Cảm Nhận Khi Đọc Tâm Pháp - SH Lý Thái Đăng

Cảm Nhận Khi Đọc Tâm Pháp - SH Lý Thái Đăng

Tâm Pháp ra đời, nhất thời Phật tại!

Đây là loại công phu “tối thượng thừa”, “tối bí yếu”, nên có tên là TÂM PHÁP. Bởi: “Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp; Ai biết được pháp sẽ biết được không pháp; Ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không; Ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp; Ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.(Lý Tứ).

Dựa trên “Đạo Lộ Tối Thượng” này mà các tác phẩm của Ngài Lý Tứ lần lượt phát hành, hiển bày Diệu Pháp.

Cuốn sách “Vô Đối Môn” (của Ngài Lý Tứ) phát hành (tháng 7/2019) đã lan nhanh và tạo ra một hiệu ứng vô cùng tích cực, như ban hành kịp thời một Pháp Lệnh giáo dục về Phật Đạo trong giai đoạn hiện nay, đề ra “Chủ trương, đường lối” khai thông bế tắc, chỉ rõ mục tiêu tu hành, cách thức tu tập… đã làm bừng tỉnh nhiều người tu hành đang ngụp lặn trong đêm dài của ba cõi, mà chưa tìm được lối ra.

Tiếp theo “Vô Đối Môn”! Hai cuốn “Phật Giáo Và Thiền”, “Tâm Pháp” đã liên tiếp phát hành trong tháng 10/2019, như thổi vào đời sống người tu hành một luồng gió mới, lan tỏa Ngũ Phần Hương (Giới hương, Định hương, Huệ hương, Tri kiến hương và Tri kiến Giải thoát hương) đến với mọi mọi người và tới những nơi xa nhất.

Thật vi diệu thay!

“Như người dựng đứng những gì đã bị quẳng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong tối để những ai có mắt có thể thấy sắc, cũng vậy, chánh pháp đã được Ngài Lý Tứ! dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích nhằm đưa người tu hành tiến tới mục đích đã đề ra là Giác ngộ Giải thoát và Trí tuệ” (Trích lời kinh)

“Nếu như Vô Đối Môn với văn phong khai thị – hỏi đáp, Phật Giáo và Thiền với lối viết luận chặt chẽ thì TÂM PHÁP lại có cách tiếp cận khác hẳn. Dẫn dắt bạn đọc bằng những câu chuyện nhẹ nhàng, đầy ý vị của đạo pháp. Người đọc TÂM PHÁP thường có cảm nhận tác giả viết riêng cho mình, từ đó nhận ra rất nhiều điều trên con đường tu tập của bản thân…”(Trích bài viết về Tâm Pháp của Diệu Hiền)

Theo Thái Đăng!

Tâm Pháp được ví như trái tim của Phật Đạo; người tu hành thấu rõ Tâm Pháp như người có trái tim khỏe mạnh; ngược lại nếu ai tu hành mà không hiểu rõ Tâm Pháp chẳng khác nào người đang đau bệnh tim…

Tâm Pháp có vô số điều ĐẶC BIỆT! bởi nghĩa của những điều (đặc biệt này) nhiều người hiện nay, chưa từng được nghe, chưa từng được biết, chưa từng được thấy…!!!

Xin trích dẫn giới thiệu ba đoạn “tối bí yếu”, trong Tâm Pháp để minh chứng:

“Quyết nghi” trong TÂM PHÁP là điều ĐẶC BIỆT đầu tiên, có thể ví như ngòi nổ của trái phá TÂM PHÁP! Người học nào mà tỏ rõ được “Quyết nghi” này, cũng có thể xưng tán là thầy của Trời Người!!!

(Xin trích một đoạn) Quyết nghi:

(− Sao không nói lưỡng nhĩ, lưỡng tỷ… mà chỉ nói đến lưỡng mục, có ý chỉ gì chăng…?

Do nhân duyên mà đặt tên, vì đau con mắt… nếu đau lỗ tai sẽ gọi lưỡng nhĩ…

Người trí khi nghe một căn biết nói đến sáu căn, một đại biết nói bảy đại, một cõi nói đến 25 cõi…

Ví như khi nghe “kiến” phải biết kiến này tiêu biểu “kiến, văn, giác, tri”, không nên chấp nhất “kiến” chỉ duy cái thấy của con mắt….

