HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (3) !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 70.2025 với chủ đề: HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (3) !!!
Các bạn !!!
Rút kinh nghiệm bài đăng hôm qua (69/2025)...Hôm nay, mình không để một bài có dung lượng quá lớn rồi bị facebook cắt mất một phần !!! Vì thế sáng nay, nhận được trả lời phản biện của ba vị huynh đệ là Lý Diệu Tâm, Lý Minh Tuân và Lý Phương Anh...Thế là mình gom lại và đăng liền, để đến 15:00 nếu có tiếp sẽ đăng tiếp ở chuyên mục 71/2025...!!!
Bất ngờ nhất là, cả ba vị HĐ hôm nay đều là HĐ cốt cán của Lý Gia...Mình xin giới thiệu sơ lược về họ:
- Lý Phương Anh: Trưởng Ban Khoa Giáo của Lý Gia, đã giới thiệu trước đây...!!!
- Lý Diệu Tâm: Hiện tại là Trưởng Ban Truyền Thông của Lý Gia...Tuổi tác cùng lứa với Phương Anh, nhập môn sau Phương Anh vài tháng (0424 - 0465) và cũng là Lý Nữ Phương Danh...!!! Ngoài đời, Lý Diệu Tâm đang là PGS/TS Khoa học, Viện sĩ của một Viện Khoa học...Trước đây mấy ngày, vị Viện sĩ này phải "nhập thất trong phòng thí nghiệm" mấy ngày để nghiên cứu khoa học...Sau khi "đả thất", lao vào trả lời bạn đọc Ngã Hành...Đã thế còn phải đi chợ, nấu ăn, dạy con, giặt đồ...có chán không...???!!! Lý Diệu Tâm vừa nhắn tin cho mình: "Thầy ơi, Hôm nay là ngày con được làm con của Lão Lý đúng 6 năm"...!!! Ha ha ha ha !!!
- Lý Minh Tuân: Chủ nhiệm các lớp "Giáo Pháp Nhập Môn" của Lý Gia...Tuổi đời trên 60...!!! Có trên 30 năm làm hiệu trưởng trong ngành giáo dục...Về hưu, được mời làm hiệu trưởng một trường Đại Học tại Hà Nội...Hình như bây giờ, y ta cũng xin thôi việc để tập trung học tập giáo pháp cho thoả tâm nguyện thời còn đi dạy...!!!
Sau đây là trả lời của ba vị HĐ nêu trên
I- LÝ DIỆU TÂM (MB0465) TRẢ LỜI ĐỘC GIẢ NGÃ HÀNH
"Kính thưa Thầy,
Kính thưa độc giả Ngã Hành,
Kính thưa các HĐTM Lý Gia,
Trong cuộc luận bàn về 7 câu hỏi mà độc giả Ngã Hành đã gửi đến Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời, độc giả Ngã Hành đã phản biện 2 ý từ câu trả lời của Lý DIệu Tâm. Trước khi trả lời các câu hỏi của độc giả Ngã Hành, Diệu Tâm xin phép được đặt hai câu hỏi, từ đây Ngã Hành có thể có căn cứ để trả lời những vấn đề đã đặt ra:
VẤN NGÃ HÀNH:
- Câu hỏi 1: Từ "Pháp" trong "Vạn Pháp vô tự tính" là chỉ cho cái gì? Như Lai Tạng và Vạn Pháp có mối liên hệ như thế nào?
- Câu hỏi 2: Trong Phật Đạo, ngoài Giới Vô Lậu, còn có loại giới nào khác?
Dưới đây, Diệu Tâm xin phép được trả lời từng ý độc giả đã hỏi như sau:
TRUY VẤN SỐ 1:
- Hỏi:
"Lý Diệu Tâm nói: "-Vạn pháp vô tự tính là sự thật của các pháp. - Như Lai Tạng thanh tịnh thường trụ là sự thật của Pháp thân Như Lai, không cần lấy gì làm nền tảng để khẳng định. - Giống như hư không, không cần cái gì làm nền tảng..."
Lý Thiện Huệ nói: "Đã là sự thật, thì theo mình chỉ nên thấy và biết! Chứ khẳng định làm gì?! Vì có khẳng định hay không, thì sự thật vẫn là sự thật! Không thể lấy cái vô thường sanh diệt, khẳng định cái thường hằng bất biến!"
