Sóng Ấy Tức Nước !!!

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 29.2025 với chủ đề: Sóng Ấy Tức Nước !!!

Tháng 9 9, 2025 - 14:51
 0  164
Sóng Ấy Tức Nước !!!

Các bạn !!!

Thật thú vị, khi mình vừa nhận được bài viết của bạn đọc Trí Đức ở Bắc Ninh !!!

Không hiểu sao, đọc thư của Trí Đức, mình có cảm giác vừa thích thú, vừa pha lẫn một chút cảm xúc khó tả...Thứ cảm xúc được rung lên bởi sự đồng điệu nào đó, mà nhất thời mình chưa thể gọi tên...!!!

Trong thư, bạn đọc Trí đức đã viết như sau:

"Kính gửi tác giả Lý Tứ,

Tôi xin chân thành cảm ơn ông đã dành nhiều tâm lực, trí tuệ và tấm lòng quảng đại để luận giải tường tận 12 câu hỏi mà tôi nêu ra. Quả thật, được đối thoại cùng ông, tôi cảm nhận một phong thái “không chấp trước trường phái, không hệ lụy giáo điều”, mà chỉ nương nơi trực nhận bản thân, rồi đối chiếu kinh điển để xác chứng. Đây là tinh thần rất gần với cốt lõi “tự chứng tự ngộ” mà các bậc Tổ sư nhiều lần nhấn mạnh.

Trong các hồi đáp, tôi thấy rõ nhiều điểm sâu sắc đáng đồng thuận:

Thứ nhất: Ở phần luận về Ô Giang, ông nhấn mạnh việc “rời lìa hai tướng khen–chê” để trực nhận không tánh. Cách dẫn kệ Huệ Năng “ghét yêu chớ quan tâm, duỗi chân dài nằm nghỉ” thật sự khéo léo, vừa hóm hỉnh, vừa phá chấp.

Thứ hai: Trong giải thích về không tánh, ông sử dụng ngôn ngữ “không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã” thay vì “tánh của các pháp là không”. Đây là điểm then chốt giúp người học không rơi vào cực đoan đoạn kiến, cũng không biến “không” thành một bản thể siêu hình để thủ chấp.

Thứ ba: Khi bàn về kiến lưu và trí quán, ông đã cảnh giác rằng tư duy phản tỉnh, phản biện vẫn thuộc đạo thế gian, còn trí quán mới hướng giải thoát. Sự phân biệt này rất hữu ích cho hành giả đương đại, vốn thường lẫn lộn giữa “minh triết thế gian” và “minh triết giải thoát”.

Thứ 4: Trong việc khai dụng văn học giang hồ–sơn thủy–đối thoại, ông khẳng định nền tảng “không thủ giữ, không sở đắc” làm điểm tựa. Nhờ vậy, văn chương có thể sống động mà không đánh mất tính chân thực của đạo pháp.

Tuy nhiên, bên cạnh những sự đồng thuận ấy, tôi vẫn còn một số điểm muốn xin ông khai thị thêm:

1. Về “tâm không” và “không tâm”

Ông đã nêu lộ trình từ “đa tâm → thiểu tâm → nhất tâm → tâm không → không tâm”. Cách sắp xếp này gợi cho tôi một sự phân tầng rất vi tế. Nhưng ở đây, liệu “tâm không” và “không tâm” có phải là hai cảnh giới hoàn toàn sai biệt, hay chỉ là hai danh xưng khác nhau cho cùng một thể nghiệm? Nếu sai biệt, xin ông minh họa bằng ví dụ cụ thể — chẳng hạn trong sự vận hành của tâm thức khi đối cảnh — để hành giả có thể phân biệt, tránh ngộ nhận.

2. Về ba loại “Kim Cang Chỉ Lực”

Ông đã khai triển thành “Tận hữu vi, Trụ vô vi, Phi hữu vô”. Lời giải thích có chiều sâu, liên hệ đến kinh Duy Ma Cật và pháp môn “Tận vô tận giải thoát”. Song, tôi còn một mối băn khoăn: Làm sao hành giả trong quá trình tu học biết mình đang rơi vào cực đoan nào? Thí dụ, khi tinh tấn hành thiện, làm sao phân biệt đó là “tận hữu vi” (mất từ bi, thiên về công đức hữu vi) hay đã tiệm nhập “phi hữu vô”? Và ngược lại, khi ưa thích tịch tĩnh, làm sao biết mình đang trụ vô vi mà thiếu động lực trí tuệ? Có dấu hiệu tâm lý, hoặc một thước đo đời sống cụ thể nào, để hành giả tự soi xét?