− Vì sao chỉ nói mục (nhãn) mà tiêu biểu cho các căn? Nói một đại tiêu biểu cho bảy đại?

Bởi thể đồng vậy!

− Thế nào thể đồng?

Phân biệt có bảy.

− Sao nói bốn đại còn nói bảy đại?

Bốn đại (địa, thủy, hỏa, phong) vô tri, như ngói đá cỏ cây.

Có không đại nên có thịnh suy tụ tán.

Có thức đại nên có tri.

Có kiến đại nên có giác.

Vì thế hữu tình có tri có giác, lại còn có tụ có tán.

− Căn thân và thế giới sai khác thế nào?

Thế giới năm đại (địa, thủy, hỏa, phong, và không).

Thế giới không căn, tự nó không giới, vô tri.

Thân đủ bảy đại sáu căn.

Năm đại thành thân.

Thức đại thành thức.

Kiến đại thành căn.

Thức để biết, căn để giác.

− Sao kinh chỉ nói thân tứ đại mà không nói năm đại?

Vì từ bi, bởi nói đến không đại, người đời mê sảng.

− Thức đã biết rồi, sao còn phải giác.

Thức biết theo nghiệp nên trái đạo, Giác bổn lai tự biết nên vô sanh.

− Khi nào biết của thức, khi nào biết của giác? Cái biết bản nhiên là giác, biết cái bị biết là thức.

− Sao gọi “mầm danh sắc”?

Danh thuộc về tâm (thọ, tưởng, hành, thức). Sắc thuộc về thân (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân).

− Những món này từ đâu ra?

Từ hư không mà ra.

− Hư không không tự sanh?

Hư không không tự sanh, nhưng mê sẽ sanh.

− Xin nói rõ?

Như giường nằm không có đô thị, ngủ mơ sẽ hiện.

− Mê từ đâu sanh?

Nếu biết bóng tối từ đâu sanh, thì sẽ biết mê từ đâu sanh.

− Làm sao dứt mê?

Đốt nhà trong mộng.

− Làm sao dứt mê?

Chỉ cần dừng mê.

− Làm sao dừng mê?

Biết rõ (giác ngộ) không mê.

− Lấy gì biết rõ?

Lấy giác không thức.

− Giác làm sao lấy?

Bất động giác hiện.

− Hiện như thế nào?

Không hiện tức hiện.

− Không hiện sao biết?

Rời cái biết của ngã, sẽ tự biết.

− Giác biết cái gì?

Giác biết cái ngu tự chẳng ngu.

− Sao gọi là ngu?

Ngu là tướng của chấp.

− Chấp cái gì?

Sanh pháp chấp pháp.

− Vì sao sanh pháp?

Vì mê sáu trần.

− Sao mê sáu trần?

Chỉ vì nghiệp thức.

− Làm sao dứt thức?

Phải dứt cái ngu.

− Hết chấp hết ngu?

Hết chấp còn ngu, không chấp không ngu…

− Làm sao không chấp?

Bản nhiên chưa chấp, tự chẳng làm sao, nếu có làm sao, làm ấy là chấp…).

Một nội dung cũng đặc biệt quan trọng khác để xây dựng nên toàn bộ cốt truyện Tâm Pháp là THẬP NHƯ THỊ.

(Các vị! Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa… Sau khi ngài Xá Lợi Phất ba lần thưa thỉnh… Phật im lặng một hồi rồi nói: “Thôi đi Xá Lợi Phất, không nên hỏi nữa. Vì sao? Vì pháp mà chư Phật đã chứng khó thấy khó biết, không phải dùng cái biết của phàm phu mà biết được… Chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt thiệt tướng của vạn pháp… Vì sao? Vì các pháp thành tựu được không ngoài mười phạm trù đó là: Nhân, duyên, quả, báo, tánh, tướng, thể, lực, tác, bổn mạc cứu cánh như vậy…”

Các vị! Nếu mười phạm trù này mà hiểu theo ý nghĩa thế gian thì các pháp sở dĩ có được là bởi nhờ có hạt nhân ban đầu, giống như có hạt giống mới có cây trái. Hạt giống này muốn thành tựu phải đầy đủ duyên lành.