NGÃ HÀNH HỎI:
"Tôi đồng ý sự thật không cần khẳng định, nhưng trong tranh biện Phật học, việc chỉ ra cơ sở lý luận là cần thiết để tránh rơi vào "ngoại đạo chấp thường". Nếu Như Lai Tạng là "Thật Tánh" (bất biến), còn Vạn Pháp là "Vô Tự Tánh" (sinh diệt, không thật có), thì hai sự thật này dường như đối lập hoàn toàn về bản chất. Nếu không thể dùng "Vô Tự Tánh" làm nền, vậy người tu hành lấy gì để "thấy và biết" được cái "Thật Tánh" của Như Lai Tạng?
Phật dạy y pháp bất y nhân. Nếu không có một hệ thống lý luận (như Duy Thức dùng Tàng Thức làm nền, Bát Nhã dùng Tánh Không làm nền) để chỉ ra cái "thường trụ" ấy, thì nó khác gì với niềm tin "Thượng Đế" hay "Linh hồn" bất diệt của ngoại đạo? Cơ chế nào giúp người tu (HĐ Lý Gia) "trực nhận" ra Như Lai Tạng mà không cần dựa trên sự quán chiếu "Vô Tự Tánh" của Vạn Pháp?"
- Đáp:
1. Kinh Kim Cang tuyên thuyết: "Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng, huyễn, bào, ảnh". Chính từ nghĩa này mà để hiểu Vạn Pháp vô tự tánh là một sự thật.
2. Như Lai Tạng là tạng vi mật tối thượng của Chư Phật, được mô tả bằng các tính chất thường - ngã - lạc - tịnh, cho nên Như Lai Tạng chân thật, bất biến chính là sự thật.
3. Kinh Giải Thâm Mật, Phật dạy: “Như Lai nói thắng nghĩa (nghĩa chân thật) thì tuyệt hết mọi sự biểu thị, còn tầm tư (giác quán) thì chỉ biết bằng sự biểu thị”. Câu Kinh này có nghĩa, ý nghĩa chân thật không thể đến bằng suy lường, suy luận mà chỉ có thể trực nhận mà thấy biết.
Trực nhận là năng lực của hữu tình khi không bị những thứ hư vọng che chướng. Chính vì thế, khi học tập đúng chánh pháp, các món như tâm hư vọng, pháp hư vọng, tà kiến...vv...sẽ lần lượt tịch diệt. Chỉ khi nào tâm thức người tu hành không còn những thứ ấy, bao gồm cả những hiểu biết sai về khái niệm. Bây giờ sự thật chân chánh mới có thể hiển lộ.
TRUY VẤN SỐ 2:
- Hỏi:
"Các HĐ đều khẳng định: Tam Vô Lậu Học (Giới - Định - Tuệ Vô Lậu) thành tựu đồng thời, là hệ quả của nhau, và chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu.
NGÃ HÀNH HỎI:
Lý Phương Anh dẫn Kinh Lăng Nghiêm: "Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ." Đây là một tiến trình tuần tự rõ ràng. Các vị giải thích rằng đây là Giới-Định-Tuệ thế gian hay Giới-Định-Tuệ hữu lậu. Tuy nhiên, Kinh Lăng Nghiêm nói đến "Giới sanh Định, Định phát Tuệ" lại nằm trong bối cảnh tu Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Giới Bồ Tát) và sự Kiến Tánh để tránh đọa lạc. Vậy, xin hỏi: Nếu ba cái đồng thời, thì tại sao Kinh điển lại mô tả một tiến trình nhân-quả (Do... sanh..., Do... phát...)?
Xin giải thích rõ cơ chế "cái này có nên cái kia có" trong bối cảnh Vô Lậu Học. Giả sử một người "Tuệ giác được khai mở" (Tuệ Vô Lậu thành tựu) do học tập giáo pháp (theo Lý Phương Anh). "Giới vô lậu" tự thành tựu bằng cách nào? Liệu nó có đồng nghĩa với việc vị ấy hoàn toàn không phạm bất kỳ giới luật nào của Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa chăng?"
