Tổng Kết Chủ Đề: Con Đường Giúp Người Thành Tựu Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt

Tổng kết Trò chơi trí tuệ số 05.2020 với chủ đề Con Đường Giúp Người Thành Tựu Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt

Tháng 3 16, 2022 - 22:21
Tháng 7 4, 2022 - 22:03
 0  217
Tổng Kết Chủ Đề: Con Đường Giúp Người Thành Tựu Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt
Trò Chơi Trí Tuệ Số 05.2020

Các bạn !!!

Sau gần nửa tháng, từ khi khởi động TCTT - 05/2020 !!! BQT đã nhận được rất nhiều bài viết của HĐ gởi về...!!!

Và, một điều rất hoan hỉ đó là, hầu như có đến 98% số bài viết đáp ứng yêu cầu các câu hỏi đặt ra...Vì có quá nhiều HĐ trả lời đúng, việc phải lựa chọn một số bài tiêu biểu hội đủ ba tiêu chí đúng, hay, lập luận thuyết phục là điều không dễ, BQT phải đọc nhiều lần và cân nhắc thận trọng !!! 

Sau khi thẩm định, đánh giá, so sánh... BQT nhất trí chọn bài viết của các HĐ sau đây để trao quà Trò Chơi Trí Tuệ - 05/2020 !!!

1)Lý Thiện Cảnh - Cần Thơ

2)Lý Hậu Vệ - Cần Thơ

3)Lý Ngọc Thuý - Cần Thơ

4)Lý Thái Đăng - Tây Nguyên

5)Lý Ngọc Uyên - Tây Nguyên

6)Lý Minh Thuỳ - TP Hồ Chí Minh

7)Lý Giác Thư - Hà Nội

8)Lý Phương Anh - Hà Nội

9)Lý Thiện Huệ - An Giang

10)Lý Nhạn Ảnh - Quảng Nam 

Các bài viết của HĐ tương đối dài, dung lượng của trang có giới hạn... Vì thế, BQT chỉ giới thiệu đến các bạn hai bài viết tiêu biểu của Lý Phương Anh và Lý Thái Đăng để mọi người tham khảo...!!! Những bài viết còn lại, sẽ được BQT đăng vào thời điểm thích hợp !!! 

Chân thành cảm ơn các bạn !!!

Hẹn gặp lại ở TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 06/2020 !!!

30/06/2020 !!!

LÝ TỨ

1. Bài viết của Lý Phương Anh 

Kính Thầy,

Con xin trả lời các câu hỏi của Trò chơi trí tuệ chủ đề: CON ĐƯỜNG GIÚP NGƯỜI THÀNH TỰU NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP VÔ DỊ BIỆT. Kính mong Thầy và các HĐTM góp ý, chỉ dạy thêm cho con được tỏ tường. 

1) Vì sao, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu...Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ??? 

Thưa thầy,

Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói: “Đại sự nhân duyên của Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Có nghĩa: Phật ra đời chỉ có một mục tiêu duy nhất là dạy người thành Phật. 

Tuy nhiên những điều của Phật, một chúng sanh không thể học được do vẫn mang trong mình những tính chất của chúng sanh. Giống như một người mù thì không thể học màu sắc, không thể học hội hoạ; một người người bị què chân thì không thể học môn điền kinh. Thì cũng như vậy, nếu hữu tình vẫn còn mang trong mình nguyên chất chúng sanh, khi Phật dạy điều gì, điều đó cũng trở thành chúng sanh. Một người mê thì dạy cái gì cũng thành kết quả của mê. Một người còn tâm tham thì có dạy trí tuệ siêu việt gì thì trí tuệ này cũng nhằm để phục vụ cho kiết sử, phục vụ cho tâm tham, sân, si của người ấy. Kết quả sẽ không thể như những gì Phật đạo mong muốn. 

Do đó Tư lương vị và Kiến đạo vị ra đời nhằm làm công việc triệt tiêu tính chất chúng sanh trong một hữu tình. Khi chất chúng sanh đã được triệt tiêu, tịch diệt hết thì bây giờ chúng sanh này mới có thể học được văn hoá của Phật. Gọi là Tu, hay Tu Đạo Vị, tức Đạo Đế (tu trí tuệ của Phật). Ví như một người mù đã được chữa cho sáng mắt giờ mới có thể nhận biết một cách chính xác màu sắc và học hội họa. Hay như một người què chân sau khi đã được chữa cho lành chân, khỏe mạnh giờ đây mới có thể đi, đứng, chạy, học môn điền kinh. 