− Nhờ duyên lành mà cho ra kết quả gọi là quả.

− Trong cái kết quả đó sẽ có ý vị của nó, ý vị này gọi là báo…

− Nơi báo kia tùy nghiệp hiện các tính chất gọi là tánh. Ví như trái khổ qua, người ăn thấy ngọt kẻ ăn thấy đắng.

− Từ tánh chất ngọt đắng mà sinh các thứ tướng ghét ưa, ưa thì vui vẻ, ghét thì nhăn nhó, ‘vui vẻ’, ‘nhăn nhó’ gọi là tướng…

− Thể của ưa là mong cầu, thể của ghét là xa lánh…

− Do mong cầu hay xa lánh nên xuất ra các ý tưởng hoặc tham hoặc sân gọi là lực.

− Lực này vô hình nhưng có thể tạo nghiệp lành dữ nên gọi là tác.

− Một khi tác rồi thì cứu cánh khổ vui trước sau không thể tránh khỏi…

Phật tuyên nói Thập Như Thị theo trình tự trên, là có nguyên nhân của nó… Vì bởi người đời khổ vui sanh diệt không ra khỏi mười phạm trù này, và nằm trong một quy luật nhất định… Nếu chẳng có nhân, thì duyên kia vô nghĩa… giống như không có hạt giống thì cấy cày phân bón không có chỗ dùng…

Sở dĩ chúng sanh hiện tướng khổ vui tham sân vì trong lòng có tích chứa hạt giống tham sân, giống như đứa bé mới sinh ra, không ai dạy mà tự biết dỗi hờn… Hạt giống vô hình này Phật đạo gọi là “Tập Nhân”… Trong lòng đứa bé đã tích chứa tập nhân khổ vui nên nay vừa sinh ra tự biết biểu lộ tình cảm…

Các duyên thấy nghe Phật gọi là giao báo… Tập nhân tích chứa trong lòng thông qua giao báo của thấy nghe… cho ra cõi nước tức là các thứ tướng khổ vui. Biểu hiện của tướng khổ vui đó là mười kiết sử. Các kiết sử này chính là quả của nhân kia gọi là quả báo… Và từ đó biện biệt cùng trói buộc dẫn dắt hữu tình luống sâu vào phiền não…

Tánh, tướng, thể, lực, tác, rốt ráo trước sau hiện khởi… như con tằm nhả tơ tự trói…

Các vị! Tu hành trong Phật đạo là làm sạch tập nhân vô hình đó… Một khi trong tâm không còn tập nhân, nhân đã không thì mười phạm trù kia tự không. Có nghĩa tâm thanh tịnh thì kiết sử sẽ không hiện khởi. Kiết sử không hiện khởi thì cõi nước cũng thanh tịnh. Cõi nước thanh tịnh thì tánh, tướng, lực, tác đồng đưa người đến thanh tịnh. Nhân quả bây giờ sai khác, như cõi Cực Lạc cây vàng sanh trái bạc, cây lưu ly sanh trái mã não, tiếng chim lại kêu thành tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng… chẳng như quả báo ba cõi.

Vì thế Phật đạo có thể biến “Quả người mà báo thánh, quả ác thành báo lành”. Quả báo vô lậu không như quả báo thế gian người đời thường hiểu… Giống như mặt trời lên thì nỗi ám ảnh hãi sợ bóng ma tự dứt… Nỗi ám ảnh không còn thì tánh tướng và các mối đe dọa vô hình từ con ma không còn. Cũng cảnh đó mà thể, lực, tác bây giờ là an vui chứ không phải đau khổ sợ hãi…

Tóm lại Thập Như Thị chính là nguyên lý hình thành khổ vui ba cõi, và Thập Như Thị cũng chính là nguyên lý để bậc Thánh thoát ra khỏi trói buộc ba cõi… Vì thế Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong giáo trình giảng dạy Phật tri kiến. Có nghĩa là học Phật tri kiến hay học Nhất thiết trí, là một giáo trình Phật giảng dạy cho Bồ Tát gồm nhiều thứ, trong đó có Thập Như Thị.