- Đáp:
1. Nguyên lý cái này có nên cái kia có (3 trong 1) của Tam Vô Lậu học cần được xây dựng trên nền tảng hiểu biết chân chánh về thân, tâm, và thế giới. Một người biết chắc chai thuốc kia có độc (Tuệ Vô Lậu) sẽ không uống chai thuốc (Giới Vô Lậu), đồng thời tâm không động lay khởi mong muốn được uống chai thuốc (Định Vô lậu)
2. Nguyên tắc ba trong một chính là chỉ thị phân biệt giữa các học pháp vô lậu và học pháp hữu lậu thế gian. Bất kỳ thành tựu nào không xuất phát từ sự hiểu biết chân chánh đều khó có thể dẫn đến đạo quả vô lậu.
Con xin kết thúc phần trả lời ở đây!
Con kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy!
Chúc toàn thể bạn đọc cùng HĐTM Lý Gia an vui, tinh tấn!
Con Lý Diệu Tâm (MB465)"
II- THƯ TRẢ LỜI CÂU HỎI TRUY VẤN CỦA NGÀI NGÃ HÀNH (Của Lý Minh Tuân)
Kính thưa Thầy!!!
Kính thưa ngài Ngã Hành !!!
Được sự cho phép của Thầy, con xin phép trả lời bạn đọc Ngã Hành về câu hỏi truy vấn mà bạn đọc đã gửi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI - 67/2025.
Xin chào ngài Ngã Hành !!!
Tôi rất vui khi nhận được câu hỏi truy vấn của Ngài gửi đến chuyên mục. Thú thực rằng, nhờ câu truy vấn của Ngài mà tôi đã có thêm động lực để học tập. Tôi nghĩ rằng, để có thể nắm vững những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên sâu của Phật đạo, để thấy được “thiệt tướng” của các pháp thì cần phải đầu tư thời gian để đọc tụng, tư duy và suy ngẫm rất nhiều….Tôi rất mong lại tiếp tục nhận được những câu hỏi, những câu phản biện từ Ngài để tôi có dịp tôi rèn và học hỏi từ Thầy tôi được nhiều hơn nữa!!!
Kính chúc Ngài sức khỏe, thân tâm an lạc và trở thành bạn đọc gần gũi, thân thiện với huynh đệ chúng tôi. Sau đây, tôi xin phép được trả lời câu hỏi truy vấn của Ngài.
Truy Vấn Lý Minh Tuân (MB1349) - Về Thất Đại
Lý Minh Tuân tóm tắt: Ngũ Đại nói về Sắc (thân) (vô tri). Thất Đại nói về Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức (hữu tình có tri và có giác).
NGÃ HÀNH HỎI:
Kinh Lăng Nghiêm đề cập Thất Đại để chứng minh vạn pháp đều là Thể Như Lai Tạng, nhằm mục đích quy tất cả về một Bản Thể Thường Trụ. Nếu chỉ đơn thuần là giải thích cấu tạo của hữu tình (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), thì việc này không khác gì cách giải thích của Pháp Tướng Tông hay các Luận sư Nguyên Thủy về danh-sắc (nāma-rūpa), vậy dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên "Đại" (Mahā-bhūta - đại chủng) là gì?
Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng "chứa nhóm, giữ gìn" (Địa), "ẩm ướt, gom lại" (Thủy), "làm nóng, chín" (Hỏa), "di chuyển, nâng đỡ" (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?
LÝ MINH TUÂN TRẢ LỜI:
A) Dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên "Đại" (Mahā-bhūta - đại chủng) là gì?
Trả lời: Khái niệm về Tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong) và Không đại đã có trước thời Phật. Tuy nhiên, cách Đức Phật dùng và giải thích Tứ Đại, Không đại lại rất khác so với các truyền thống trước đó và điều này đã được Phật hệ thống hóa thành giáo lý trong Phật giáo.
Mặc dù các giáo lý trước thời Phật họ không hiểu đúng về bản chất của thân, tâm và vũ trụ. Nhưng vì các khái niệm: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại, Không đại đã xuất hiện trước đó nên Đức Phật đã thiện xảo phương tiện “giữ lại” những khái niệm đó. Gọi là “giữ lại” nhưng thực chất chỉ là mượn danh tự, còn nội hàm của khái niệm thì đã hoàn toàn khác.