(Cũng cần phải làm sáng tỏ một chút về chữ Tu ở đây. Phần lớn người đời sử dụng chữ “tu” trong suốt quá trình từ dấn thân tu hành cho tới thành tựu. Điều này không sai nhưng để phân tích theo góc độ chuyên môn, kĩ thuật Phật đạo thì cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Phật là đấng trí tuệ, Phật ra đời chỉ có một mục tiêu duy nhất là dạy người thành tựu trí tuệ của Phật. Như vậy người tu hành trong Phật Đạo là tu cho thành trí tuệ (Chánh Đẳng Chánh Giác), học là học cái trí tuệ, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Do vậy mới nói “Duy tuệ thị nghiệp”, chữ tu cần phải hiểu theo nghĩa này.) 

2) Ý nghĩa tứ niệm xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng khác nhau như thế nào??? Ba tầng bậc đó giải quyết bốn niệm xứ ra sao??? Đề nghị giải thích rõ cách giải quyết của từng tầng bậc và cứu cánh của nó??? 

Thưa thầy,

Tuy đều là trên bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp tuy nhiên Tứ Niệm Xứ được chia ra 3 tầng bậc khác nhau là: Tứ Niệm Xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng. Trong đó, mỗi tầng bậc có một cách giải quyết và cứu cánh khác nhau, từ cạn đến sâu. Cụ thể: 

- Tầng thứ nhất: Tứ niệm xứ của thế gian.

Người đời và Nhị thừa có những quan niệm, hiểu biết sai lệch về bốn món Thân Thọ Tâm Pháp, vô thường mà tưởng là thường. Từ đó, những tính chất nhất thời trong một hữu tình hiện khởi, che mờ tâm trí, làm cho khổ đau phiền não. 

Do vậy, ở tầng bậc này, cứu cánh là giải quyết cái khổ của thân thọ, tâm, pháp vô thường. Và Phật dạy cách giải quyết là: “Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.” 

Cách giải quyết này thiên về việc dựa vào những thấy biết trong hiện tại nhân nơi một hiện tượng (thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã), từ đó người ta tìm cách lánh xa hiện tượng hoặc cắt đứt liên hệ với hiện tượng. Có thể thấy cách giải quyết này được phản ánh rõ trong hai triết lý là, triết lý yểm ly xa lánh và triết lý chế ngự tham ưu của Thanh Văn và Duyên Giác. Với tinh thần chủ động yểm ly, chủ động tỉnh giác, chủ động ngăn ngừa, phòng tránh và chế ngự đưa đến cứu cánh hết khổ. 

- Tầng thứ hai: Tứ niệm xứ của Xuất thế gian.

Cứu cánh là thành tựu thân, thọ, tâm pháp giải thoát tức cũng mang cái thân này thọ, tâm, pháp này nhưng nó không còn trói buộc. Đối với tầng bậc này, Phật dạy: Tất thảy do duyên hiệp, thân thọ tâm pháp cũng đều do duyên hiệp và “Quán thân đồng như hư không, quán thọ không trú xứ (chẳng ở trong, chẳng ở ngoài chẳng ở chặng giữa), quán tâm chỉ là danh tự (tánh danh tự rời rạc), quán pháp không tánh (thiện chẳng thể được bất thiện chẳng thể được).” (Kinh Đại Niết Bàn) 

Ở tầng bậc này, cách tiếp cận Tứ Niệm Xứ gần gũi với chân lý và thiên về trí tuệ hơn, khách quan, tìm đến bản chất của sự việc hơn là hiện tượng như ở tầng bậc thế gian. Với triết lý “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, Bồ tát thừa tư duy, mổ xẻ, tìm xem cái gì là Tâm, cái gì là Pháp, bản chất của Tâm của Pháp là gì. Khi hiểu được bản chất của Tâm và Pháp, Bồ Tát tìm kiếm nguyên nhân vì sao một hữu tình phiền não sanh diệt. Khi trực nhận ra rằng tất cả chỉ một niệm Mê, khi Mê thì Tâm sanh Pháp sanh, dứt Mê Tâm Pháp đồng tịch diệt, tất cả đồng hư không. Tứ Niệm Xứ vẫn còn đó nhưng đồng không xứ. Tức cũng vẫn mang thân này, thọ tâm pháp này nhưng Thân Thọ Tâm Pháp giải thoát không còn trói buộc. Do giác ngộ, giải quyết tận gốc rễ mọi vấn đề như vậy mà thành tựu Niết Bàn Chân Đế. 