Thập Như Thị chính là một học phần trong toàn bộ giáo trình nhiều học phần này… Học Thập Như Thị cơ bản là học nguyên lý hình thành ba cõi và nguyên lý thoát ra khỏi trói buộc ba cõi. Thành tựu cơ bản này mới có thể học các học phần khác. Đó là học thêm các thứ phương tiện thiện xảo, giúp hữu tình hết phiền não và tiến đến Phật quả…)

Điều ĐẶC BIỆT thứ ba xin giới thiệu, là ba chiêu thức của “Kim Cang thần công”:

(Để cho lão Hòa Thượng dứt tiếng cười mãn nguyện… Lý Tứ không nói lời nào, quay mình về phía sau, vận chỉ lực vào ngón tay viết ngay lên vách mấy chữ:

“Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực”. Ngón tay Lý Tứ đưa đến đâu, từng cụm bụi đá rơi xuống đó. Nét chữ hằng sâu hơn một đốt tay…

Lý Tứ lại viết tiếp:

“Trụ Vô Vi Kim Cang chỉ lực”. Ngón tay Lý Tứ ấn đến đâu, nét viết lún sâu đến đó nhưng cái lạ là không một hạt bụi rơi ra. Nét chữ hằng sâu vào đá hơn nét chữ đã viết ở trước…

Lý Tứ lại viết:

“Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực”. Lần này nét chữ của Lý Tứ giống như đứa trẻ dùng nhánh cây viết trên nền gạch, nét chữ nhạt nhòa…

Viết xong ba câu trên vách đá, tiếng rào rào ngoài miệng hang vọng vào… Tuy xa nhưng nhờ thính lực của hai cao thủ nên tiếng bụi rơi nghe rõ mồn một…

Lão Hòa Thượng chưa kịp nhận định những gì Lý Tứ thi triển, bằng thói quen giang hồ lão nói lớn:

− Lý Đệ! Ngoài kia có tiếng động!!! Coi chừng có điều chẳng may. Nói xong lão dùng khinh công nhanh như chớp đứng chắn ngay lối vào hang…

− Đại Ca! Tiếng động vừa nghe, không phải biến cố, mà nó là tiếng rơi của lớp đá bụi do Tiểu Đệ viết mấy câu hồi sáng ngoài cửa động.

“Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực” có tác dụng như thế. Đây là thức thứ ba và là thức cuối cùng của “Kim Cang thần công”. Thức này còn có tên “Y Báo thần công”, tức là thần công này chỉ hiện khi giao thoa giữa một tâm thức hữu tình đang phân biệt thị phi…

Đại Ca! Chính mối nghi và tâm so sánh cao thấp của Đại Ca, tâm này làm chánh báo, nên chỉ lực kia phát huy tác dụng. Khi phát huy tác dụng nó trở thành y báo hiện tiền. Lúc nãy, thần công đệ thi triển ngoài kia giao cảm với tâm Đại Ca nên đá trên nét chữ buồn tình mà rơi xuống đất!!!…

Câu: “Tứ bất kiến thị phi” bây giờ chắc Đại Ca hiểu ra rồi chứ!

Tiện đây, Tiểu Đệ sơ lược mấy điều về thần công này cho Đại Ca hay:

− Người bị thần công này đả thương, bề ngoài không thấy dấu vết hay đau đớn. Nhưng khi người đó bất giác hiện trong tâm, thần công liền phát huy tác dụng. Tác dụng của nó đến đâu còn tùy vào mức độ đảo điên của người bị đả thương…

Tác dụng của nó chỉ chấm dứt khi nào người này bình tâm trở lại. Khi bình tâm, cơ thể người này trở về nguyên trạng. Nhưng nếu không biết ăn năn sám hối, lại nổi phàm tình thì thần công phát huy hiệu quả nặng hơn. Chừng ấy người này đau khổ phiền não đến mất hẳn khí lực…

Đại Ca! Thần công này còn có tên “Hóa Độ Kim Cang thần công”… Nó không sát thương người, không hủy diệt như hai thức kia, nhưng có tác dụng răn đe dạy dỗ rất lớn.