Đức Phật thấy rằng, nếu chỉ dùng Tứ đại hay Ngũ đại thì chưa đủ phương tiện để mô tả những tính chất của Như Lai Tạng vì thế Ngài đưa thêm vào Thức đại và Kiến đại. Dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên “Đại” có 2 ý nghĩa:
Thứ nhất: Nhằm đồng nhất về mặt tên gọi đối với các khái niệm: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại và Không đại. Việc đồng nhất về tên gọi như vậy thể hiện sự nhất quán và thiện xảo của Đức Phật trong việc lập bày ngôn ngữ để thuyết giảng.
Thứ hai: Tên “Đại” có nghĩa là rộng lớn. 7 đại chủng có nghĩa 7 tính chất rộng lớn của vũ trụ mà 7 tính chất đó cũng nằm trong rất nhiều tính chất của Như Lai tạng mà chỉ có Đức Phật mới thấy được và tuyên thuyết về nó.
Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng "chứa nhóm, giữ gìn" (Địa), "ẩm ướt, gom lại" (Thủy), "làm nóng, chín" (Hỏa), "di chuyển, nâng đỡ" (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?
Trả lời:
a) Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt, đó là:
Kiến Đại: Nó mang tính thường hằng, bất biến, nó có khả năng tạo nên phản xạ không điều kiện của một hữu tình. Nhờ Kiến Đại hữu tình mới duy trì được bản năng sinh tồn, mới có thể nhận biết và giao tiếp được với thế giới (bên ngoài và nội tâm)
Thức Đại: Nó có khả năng tiếp thu, gom nhóm tri thức. Nếu như Kiến Đại chỉ giúp hữu tình có khả năng nhận biết thế giới thì Thức Đại sẽ giúp hữu tình nhận biết thế giới như thế nào?
b) Tại sao Kiến Đại và Thức Đại lại được xếp ngang hàng với Ngũ Đại?
Tính chất của 7 đại nằm trong vô số tính chất của Như Lai Tạng do Đức Phật thấy và tuyên thuyết. Nhưng nếu 7 đại đứng riêng rẽ thì nó không có bất kỳ một tính chất nào cả, gọi là “Không tánh”.
Như vậy: Khi Phật tuyên thuyết trước chúng sanh về Thất Đại thì tất cả các Đại (các pháp) đều bình đẳng nên không có Đại nào xếp trên, đại nào xếp dưới. Chính vì vậy Kiến Đại và Thức Đại cũng được xếp ngang hàng với Ngũ Đại.
Có thể lấy một ví dụ minh họa như sau: Để chế tác thành loại nước hoa nào đó thì người ta cần kết hợp nhiều nguyên tố Hóa học với nhau. Nếu đứng độc lập, mỗi nguyên tố hóa học đó (dạng nguyên tử) không có mùi gì cả. Nhưng nếu các nguyên tố đó được kết hợp với nhau trong một điều kiện đặc biệt nào đó (tức là đủ duyên) thì sẽ tạo nên một loại nước hoa có mùi thơm.
Hết phần trả lời.
Kính thư !!!
Lý Minh Tuân – học trò thứ 1349 của Thầy Lý Tứ."
III- THƯ GỬI BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH (Của Lý Phương Anh)
"Kính thưa Thầy!
Thưa HĐTM Lý Gia!
Bạn đọc Ngã Hành thân mến!
Sau khi đọc các phản biện của bạn đọc Ngã Hành được Thầy đăng lên chuyên mục kỳ 67/2025, Phương Anh đã xem lại nhiều lần phần trả lời của mình cũng như trích đoạn trả lời của HĐ Lý Gia.
Nói thật đọc đi đọc lại các trả lời ấy, Phương Anh thấy mọi thứ rất rõ ràng như đồ vật được soi rọi dưới ánh sáng mặt trời, như trái A ma lặc trong lòng bàn tay, dễ thấy, dễ hiểu. Nhưng tại sao bạn đọc Ngã Hành, một người có 25 năm đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ tham vấn, học tập đạo pháp (lời này có tin được chăng) mà vẫn không nhận ra để rồi đặt câu hỏi và phản biện? Thiết nghĩ đây (hỏi và phản biện) là việc làm của người không thấy không biết hoặc thấy biết mơ mơ hồ hồ trong cơn tuỳ mộng!
