Vô Thượng Căn Tu Tập Trong Giới Luật Bậc Thánh !!!
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 56.2025 với chủ đề: Vô Thượng Căn Tu Tập Trong Giới Luật Bậc Thánh !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư của Tỳ kheo Tâm Giác ở Huế...!!! Tỳ kheo Tâm Giác chính là Sư Đệ của Ngài Pháp Tánh...!!! Trước đây, Ngài Pháp Tánh cũng đã có một vài lần gởi câu hỏi về chuyên mục...Theo nhận xét cá nhân của Lý Tứ, thông qua các câu hỏi, trong từng nạn vấn, Ngài đã thể hiện sức rộng sâu khó người bì kịp, sức rộng sâu ấy hàm chứa tuệ lực của bậc Long Tượng trong đời...!!!
Hôm nay, nhận được thư của Tỳ kheo Tâm Giác...Trong lòng Lý Tứ khởi lên niềm cảm kích vô biên...!!! Trước khi trả lời các câu hỏi, cho phép bản thân được gởi đến Ngài Pháp Tánh những lời vấn an chân thành nhất...Chúc Ngài khoẻ...Lý Tứ xin được đảnh lễ từ xa...!!!
Sau đây là nội dung thư của Tỳ kheo Tâm Giác:
"Kính chào Thầy Lý Tứ,
Tôi là một Tỳ-kheo tu học theo truyền thống Nam truyền Theravāda. Qua sư huynh tôi là Ngài Pháp Tánh, tôi có nhân duyên được biết đến một số tác phẩm của Thầy như Phật Giáo và Thiền, Tâm Pháp.
Tôi cũng thường theo dõi chuyên mục Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời và cảm thấy rất hoan hỷ, khâm phục phong thái trả lời của Thầy. Tôi nghĩ, không phải vị thầy nào cũng có thể kiên nhẫn và sẵn sàng giải đáp mọi câu hỏi liên quan đến Phật pháp một cách trực tiếp và sâu sắc như vậy.
Hôm nay, tôi có một số thắc mắc liên quan đến Kinh Căn Tu Tập, rất mong được Thầy chỉ dạy để tôi hiểu rõ hơn trên con đường tu tập.
Câu 1:
Kinh nêu rằng Bà-la-môn Pasariya dạy đệ tử tránh tiếp xúc giữa các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và các trần, chẳng hạn không nên nhìn sắc, không nên nghe tiếng. Ngược lại, Vô Thượng Căn tu tập trong giới luật của chư Thánh lại là đối diện và tuệ tri các cảm thọ (khả ý, bất khả ý, khả ý bất khả ý) khi chúng khởi lên.
Xin Thầy giải thích sâu hơn vì sao phương pháp của Bà-la-môn Pasariya lại bị xem là “hữu vi nên thô”, và vì sao không thuộc Vô Thượng Căn tu tập?
Việc ngồi thiền đóng các căn, chỉ chú tâm một đề mục trên thân như hơi thở hoặc phồng–xẹp của bụng, có được xem là hình thức “hữu vi nên thô” hay không?
Câu 2:
Kinh dạy:
“Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả’.”
Xin Thầy giảng giải rõ nghĩa cụm từ:
“Cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả.”
Trong quá trình tuệ tri, có cần luôn phải quán vô thường – khổ – vô ngã của cảm thọ ấy, hay chỉ cần rõ biết và phát triển tâm xả là đủ?
Câu 3:
Kinh còn viết rằng:
“Vị Thánh khi khởi lên… thì có ‘ước muốn an trú’ với tưởng không yếm ly, hay yếm ly, hoặc sau cùng là ‘xả, chánh niệm, tỉnh giác’.”
Xin Thầy giúp tôi phân biệt rõ ba trạng thái:
Không yếm ly – yếm ly – xả trong đoạn kinh này.
Câu 4:
Với một cư sĩ còn bận rộn công việc và gia đình, làm thế nào có thể thực hành Vô Thượng Căn tu tập một cách hiệu quả?
Đặc biệt là việc tuệ tri và xả cảm thọ nơi sáu căn mà không rơi vào căng thẳng vì cố “kiểm soát” tâm?
Câu 5:
Cuối kinh có dạy:
“Đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống…
Hãy thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau.”
Xin Thầy giải thích ý nghĩa đoạn này. “Thiền tư” ở đây nên được hiểu như thế nào?
Kính chúc Thầy Lý Tứ thân tâm an lạc, pháp thể khinh an.