3. Về “tự tánh” và nguy cơ thường kiến

Ông khẳng định lo ngại rơi vào thường kiến là “có vẻ thừa”, vì những ai chưa học chánh pháp tất nhiên sẽ nhầm lẫn. Tôi hiểu và đồng thuận ở mức nào đó. Tuy nhiên, vẫn còn một thực tế: Nhiều hành giả, khi nghe mô tả tự tánh là “thanh tịnh, bất động, liễu tri, an lạc”, thường bất giác đồng nhất nó với một “bản ngã vi tế” để bám chấp. Ở đây, câu hỏi của tôi là: Trong giảng dạy ở Lý Gia, ông có chủ trương nhấn mạnh đến giới hạn sử dụng ngôn từ (tức là chỉ nên khai thị ở mức độ thích hợp cho từng căn cơ), hay ông thiên về phương án giải thích rộng rãi nhưng kèm theo cảnh báo? Hai cách này có ưu và nhược điểm gì trong giáo dục tu học?

4. Về phương diện “không thủ giữ, không sở đắc” trong văn chương

Ông ví dụ bằng cái trống: Bản thân trống không tự kêu, nhưng khi có lực tác động thì âm thanh phát ra. Đây là một ẩn dụ rất hay. Tôi chỉ muốn hỏi thêm: Khi người viết dùng ngôn ngữ đầy hình tượng, đôi khi “cảm xúc văn học” có thể dẫn độc giả sơ cơ xa rời tinh thần “bất thủ bất đắc”. Vậy ông có phương pháp nào để điều chỉnh — tức là giữ cho “lửa văn chương” không đốt cháy mất “tính chân thực của giáo pháp”?

Kính mong ông từ bi làm rõ thêm. Những câu trả lời trước đã khiến tôi và nhiều bạn đọc có thêm nhiều cánh cửa khai mở. Nếu những thắc mắc trên đây được sáng tỏ, chắc chắn sẽ giúp hành giả ngày nay — giữa muôn duyên phức tạp của đời sống hiện đại — có thêm ngọn đuốc để định hướng.

Nguyện chúc ông nhiều sức khỏe, tiếp tục thắp sáng ngọn lửa trí tuệ trên quê hương này.

Kính,

Chiều thu bên dòng Như Nguyệt (08.09.25) - 17:38:38 - Trí Đức - Bắc Ninh"

Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!

Trước khi trả lời các câu hỏi...Lý Tứ mạn phép được gọi Trí Đức bằng danh xưng "bằng hữu" thay vì "bạn đọc"...Để tỏ mối thân tình khi hân hạnh được hầu chuyện cùng Hiền nhân đất Kinh Bắc...!!!

- Hỏi:

1. "Về “tâm không” và “không tâm”

Ông đã nêu lộ trình từ “đa tâm → thiểu tâm → nhất tâm → tâm không → không tâm”. Cách sắp xếp này gợi cho tôi một sự phân tầng rất vi tế. Nhưng ở đây, liệu “tâm không” và “không tâm” có phải là hai cảnh giới hoàn toàn sai biệt, hay chỉ là hai danh xưng khác nhau cho cùng một thể nghiệm? Nếu sai biệt, xin ông minh họa bằng ví dụ cụ thể — chẳng hạn trong sự vận hành của tâm thức khi đối cảnh — để hành giả có thể phân biệt, tránh ngộ nhận."

- Trả lời:

a) Về "tâm không" và "không tâm"

Đây là hai cảnh giới hoàn toàn khác nhau trong đạo pháp (một xuất thế, một bán xuất thế)...!!!

Tuy hoàn toàn khác nhau, nhưng lại có sự "chồng lấn" lên nhau...Chỉ khi nào, vị tu hành này thực chứng rốt ráo (viên mãn) Diệt đế (A la hán của Nhị thừa hay Phật tử trụ của Bồ tát quyền thừa) mới thật sự hết cảm giác "chồng lấn" này..!!!

* Tâm không, hay vô lậu tâm...Là cảnh giới của một người còn tâm, nhưng tâm ấy không tích chứa lậu hoặc (khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ)...!!!

Tâm này có được do hành giả đã vượt qua hai cấp học Khổ đế và Tập đế...!!! Tâm không, giống như người đến gần thành Niết bàn (giải thoát), đã đặt một chân vào thành, chân kia còn ở thế gian...Giống như người đứng trên đỉnh núi cao, toàn thân trong hư không nhưng da bàn chân hãy còn chạm đất !!! Đây là cảnh giới A na hàm của Nhị thừa, hoặc Đồng chơn trụ của Bồ tát quyền thừa !!!