Trong khi đó những thắc mắc của Ngã Hành, đối với một HĐ Lý Gia chỉ cần nhập môn học tập trong vòng nửa năm, bảy tám tháng là đã có thể tự trả lời cho bản thân các thứ ấy là gì bằng chính nền tảng giáo pháp của họ. Cụ thể như Lý Mai Phương, Lý Tự Như và nhiều người nữa!
Thắc mắc này đeo đuổi Phương Anh trong nhiều giờ. Trong lúc chiêm nghiệm Phương Anh đã gỡ được nút thắt lạ lùng đó. Thì ra 25 năm đi mòn gót giày của bạn đọc Ngã Hành là có thật, nhưng đi để góp nhặt kiến thức rồi đem về suy luận, thắc mắc, tìm người đối chất...vv...cứ thế, như sợi tơ vô hình trói quanh trói quẩn, trói hết lớp này đến lớp khác, mà chẳng thể thoát ra...Đi thì nhiều, góp nhặt thì lắm nhưng chưa một lần biết cách ngồi xuống như pháp tư duy, hay được ai đó dạy cho cách ngồi xuống để tuệ quán mà ứng dụng mà thực chứng nhằm tận mắt chứng kiến nó là thứ gì. Như người đọc vanh vách tên các món ăn của nhà hàng từ Bắc chí Nam rồi đem ra bàn luận, nhưng chưa một lần cầm đũa...Điều này chẳng khác nhiều người học đạo mà Phương Anh đã từng gặp trước khi vào Lý Gia.
Trong khi đó Phật dạy, đại ý: "Pháp của ta dạy cho những người đến để mà thấy mà biết, không phải dạy cho những người không đến để mà thấy mà biết". (Tăng Chi Bộ)
Câu này có nghĩa, Pháp của Phật chỉ dạy cho người thực chứng (đi đến cảnh giới đó để thấy để biết), chứ không dạy cho người học thuộc mà không thực chứng, nghe pháp rồi đem tâm suy luận, hay tưởng tri mà cho rằng mình đã biết đã thấy (không đến để thấy để biết)!
Bây giờ Phương Anh càng thấy muôn phần bái phục sự tài tình của Lão Lý trong cách dạy học trò. Nửa năm học bằng ngọn đuốc chánh pháp đã hơn người 25 năm mò mẫm trong tối tăm của lao ngục suy luận, tưởng tri với những mâu thuẫn nội tại. Thứ mâu thuẫn không hề có trong giáo pháp chân chánh, nếu có chăng mâu thuẫn ấy chỉ là kết quả của tà luận, tà kiến và hiểu sai giáo pháp, mà cụ thể là bạn đọc Ngã Hành đã đặt vấn đề phản biện về Như Lai tàng và Tự tính các pháp, trong khi đó hai món ấy chẳng ăn nhập gì với nhau vì một thứ thuộc về "cảnh giới" một thứ thuộc về "quan điểm"! Phương Anh đọc phản biện này, thật sự bất ngờ trước kiến thức cơ bản của một người được cho là có 25 năm tầm cầu đạo pháp! Thầy ơi, đứng trước phản biện ngớ ngẩn và vô lý như thế con biết phải làm gì đây? Có phải chăng càng trả lời càng làm cho người nghe đảo điên vì gốc rễ là nhận thức cơ bản về giáo pháp của người ấy đã quá sai rồi?
Thầy ơi... Bây giờ con càng khâm phục Thầy hơn về ba môn học của lớp Giáo Pháp Nâng Cao là Thấu thị môn, Thẩm sát môn và Đẳng ngữ môn mà chúng con đã được học tập cũng như thực hành ngay trong đương cơ có tên "Ngã Hành Vấn Đạo" này. Thầy cho con tự cười một tràng sảng khoái về cái cớ sự "linh như đồng cốt" này, học là có đương cơ để thực hành liền.