Rất mong được đón nhận sự chỉ dạy từ Thầy.
Huyền Không Sơn Thượng, ngày 4 tháng 11 năm 2025 - 10:34:28 -
Tâm Giác - Huế"
Ngài Tâm Giác và bạn đọc thân mến !!!
Lý Tứ xin được trả lời các câu hỏi theo thứ tự sau:
- Hỏi:
Câu 1: "Kinh nêu rằng Bà-la-môn Pasariya dạy đệ tử tránh tiếp xúc giữa các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và các trần, chẳng hạn không nên nhìn sắc, không nên nghe tiếng. Ngược lại, Vô Thượng Căn tu tập trong giới luật của chư Thánh lại là đối diện và tuệ tri các cảm thọ (khả ý, bất khả ý, khả ý bất khả ý) khi chúng khởi lên.
Xin Thầy giải thích sâu hơn vì sao phương pháp của Bà-la-môn Pasariya lại bị xem là “hữu vi nên thô”, và vì sao không thuộc Vô Thượng Căn tu tập?
Việc ngồi thiền đóng các căn, chỉ chú tâm một đề mục trên thân như hơi thở hoặc phồng–xẹp của bụng, có được xem là hình thức “hữu vi nên thô” hay không?"
- Trả lời:
a) Theo tôi, phương pháp của Bà-la-môn Pasariya có khuynh hướng, dùng ý chí để chế ngự (hay quyết tâm làm mất đi năng lực) thấy nghe..."Ý chí" hay quyết tâm, bản chất là một "hữu vi pháp" !!! Chế ngự các căn để làm mất đi năng lực thấy nghe, chẳng khác gì tự làm cho đui, mù, câm, điếc...Đây là hành động "thô thiển" của "kẻ thiếu trí"...Do hai yếu tố này, nên kinh gọi là "hữu vi nên thô"...!!! Ta có thể hiểu, hành động ấy là việc làm "hữu vi và thô thiển" của người thiếu trí...!!!
b) Vô Thượng Căn tu tập: Là cách tu tập tối thượng của bậc hiền trí...!!! Đối với bậc hiền trí, tu tập là việc làm phát xuất từ nhận thức như pháp giúp các căn không bị nhiễm ô, sáng suốt hơn...chứ chẳng phải hành động đưa đến mù tối...Vì thế, phương pháp của Bà-la-môn Pasariya không được coi là hành động của bậc hiền trí, nó càng không xứng đáng xếp ngang hàng với cách giải quyết vấn đề của bậc trí giả...!!!
c) Bất cứ việc làm nào, hành động nào...không xuất phát từ tuệ tri, chẳng như lí tác ý, không bắt nguồn từ sự minh triết, thiếu hiểu biết như pháp...vv...Phật đạo đều coi đó là "hữu vi và thô thiển" (hữu vi nên thô)...!!!
- Hỏi:
Câu 2: "Kinh dạy: "Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả’.”
Xin Thầy giảng giải rõ nghĩa cụm từ: "Cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả.” Trong quá trình tuệ tri, có cần luôn phải quán vô thường – khổ – vô ngã của cảm thọ ấy, hay chỉ cần rõ biết và phát triển tâm xả là đủ?"
- Trả lời:
a) Ta có thể hiểu câu: “Cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả.” Thành câu: "Do xả, nên cái này trở thành an tịnh, việc làm này trở thành thù diệu"...!!!
b) Không biết mà đã xả, là "trái với đạo trí tuệ"...Trong Thập bát bất cộng của Phật, điều thứ 6: "Không có sự không biết mà đã xả" (Vô bất tri dĩ xả)...!!! Cho nên, để có thể xả một pháp nào đó, người học phải thấu suốt bản chất của pháp ấy rồi mới xả...Vì thế, sau khi quán sát và biết rõ, cảm thọ chỉ do duyên hợp mà thành, như người ta chà hai bàn tay vào nhau phát sinh hơi ấm...Do đó, bản chất của cảm thọ vô thường, vô ngã...nếu ta tham đắm sẽ khổ...!!! Nhờ tuệ tri như thế, pháp xả dễ thành tựu...!!!
- Hỏi:
Câu 3: "Kinh còn viết rằng: "Vị Thánh khi khởi lên… thì có ‘ước muốn an trú’ với tưởng không yếm ly, hay yếm ly, hoặc sau cùng là ‘xả, chánh niệm, tỉnh giác’.” Xin Thầy giúp tôi phân biệt rõ ba trạng thái: Không yếm ly – yếm ly – xả trong đoạn kinh này."