* Không tâm, hay bổn tâm...Là cảnh giới của những vị đã "chứng Diệt đế" của Giáo tông, hay "hoát nhiên ngộ ra" xưa nay vốn không tâm, không pháp của Tâm tông...Người xưa, gọi là "minh tâm kiến tánh" hay "bản lai diện mục"...!!! Không tâm, giống như người đã vào hẳn thành Niết bàn (giải thoát)...Như con bướm đã thoát khỏi kiếp tằm...!!!

b) Ta có thể lấy trường hợp của Huệ Năng để tạm minh hoạ cho hai tâm cảnh này...!!!

Sau khi nghe kinh Kim Cang, Huệ Năng thấy được tâm này trống rỗng, chẳng có gì trong đó: "Bổn lai vô nhất vật"...!!! Nhưng, khi lên thất Tổ, được Tổ khai thị, mới nhận ra xưa nay chẳng có tâm, bèn thốt lên: "Nào dè"...!!!

Ta cũng có thể cảm nhận hình ảnh tâm không, như nguồn nước đã được làm sạch các tạp chất nhiễm ô thô trọng (hết lậu hoặc), nhưng các nhiễm ô vi tế như vi khuẩn gây bệnh (trần sa hoặc) còn tiềm ẩn đâu đó (tuy đã trong nhưng chưa sạch, tinh mà không khiết)...!!!

Không tâm, như thứ nước trong ấy đã được khử khuẩn triệt để (vừa tinh vừa khiết)...Công cụ để khử khuẩn, chính là học tập Bát Nhã Ba La Mật Đa để "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không" (lục Ba la mật)...!!!

Trí Đức và bạn đọc có thể tham khảo bài viết Câu Chuyện Ngắn Ngủn từ đường dẫn:

https://www.facebook.com/share/p/14GxzWHBtmm/?mibextid=wwXIfr

- Hỏi:

2. "Về ba loại “Kim Cang Chỉ Lực”

Ông đã khai triển thành “Tận hữu vi, Trụ vô vi, Phi hữu vô”. Lời giải thích có chiều sâu, liên hệ đến kinh Duy Ma Cật và pháp môn “Tận vô tận giải thoát”. Song, tôi còn một mối băn khoăn: Làm sao hành giả trong quá trình tu học biết mình đang rơi vào cực đoan nào? Thí dụ, khi tinh tấn hành thiện, làm sao phân biệt đó là “tận hữu vi” (mất từ bi, thiên về công đức hữu vi) hay đã tiệm nhập “phi hữu vô”? Và ngược lại, khi ưa thích tịch tĩnh, làm sao biết mình đang trụ vô vi mà thiếu động lực trí tuệ? Có dấu hiệu tâm lý, hoặc một thước đo đời sống cụ thể nào, để hành giả tự soi xét?"

- Trả lời:

Thông thường, hành giả không tự biết mình đang kẹt mắc ở Tận hữu vi hay Trụ vô vi...Cả Duy Ma Cật và Văn Thù đều còn không tự biết, phải đến khi Phật dạy pháp môn Tận vô tận giải thoát mới ra khỏi hai cảnh giới đó...!!!

Để giúp học trò không rơi vào hai tâm cảnh nêu trên...Đạo sư của họ sẽ có cách đưa họ thoát ra...!!! Trừ bậc có "nguyện lực sâu dày", khi ở trong đó, đủ duyên họ sẽ tự thoát ra, cảnh giới này kinh gọi "Bồ tát nhớ lại nguyện xưa"...giai đoạn này, kinh gọi là "Bồ tát từ Bất động bước ra" (xem Lăng Già) !!! Đây là lí do vì sao, Bồ tát phải phát nguyện rộng sâu...Phát nguyện rộng sâu không hề giống người tu hành thường hô bốn câu khẩu hiệu của Ngài Phổ Hiền (Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ...) !!!

Phát nguyện rộng sâu, chính là "gieo chủng tử lành" để khi thực chứng, không bị rơi vào "thiệt tế"...Nếu lỡ bị rơi, đủ duyên sẽ "nhớ lại nguyện xưa" mà...tự...thoát...ra...!!!

- Hỏi:

3. "Về “tự tánh” và nguy cơ thường kiến

Ông khẳng định lo ngại rơi vào thường kiến là “có vẻ thừa”, vì những ai chưa học chánh pháp tất nhiên sẽ nhầm lẫn. Tôi hiểu và đồng thuận ở mức nào đó. Tuy nhiên, vẫn còn một thực tế: Nhiều hành giả, khi nghe mô tả tự tánh là “thanh tịnh, bất động, liễu tri, an lạc”, thường bất giác đồng nhất nó với một “bản ngã vi tế” để bám chấp. Ở đây, câu hỏi của tôi là: Trong giảng dạy ở Lý Gia, ông có chủ trương nhấn mạnh đến giới hạn sử dụng ngôn từ (tức là chỉ nên khai thị ở mức độ thích hợp cho từng căn cơ), hay ông thiên về phương án giải thích rộng rãi nhưng kèm theo cảnh báo? Hai cách này có ưu và nhược điểm gì trong giáo dục tu học?"