Vì thế, nó còn có tên “Từ Bi chỉ lực”…

Hòa Thượng Đại Ca! Giang hồ xưa nay không biết rằng: Đồng một “Kim Cang thần công” nhưng lại có ba thức dành cho ba hạng người thành tựu khác nhau.

Giang hồ cao thủ bậc nhất, cao lắm chỉ luyện được “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực”, nó là loại thần công mà Đại Ca sử dụng…

Còn “Trụ Vô Vi Kim Cang chỉ lực” là loại thần công chỉ dành cho hàng tu luyện đến mức tâm như hư không. Thành tựu thần công này, người sử nó hết thấy đúng sai hơn thua phải quấy, nên còn có tên “Bất Nhị thần công”, lại có tên “Tịnh Danh tâm pháp”…

Thần công thứ ba “Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực” là thần công của hàng thấu đạt Trí Tuệ tối thượng. Thần công này còn gọi là “Tam Muội Đại Hải Trí lực”.

Người thành tựu thần công này thấu suốt tam tạng kinh điển thánh giáo, nên nó còn có tên “Liễu Nhất Thiết Chư Pháp Đà La Ni”…

Hai thứ thần công sau, hầu như thất truyền cả ngàn năm nay… Ha ha ha ha!!!! Đại Ca! Đại Ca còn thắc mắc gì không?

Lão Hòa Thượng nghe xong những điều Lý Tứ vừa nói, hai mắt lão như hai luồng điện hướng về phía Lý Tứ. Lão nói lớn:

− Mô Phật! Mô Phật! Lời Lý Đệ đã đưa lão nạp này đến chỗ bất động rỗng rang, tâm như hang trống…

Ha ha ha ha!!! Xưa nay lão nạp mang trong lòng chủng tử “Hoại hữu vi” mà không tự biết! Ha ha ha ha!!!! “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực” chỉ có công dụng phá hòn đá kiết sử mà không biết kiết sử kia chỉ là kết quả của tập nhân… Ha ha ha ha!!!

Lý Đệ! Lão như người sáng mắt… “Sắc tức thị không, không tức thị sắc…” Từ nay Lý Đệ là bậc thầy của lão nạp rồi… Nhưng đạo tăng tục không cho phép, lão nạp chỉ thờ trong lòng vậy! Ha ha ha ha!!!!

Lý Tứ hướng về phía Hòa Thượng chắp hai tay vào nhau xá Hòa Thượng ba xá nói lớn:

− Chúc mừng Hòa Thượng Đại Ca đã đặt hòn đá ngã nhân xuống dưới chân mình…

Tiểu Đệ là Lý Tam Đao, Lý Cư Sĩ… xin đảnh lễ Hòa Thượng Đại Ca. Xin xưng tán công đức thành tựu Đệ Nhị Kim Cang Thần Công…

Nói xong Lý Tứ lại khom mình xá lão Hòa Thượng ba xá rồi tiếp:

− Phật Pháp Tăng thường trụ, Tam Bảo thường trụ. Ngày nay có tăng thành tựu đại pháp, nhân quả đồng thời, Chánh Pháp chẳng lo diệt mất…

Ha ha ha ha!!! Đại Ca xứng đáng là “Đệ nhất nghĩa tăng”. Mô Phật! Mô Phật! Mô Phật! Mô Phật!!!!)

Khi trích dẫn đoạn văn này con rất cảm động trước lời chơn thiệt của Ngài Lý Tứ:

“Phật Pháp Tăng thường trụ, Tam Bảo thường trụ. Ngày nay có tăng thành tựu đại pháp, nhân quả đồng thời, Chánh Pháp chẳng lo diệt mất…”.

Đúng là: Nhật Quang thường chiếu; Chánh Pháp hiện tiền; Tứ chúng đồng tu; Nhân Sa Môn đồng thời chứng Quả Sa Môn; Có hạnh phúc nào hơn khi Chánh Pháp hưng thịnh trong thời mạt pháp !!!

Con xin đảnh lễ Ngài Lý Tứ ba lễ!!!

Con, Lý Thái Đăng