- Trả lời:
a) Không yếm ly: Không từ bỏ, không xa lánh...!!! Yếm ly: Từ bỏ, xa lánh...!!! Xả: Không nắm giữ điều ấy trong lòng...!!!
b) Tưởng không yếm ly: Khởi tưởng trong lòng, ta không xa lìa điều ấy...!!! Tưởng yếm li: Khởi tưởng trong lòng, ta nên xa lánh điều ấy...!!!
c) Đoạn kinh này có thể hiểu: "Khi trong lòng (người tu hành) khởi lên (hoặc ước muốn), ta nên xa lánh điều ấy hoặc không xa lánh điều ấy rồi an trú trong hai ý niệm đó...Vị tu hành này cần phải xả bỏ ý niệm kia (vì nó là hữu vi)...Và, hành động (xả bỏ) này, chính là tinh tấn lực giúp thành tựu chánh niệm (vô niệm), tỉnh giác (không mê)..."....!!! Theo thiển ý của tôi, có lẽ các dịch giả đã quá trung thành với văn bản gốc Pali (cổ) nên khi dịch, câu chữ trở thành khó hiểu với người Việt hiện đại...!!!
- Hỏi:
Câu 4: "Với một cư sĩ còn bận rộn công việc và gia đình, làm thế nào có thể thực hành Vô Thượng Căn tu tập một cách hiệu quả?
Đặc biệt là việc tuệ tri và xả cảm thọ nơi sáu căn mà không rơi vào căng thẳng vì cố “kiểm soát” tâm?"
- Trả lời:
a) Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi rút ra từ quá trình dạy và học ở Lý Gia...Trước khi thực hành điều phục các căn, tất cả học trò Lý Gia đều được trang bị các kiến thức nền tảng về: Nhân sinh, thế giới, thân, tâm, căn, trần, pháp...bản chất ngũ ấm, bản chất các căn, bản chất các trần, bản chất nhận thức, bản chất các pháp...ba duyên hoà hiệp, vô minh xúc, minh xúc...vv...!!! Nhờ thấu suốt các nền tảng kiến thức nêu trên, đến khi họ tiếp nhận phương pháp thực hành Vô Thượng Căn, giống như người tra đúng chìa vào ổ khoá, tâm thức họ lập tức mở ra, an bình đón nhận sự tĩnh lặng bản nhiên khi xúc đối...!!! Lý Gia gọi các bước học tập nêu trên là "Tồi tà hiển chánh môn", "Đoạn mê khai giác môn" và "Thân cận thiện hữu môn"...!!!
b) Hình như HĐ Lý Gia nhờ học tập các pháp nền tảng từ những bước đầu tiên...Nên, các thứ tâm cảnh như: Căng thẳng, kìm nén, cố kiểm soát, mệt nhọc...vv...trong quá trình điều phục bản thân chưa thấy xảy ra...!!! Giống như người làm vườn: Đất đai đã dọn kĩ, cỏ dại bị đốt sạch, hạt giống chuẩn bị xong, nay vào mùa vụ...cứ thế mà gieo trồng...không phải băn khoăn, lo nghĩ gì hết...!!!
- Hỏi:
Câu 5: "Cuối kinh có dạy: "Đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống…Hãy thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau.” Xin Thầy giải thích ý nghĩa đoạn này. “Thiền tư” ở đây nên được hiểu như thế nào?"
- Trả lời:
a) Thiền tư (Tĩnh lự): Tĩnh lặng và tư duy...!!! Thiền: Tĩnh, tầm, giác...!!! Tư: Lự, tứ, quán...!!! Khi thiền tư (hay tầm tứ hoặc giác quán) đúng mực, như pháp...Sơ thiền gồm 5 chi (tầm, tứ, hỉ, lạc và an định) sẽ xuất hiện...!!! Loại thiền này, được dẫn khởi bằng tuệ giác, nên kết quả sẽ là: Vô vi, nhu nhuyến, tinh tế và đưa đến giác ngộ...!!!
b) Đoạn văn trên ngụ ý: "Các ông hãy đến những nơi vắng vẻ mà lặng lẽ tư duy những điều tôi đã dạy"...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Tỳ kheo Tâm Giác và bạn đọc giải toả những thắc mắc vừa nêu...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
04/11/2025
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