- Trả lời:

a) Tự tánh (kiến tự tánh, kiến tánh) là cảnh giới của giác ngộ, của thực chứng chứ không phải cảnh giới của suy luận hoặc ngộ nhận...!!! Trước giờ, mình cũng gặp rất nhiều người tu hành ngộ nhận cảnh giới này thông qua chấp thủ...!!!

Chuyện người tu hành nghe nói tự tánh gồm thế này, thế kia, rồi "bất giác đồng nhất nó với một “bản ngã vi tế” để bám chấp" như Trí Đức đã nêu...không phải là hiếm...Nhưng, đành chịu vậy...!!! May mắn là, HĐ Lý Gia nhờ học tập có bài bản, thứ lớp, được kiểm tra thường xuyên...Nên không bị rơi vào cảnh ngộ "cắc cớ" đã nêu...!!!

b) Trong dạy và học của Lý Gia...Bất kì một bài học nào, cũng được lồng ghép hai phần Giáo tông và Tâm tông của giáo pháp...!!!

Giáo tông giúp người học nắm vững kiến thức (chuẩn) của từng giai đoạn học tập...Tâm tông nhằm khai thị, mang tính trực chỉ để trong khi đang học (có thể) thấy được điều cần thấy...!!!

Trừ trường hợp đặc biệt, nhận ra thời cơ chín muồi của một HĐ nào đó, mình trực tiếp khai thị để họ thấy...Tuy vậy, sau đó người ấy vẫn phải học Giáo tông để biết tâm cảnh vừa thấy là gì và nó ở giai đoạn nào trong tiến trình học tập...Nhờ thế, trong Lý Gia không có chuyện ngồi nhầm lớp hay học lộn sách giáo khoa rồi chấp thủ khơi khơi...!!!

- Hỏi:

4. "Về phương diện “không thủ giữ, không sở đắc” trong văn chương

Ông ví dụ bằng cái trống: Bản thân trống không tự kêu, nhưng khi có lực tác động thì âm thanh phát ra. Đây là một ẩn dụ rất hay. Tôi chỉ muốn hỏi thêm: Khi người viết dùng ngôn ngữ đầy hình tượng, đôi khi “cảm xúc văn học” có thể dẫn độc giả sơ cơ xa rời tinh thần “bất thủ bất đắc”. Vậy ông có phương pháp nào để điều chỉnh — tức là giữ cho “lửa văn chương” không đốt cháy mất “tính chân thực của giáo pháp”?"

- Trả lời:

Người thật sự giác ngộ, cho dù đang phiêu phưỡng ở cõi thơ, ca, văn chương hay bất cứ thứ gì...Cũng không thể "bất giác" hay "quên chỗ giác ngộ" của họ...!!!

Giống như nước đã trong, cho dù nổi bao nhiêu sóng, nước ấy vẫn là nước trong...Kinh gọi cảnh giới này "sóng ấy tức nước", hay "hoặc loạn tức thường"...Còn Lục Tổ Huệ Năng thì, phán một câu xanh rờn: "Xông đao phá trận cũng thanh tịnh"...!!! Giống như vàng ròng, cho dù vàng đó ở đâu, cũng không hề biến chất hay mất giá trị...!!!

Thành ra, chuyện: "lửa văn chương” không đốt cháy mất “tính chân thực của giáo pháp" như Trí Đức đã nêu là "không thể có" trong giác ngộ chân thật !!!

Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!

Đạo chẳng ở gần mà cũng chẳng ở xa...Đời đạo vốn không hai...Giác ngộ chân thật rồi, mới biết chẳng có gì là đời và chẳng có gì là đạo...Đời, đạo rốt cùng cũng chỉ là "giả danh" của hai bờ "mê ngộ"...!!!

Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Trí Đức cùng bạn đọc thoả mãn một vài thắc mắc trong lòng...!!! Chúc tất cả an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

08/09/2025

LÝ TỨ

P/s: Mình cũng đã nhận được ba câu hỏi của bạn Trà ở Gia Lai...Nội dung:

"1. Ngay bây giờ ngay lúc này, Thầy đã nhận ra mình là gì ạ?

2. Vô minh nghĩa là gì ạ?

3. Giác ngộ nghĩa là gì ạ?"

07/09/2025 - 9:36:52 - Trà - Gia Lai"

Sẽ trả lời riêng qua messenger theo yêu cầu...!!!

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow