phật tri kiến, với mục tiêu duy nhất "Duy Tuệ Thị Nghiệp", mà Thầy con đã dày công giáo dạy huynh đệ chúng con: "Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!"
Sau đây, con xin được trả lời 15 câu hỏi của hành giả Pháp Quang.
1.
Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?
Trả lời:
a. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Phạm Hạnh (梵行品), bản dịch của HT. Thích Trí Tịnh, Phật dạy đại ý: “Ta dùng Phật nhãn quán sát khắp tất cả pháp trong tam thiên đại thiên thế giới, từ đất đai, núi non, sông ngòi, cây cối, rừng rú, ao hồ, nhà cửa, thành ấp, chúng sanh cho đến các pháp hữu vi, vô vi; rốt ráo đều không có một pháp nào có thể nắm lấy được, có thể được thấy là thật có.”
b. Từ đây thấy ra: bản lai các pháp không tự có tánh, tự không có tướng. Thấy có to/nhỏ sanh/diệt tới/lui… là do bởi pháp giới chúng sanh không ra khỏi nhận thức của sáu căn khi xúc đối với đối tượng riêng của chúng, như: mắt thấy sắc, tai nghe âm, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nghĩ suy. Từ đó nhận thức sanh ra quan điểm, quan niệm gọi là Pháp. Các pháp này không thật có, nghĩa là không thật có tánh, tướng như chúng sanh quan niệm và trụ chấp.
c. Đoạn kinh trên Phật dạy cho hàng Bồ Tát thuần thục, ý nghĩa: ra khỏi pháp giới chúng sanh, trực nhận bản lai các pháp tự không (tánh, tướng) ví như hư không. Nhờ thấy biết này mà từ nơi hư không, Bồ Tát vì Từ Bi có thể xuất sanh vô lượng nghĩa để giáo hoá, hoá độ chúng sanh.
2.
Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?
Trả lời:
a. Hình như đoạn trích kinh của hành giả chưa đầy đủ. Câu trích tham khảo từ một số bản dịch xin được nêu ra như sau:
"Vô lượng nghĩa ấy từ một pháp sanh ra. Một pháp ấy, tức là vô tướng. Cái vô tướng như thế là chẳng có tướng nào không phải tướng. Chẳng có tướng nào không phải tướng, gọi đó là thật tướng." (Trích Kinh ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG NGHĨA, Hán dịch: Tiêu Tề Thiên Trúc Sa Môn Đàm-ma-già-đà-da-xá, Việt dịch từ Hán ngữ: Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến, NXB Tôn Giáo)
"Một pháp ấy tức là vô tướng vậy. Pháp vô tướng ấy, không có tướng và không không tướng; không có tướng, không không tướng gọi là thật tướng.” (Việt dịch HT. Mật Thể, tham khảo từ trang mạng hoavouu.com)
b. Vô tướng là không tướng, nghĩa là thật không có tướng (như chúng sanh thấy biết nơi pháp giới chúng sanh). Không tướng đó là Thật tướng, hay Thật tướng là Không (có) tướng.
c. Đoạn kinh trên nghĩa là: thấy tướng của pháp nhưng biết rõ đó chỉ là tướng (giả tạm) của pháp, không phải thật có tướng như vậy. Thấy như thế gọi là thấy “thật tướng”.
3.
Trích đoạn: “Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế… Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt.” (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?
Trả lời:
a. Kinh nói: “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”, nghĩa là: bản lai các pháp tự không phải là pháp, tự không phải là pháp nên tự rỗng lặng, chẳng có sanh cũng chẳng có diệt, như hư không chẳng có sanh, chẳng có diệt.
b. Kinh lại nói: Bồ Tát quán “niệm niệm chẳng ngừng, luôn luôn sanh diệt”, nghĩa là: Bồ Tát quán sát tâm thức chúng sanh không ngừng đem sự thấy nghe vào lòng thủ giữ và nhớ nghĩ gọi là ‘niệm’, vọng tưởng sanh ra tướng pháp rồi lại chuyển tướng pháp gọi là ‘niệm niệm’, cứ như thế tương tục không dừng gọi là ‘luôn luôn sanh diệt’.
c. Hai điều này không trái ngược, mà: “(các pháp) tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là Sự Thật và chúng sanh “niệm niệm chẳng ngừng, luôn luôn sanh diệt” cũng (tạm nói) là sự thật cho đến khi nào chúng sanh được khai-thị-ngộ-nhập Phật tri kiến.
4.
Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?
Trả lời:
a. Đúng!
b. Vì Vô tướng nên chư Phật, chư Bồ Tát mới Đại Từ Đại Bi mà khế căn, khế cơ, khế thời khai-thị cho chúng sanh thể-nhập Phật tri kiến. Nếu có một tướng gì, thì chỉ có thể là tướng đó, không thể ‘vô lượng nghĩa’ từ một tướng.
c. Như cái trống, tự không phát ra tiếng kêu (tính rỗng lặng bản nhiên), do có người đánh trống mới phát ra tiếng kêu, đánh lớn kêu lớn, đánh nhỏ kêu nhỏ (bi nguyện của Bồ Tát khế hợp bi ngưỡng của chúng sanh, nghĩa: Vô Lượng Nghĩa).
5.
Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?
Trả lời:
Là sai khác về nhận thức, tức pháp giới không đồng (pháp giới chúng sanh, pháp giới bậc Thánh, pháp giới Bồ Tát, pháp giới chư Phật).
6.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)
Câu hỏi: Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?
Trả lời:
a. Ở mức độ nhận thức (cảnh giới) của từng vị.
b. Căn cứ vào thực chứng của tự thân được như pháp: khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc mỏng lược dần đến dừng dứt hẳn, tín tâm chuyển thành tín căn, thành tựu giới-định-tuệ vô lậu, xuất thế, cho vị này tín lực, tăng tiến thành tinh tấn lực, tinh tấn không giảm, cho vị này biết quả Phật sẽ thành.
7.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)
Câu hỏi: Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?
Trả lời:
a. Có thể hiểu là đúng như vậy.
b. "Ngôi nhà chư Phật” là nơi Bổn Trụ của chư Phật.
8.
Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)
Câu hỏi: Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?
Trả lời:
a. Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ KHÔNG THỂ làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh !!! Kinh nói: “tuy thân này còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo” là ý nói: nhục thân (thân do cha mẹ sanh ra theo nghiệp) dù là Phật hay Bồ Tát cũng đều phải chịu theo quy luật sanh-lão-bệnh-tử như tất cả mọi hữu tình.
b. "Chứng ngộ viên mãn” mới có đầy đủ Đại Bi và đầy đủ phương tiện để cứu độ hết thảy chúng sinh.
9.
Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)
Câu hỏi: Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?
Trả lời:
a. Đoạn kinh trên ý nói: Phước đức của vị được sinh ra đã là Thái tử thì nhận được sự sùng kính của thần dân trong vương quốc, và được các quốc vương khác kính trọng, muốn thân cận, được làm bằng hữu. Đây là phước đức thế gian.
b. "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là tuyên thuyết của Đức Phật về sự thật tối hậu: bất kể hữu tình là loài nào, nghiệp gì thì đều sẵn có đầy đủ ngay trong chính hữu tình đó Phật tánh.
10.
Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)
Câu hỏi: Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?
Trả lời:
a. Còn là chúng sanh thì “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” là nghĩa: một ngày trong vô minh với vô số niệm sinh diệt luân hồi, không khác gì trăm kiếp sống trong vô minh, đều tăm tối.
b. Giác ngộ chân thật thì “trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày” là nghĩa: hoát nhiên “thoát kiếp”…” như Lục Tổ Huệ Năng đã thốt lên “nào dè… nào dè…”, hay như cái hoát nhiên của Huệ Minh khi nghe Huệ Năng nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay lúc ấy, cái gì là bản lai diện mục của Thượng toạ Huệ Minh?”
11.
Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)
Câu hỏi: Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?
Trả lời:
a. Thái tử tuy còn thơ ấu, nhưng bên cạnh là các quan thần được vua tin dụng giúp thái tử (tức giúp vua) an định việc nước, nước được an không hề khác. Bậc Đạo sư chắc chắn rõ biết năng lực và khả năng đệ tử của mình trước khi giao một việc gì.
b. Một phàm phu thì dù có y kinh thuộc lòng đọc tụng, cũng không thể giúp người đắc đạo, muốn giúp người phải có tiền “công đức”, phàm phu một xu công đức trong túi cũng không có, thì làm gì có xu nào mà cho người khác!
c. Một vị thành tựu giác ngộ Phật đạo, thì tuỳ vào giác ngộ tới đâu giúp người tới đó, không nói quá nơi giác ngộ của mình. Việc giúp người (cứu độ, giáo hoá) là phát nguyện, đại nguyện của những vị có tâm địa Bồ Tát.
d. Một người đến nhà hàng, mua một đĩa thức ăn, thức ăn là do đầu bếp nấu và phục vụ, khách ăn xong rồi khách no bụng. Tài nấu bếp là ai tài? Cái no của khách ăn là ai no?
e. Ăn xong rồi khách khâm phục tài của đầu bếp, quyết học cho thành tài được như vậy, khi thành tài rồi, khách bây giờ lại mở nhà hàng, trở thành đầu bếp nấu ăn phục vụ nhiều khách khác, khách ăn thoả mãn, lại khen tài của đầu bếp.
12.
Trích đoạn: “Người thiện nam, thiện nữ đó… chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.” (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)
Câu hỏi: Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?
Trả lời:
a. "Vô sanh pháp nhẫn” tương đương quả vị từ “Bất thối trụ” đối với hàng Nhị thừa, bước vào dòng Thánh, hoặc Bồ tát quyền thừa nhập lưu, vào hàng Bồ tát Nhất thừa.
b. "Lục độ tự nhiên hiện” ý là các vị “Bất thối” tự không còn bị cảnh trần tác động, tâm thức của chư vị này đã thuần thục “vô sanh pháp nhẫn”. Tuy nhiên, ở từ bậc quả vị này, các vị cần tiếp tục học các môn học của nhất thiết trí để thành tựu trí Nhất Thiết Trí mới có thể thực hành độ tha, giáo hoá.
c. Quá trình học trí Nhất Thiết Trí là quá trình bất tư nghì qua các cảnh giới của Thập Địa.
d. Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa là kinh giáo Bồ Tát, Bồ Tát quán chúng sanh, không phải quán Bồ Tát.
13.
Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)
Câu hỏi: Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?
Trả lời:
a. Tâm bất động, trí giải thoát, hay còn gọi là “bất động giải thoát”, hoặc “vô sanh pháp nhẫn”.
b. Sức mạnh của nhận thức như pháp, hay có thể hiểu là trí tuệ Phật đạo.
c. Lời trong kinh là “nhất thời liền phải tiêu tan”, không phải là“tiêu tan nhất thời”. Hai cụm từ này nghĩa khác nhau! “Nhất thời tiêu tan” là cảnh giới bất tư nghì phần đoạn sanh tử của người học tập đúng chánh pháp, nghiệp chướng tiêu tan từng phần ngay tại lúc nhận thức tương ưng nghĩa pháp, nói là “nhất thời”. “Tiêu tan nhất thời” là cái đắc của kẻ dụng công, không phải là một nhận thức như pháp.
d. "Chuyển nghiệp từ sám hối” như pháp là quá trình tu tập giới-định-tuệ vô lậu, chuyển từ nghiệp hữu lậu sang nghiệp vô lậu, là việc làm của người có nhận thức như pháp, tạm nói là người có trí.
14.
Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)
Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?
Trả lời:
Kinh nói “ở chốn phàm phu” chứ không nói “là một phàm phu” !!!
15.
Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)
Câu hỏi: Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?
Trả lời:
Phàm phu nếu nương theo kinh này mà học tập đúng đắn và giác ngộ chân thật, rốt ráo thì có thể chứng Thánh quả hay các quả vị Bồ Tát tương đương, cho đến Đại Bồ tát và thành Phật quả, bởi vì: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”!
Kính chúc bác/hành giả Pháp Quang sức khoẻ được dồi dào, an vui trong ánh sáng Đạo Pháp!
Con kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy con - Lão Sư Lý Tứ! Kính chúc Thầy Pháp thân thường an!
Kính bút,
Lý Hoàng Anh - EU1578" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
05/06/2026
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