Thưa Thầy! Bây giờ việc học những điều quá năng lực của mình, những điều thuộc cảnh giới vô lậu, xuất thế...vv...rồi đem hiểu biết hữu lậu, thế gian bằng chính sự khôn ngoan thế tục ra suy luận, giảng giải, phản biện...vv...để tự buộc ràng mình, buộc ràng người như lời Thầy từng dạy đã hiển hiện mồn một trong đương cơ này. Thật ra chẳng có lao ngục nào trói mình mà chỉ tự mình cầm nhầm cục xương khô tưởng đó là bó đuốc rồi đem đi soi rọi khắp nơi, soi rọi giáo pháp...kết quả, tối tăm vẫn hoàn tối tăm. Từ Niết bàn thanh tịnh của bổn tâm mà thấy thành địa ngục điên đảo, nơi cảnh giới vô lậu xuất thế lại đem hiểu biết thế tục luận bàn biến thành triết lí, phản biện thế gian. Với cách tiếp nhận giáo pháp kiểu "nửa nạc, nửa mỡ" này, ta có giải thích đến "gãy lưỡi" thì cũng không khác gì "gãi ngứa ngoài hia", chẳng có tác dụng gì.
Giờ đây con tâm đắc với câu chuyện người mù luận bàn màu sắc, luận bàn về hội hoạ, luận bàn những thứ chỉ có ở thế giới người sáng mắt mà Thầy thường kể cho chúng con nghe trong các buổi học. Phương Anh xin lược kể ra đây giúp bạn đọc Ngã Hành giải trí (chỉ tiếc Phương Anh chưa thực chứng cái hài hước của Lý Lão Sư nên câu chuyện thiếu hấp dẫn).
Chuyện kể như sau:
"Ở làng nọ có gia đình phú hộ mới mua được một bức tranh quý, cả làng đến xem, ai cũng trầm trồ khen ngợi. Trong số người đến xem đó có anh chàng mù bẩm sinh cũng bon chen đòi coi cho được. Phú hộ là người hào phóng, nhân đức, thương người, bèn cho anh mù đặc ân cầm bức tranh quý. Anh mù sau khi sờ soạng bức tranh hồi lâu bèn hỏi lớn:
-Bức tranh vẽ thứ gì?
-Bức tranh vẽ cánh đồng lúa chín và đàn cò!
-Con cò màu gì?
-Con cò màu trắng!
-Màu trắng giống thứ gì?
-Màu trắng giống tuyết!
-Ta biết rồi!
Nghe xong, anh chàng mù gật gật cái đầu như một nhà hiền triết, rồi lần nữa sờ soạng thật kỹ bức tranh, đột nhiên người mù la lớn:
-Các người mù hết rồi sao? Các người mù hết rồi sao? Các người bảo bức tranh vẽ cánh đồng lúa chín và đàn cò trắng sao ta sờ mãi chẳng thấy nó lạnh như tuyết cũng chẳng thấy nó xót như lúa? Các ngươi hãy trả lời cho ta đi!
-Đám đông......!!!!!!!!!
Và thầy dạy tiếp: Đối với trường hợp này, kẻ trí cần phải làm gì? Các bạn ơi, ta không thể luận bàn màu sắc, luận bàn hội hoạ với người mù bẩm sinh, càng bàn ta và người càng thêm điên đảo! Cái người trí cần làm bây giờ, hãy đi tìm thầy thuốc, tìm tiên dược A dà đà để chữa lành đôi mắt mù rồi đưa anh ta đến chỗ có ánh sáng. Lúc ấy chẳng cần bàn màu sắc, chẳng cần luận về đẹp xấu hội hoạ, người mù một khi mắt đã sáng tất nhiên sẽ tự giải đáp mọi thắc mắc của mình." Trong đương cơ này Phương Anh chọn cách làm Thầy đã dạy từ câu chuyện trên!
Thưa các Huynh Đệ!
Thấm nhuần bài học Thấu thị, Thẩm sát của Thầy nhất là câu chuyện vừa kể, Phương Anh xin được phép "không làm cho mình, cho người đảo điên thêm" sau những phản biện của bạn đọc Ngã Hành.
Thưa bạn đọc Ngã Hành!
Những gì trong Bài Tráng Ca Bất Tử mà Thầy đã tặng cho bạn đã quá đủ rồi. Thầy viết: "Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường vẫn hiểu/Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau."; Hay "Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp ngọn đèn trong đêm dài tăm tối/Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía/Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hoá thành ánh sáng mặt trời."; Và "Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên/Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên/Con cá dưới nước hoá thành rồng trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui oà vỡ/Người Tráng Sĩ năm xưa hát Bài Tráng Ca trước bạn bè ngày cũ/Tất cả chắp tay/Một đời tráng sĩ hoá thành bất tử/À ơi! Ấu biến thành sen/Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào...!!!". Khi tặng bài thơ này cho bạn đọc Ngã Hành, chắc hẳn lúc đó tim Thầy thắt lại! Ngã Hành ơi, hãy bỏ cục xương khô vô bổ góp nhặt bao năm trời xuống đi, hãy bỏ thứ luận giải phản biện thế tục hữu lậu ấy xuống đi. Mau mau tìm thứ thuốc A dà đà để chữa các thứ bệnh lậu hoặc do suy lường, cột trói bởi văn từ xuất thế...vv... để làm người Tráng Sỹ như những gì Thầy đã gửi gắm trong bài Tráng Ca.
Bạn đọc Ngã Hành thân mến!
Truy vấn của Ngã Hành được gửi tới HĐ Lý Gia vào 20h thứ 7 ngày 22/11. Sau chưa đầy 70h, các HĐ Lý Gia đã lần lượt hồi đáp và cũng như lần trước, các câu trả lời minh bạch, nhất quán, đúng bệnh đúng thuốc.
Có được điều đó là do học trò Lý Gia đã được Lý Lão Sư trao truyền bộ môn công phu có tên là Thám Phúc Công. Công phu này được "bật mí" trong tác phẩm Tâm Pháp - cuốn sách gối đầu giường của toàn thể HĐ Lý Gia. Cái hay của bộ môn này, là sờ cái bụng mà biết cái tâm. Vì thế mới có tên là Thám Phúc.
Trong Tâm Pháp, Lão Sư đã dạy môn công phu Thám Phúc bí truyền ấy như sau:
"Khi gặp người tu hành, muốn biết thiệt giả, chỉ cần Lão Huynh lấy năm ngón của bàn tay phải của mình, lật ngược gõ gõ vào bụng của họ…
- Nếu nghe tiếng bịch bịch như trái mít chín cây, Lão Huynh lại chú tâm định thần, thoảng nghe có mùi khai khai thì biết hạng này trong bụng chỉ chứa toàn xôi chuối, mau mau cúng dường một ít rồi đảnh lễ mà lui…
- Nếu Lão Huynh gõ gõ bàn tay vào bụng mà nghe lộc cộc như cua ốc bò trong thau đồng, lại có mùi hôi mốc thì Lão Huynh biết người này tạp văn chứa đầy trong bụng, tà kiến toàn thân, mau mau cúng dường một liều thuốc xổ, để lâu có hại cho người…
- Còn nếu đó là tiếng cạch cạch như gõ vào gỗ quý, lại có mùi thơm giáng hương, thì biết người này đầy bụng Kinh Điển nhưng chưa tiêu hóa được, phải cấp tốc cúng dường vài hộp thuốc tiêu...
- Cuối cùng nếu Lão Huynh gõ vào mà nghe như tiếng thùng rỗng, kêu dậy trời lại có mùi chiên đàn thì mau mau sụp gối lễ lạy để nghe đạo lý. Bằng không được thì phải đấm lưng cạo chân để tìm chút phước, họa may nghe được pháp âm… " (Trích Tâm Pháp - Lý Tứ)
Kính Thầy!
Con học lóm chút "Đẳng ngữ môn" mà Thầy đã trao truyền cho HĐ Lý Gia. Chẳng biết Thầy có hoan hỷ khi đọc thư này hay không?
Con xin gieo năm vóc sát đất kính lạy tri ân Thầy !!!
Kính thư,
Lý Phương Anh (MB424)"
(Hết các trả lời)
Chúc bạn đọc và bằng hữu Ngã Hành an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
25/11/2025
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