- Tầng thứ ba: Tứ Niệm Xứ của Xuất thế gian thượng thượng.

Cứu cánh là thành tựu Thân Thọ Tâm Pháp thường, tức có đủ các tính chất cao đẹp của Trí tuệ: Thân tịnh, thọ lạc, tâm thường, pháp ngã (bốn tính chất: Thường, ngã, lạc, tịnh của Đại Niết Bàn). 

Để thành tựu điều này, Bồ Tát Nhất thừa lấy Tứ Niệm Xứ là bốn nơi chốn để phát tâm Vô thượng Bồ Đề, là đạo tràng để hoàn thành sứ mạng của mình, thành tựu Đạo nghiệp. “Nhất thừa lấy việc dạy người làm mục tiêu tu học, lấy thành tựu của người làm thành tựu của mình, lấy việc chữa bệnh cho người để mình hết bệnh. Họ coi Tứ Niệm Xứ là bốn nơi chốn “lập đàn thí pháp”, nơi đây sẽ giúp họ tích lũy công đức và trí tuệ, hai thứ không thể thiếu trong Phật đạo, nếu muốn thành tựu đạo quả cao nhất.” (Lý Tứ- Anh Lạc Luận). Từ đó đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp thường hằng. 

Như vậy, tuy chia chẻ làm 3, nhưng các tầng bậc của Tứ Niệm Xứ thực chất là các giai đoạn lần lượt trong một quy trình công nghệ rất khoa học, đồng hướng về một mục đích là: Chuyển hóa một sản phẩm từ tầm thường, giá trị nhỏ (phàm phu vô văn tứ đảo tưởng, thân thọ tâm pháp chứa đầy nhiễm ô, nặng khổ đau phiền não) thành siêu việt, mang giá trị to lớn, hữu ích, tuyệt phẩm Trí tuệ (Siêu nhân loại - Bồ Tát Ma Ha Tát với đủ các tính chất Thường, Ngã, Lạc Tịnh của Đại Niết Bàn). 

Đây cũng chính là con đường để giúp người thành tựu nhiếp thọ Chánh pháp vô dị biệt. 

3) Trong thập bát bất cộng của Phật, điều thứ sáu: “Vô bất tri dĩ xả” ... Có nghĩa: Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả...!!! Theo lời dạy này, người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu) ...Hệ quả của việc xả bỏ này là gì??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ cụ thể!!!??? 

Thưa thầy,

Người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu) với một niềm tin rằng không cần hiểu tận nguồn cơn, không cần thông suốt cứ xả bỏ là sẽ được cái rỗng rang, đưa đến thành tựu đạo quả. Nếu điều này đúng thì “thất học” hẳn là con đường ngắn nhất để đưa một đứa trẻ ngu ngơ… thành nhân tài!!! Và nếu thứ triết lý này là chân lý thì hẳn không cần có nhà trường có thầy cô, không cần giáo dục con trẻ, Phật đạo cũng chẳng cần giáo lí, kinh điển. 

Một đứa trẻ không đến trường, không học tập thì đúng là đứa trẻ sẽ rỗng rang không phiền hà bởi việc học nhưng sẽ mãi chỉ là một đứa trẻ ngu ngơ, là con người nhưng trí tuệ chỉ dừng lại ở bản năng con vật… 

Đời đã như vậy thì Đạo chẳng thể khác. Nếu cứ theo cái niềm tin vô căn cứ rằng cứ xả bỏ mọi thứ mà không cần biết vì sao, như thế nào, đúng hay sai, chân hay vọng, thì hệ quả là đúng mọi thứ sẽ được xả bỏ, còn lại một thứ là… cái sự ngu nghê!!! 

Vậy Phật là Đấng trí tuệ hay Đấng ngu nghê đây???!!! Đó là chưa nói đến cái khẩu hiệu đầu môi “cứ xả bỏ mọi thứ” thực chất chỉ là một sự tự gạt gẫm mình, chứ thực tế mình nói bỏ nó mà nó có chịu bỏ mình không lại là một chuyện khác. Khi chưa hiểu biết, thấu suốt thì chẳng phải bảo bỏ là bỏ được, nói buông là buông được, bỏ đầu môi chóp lưỡi nhưng sâu thẳm bên trong tham sân si vẫn còn nguyên, bất di bất dịch, chờ cơ hội bùng nổ. 

Vì vậy, trong thập bát bất cộng của Phật điều thứ sáu:” Vô bất tri dĩ xả” … có nghĩa: Như Lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả. 

Và Phật cũng dạy: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi” 

Điều này có nghĩa để tới Niết bàn an vui, thành tựu Trí tuệ phải đi theo ánh sáng được soi rọi từ ngọn đuốc Chánh pháp, phải Văn (nghe, học) - Tư (Tư duy thấu suốt nguồn cơn) - Tu (thực hành tới nơi tới chốn). Chứ không phải là bước đi trong tăm tối, đi chỉ bằng niềm tin trong sự ngô nghê, mê muội không cần hiểu không cần thấu suốt mà cứ xả bỏ, là thiếu cơ sở, vô căn cứ, không khoa học và phản giáo dục. 

4) Vì sao Bồ Tát phải nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh là: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh ??? Nếu Bồ Tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết, có thể thành tựu Bồ Tát Đạo hay không??? Xin giải thích vì sao như vậy ??? 

Thưa thầy,

Theo con, Bồ Tát phải Nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh vì ngũ minh chính là chất liệu làm nên 2 yếu tố quan trọng là Nội lực và Chiêu thức, giúp Bồ tát hành Bồ tát đạo độ thoát chúng sanh. Nếu Bồ tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết thì rất khó để thành tựu Bồ Tát Đạo. 

Có thể phân tích từng thứ minh để thấy rõ như sau:

- Nội minh: Có nghĩa Bồ tát cần nắm vững nội điển kinh luận, nghiên cứu thấu suốt, giác ngộ, thân chứng. Nếu không nắm vững nội điển thì sẽ không thể thuyết cho người được hoặc thuyết sai. Mà trong Phật đạo cũng giống như giáo dục ngoài đời, một người bình thường hiểu sai chưa phải là điều gì rất nghiêm trọng, nhưng một người giáo viên mà sai, rồi hướng dẫn cái sai này cho nhiều người khác thì điều này là không nên. 

- Ngoại minh: Tức phần ngoại điển. Bồ tát cần phải có cả ngoại minh vì nếu chỉ nắm vững nội minh, nắm vững giáo pháp không thôi mà không có một số hiểu biết bên ngoài, hiểu biết một số điều cơ bản về mặt xã hội, triết lý, tôn giáo, văn hoá..v..v... trong thế gian thì cũng sẽ gây hạn chế, khó chiết phục tâm người thế gian. 

- Thanh minh: Có nghĩa là biết nghe tiếng tâm của người, thông qua cách nói thông qua hình ảnh của người mà biết trong lòng họ muốn gì, bị kẹt mắc điều gì. Đây chính là năng lực tương thông tâm ý. Năng lực này rất quan trọng. Bởi người đời vốn đa tâm, nguồn tâm chảy ào ạt như một dòng thác lũ chồng chất rối rắm, nếu Bồ Tát không có Thanh minh, không có khả năng tương thông tâm ý thì rất khó để thấy “yếu huyệt” thấy “cửa vào”, đã không chỉ được tâm thì rất khó mà điều phục. Giống như một người đi bắt thú dữ mà không biết con thú ở đâu, hình dáng màu sắc con thú như thế nào thì việc bắt thú là vô phương chứ chưa nói đến điều phục thú. 

- Y phương minh: Giống như một vị bác sĩ biết bắt mạch cho thuốc, thì y phương minh với Bồ tát là biết bệnh của chúng sanh mà cho thuốc Phật pháp phù hợp. Bồ tát dù có nguyện lớn độ thoát chúng sanh nhưng nếu khiếm khuyết y phương minh, giống như dược sĩ có sẵn một kho dược liệu, thương bệnh nhân nhưng cũng không biết cách nào mà chế thành thứ thuốc cho phù hợp, dứt bệnh. 

- Công xảo minh: Ý nói mặt kĩ thuật, sự thiện xảo của Bồ tát trong giáo hoá. Giống như người nghệ nhân khéo léo bằng vài đường đục đẽo mà có khả năng biến một thân cây thành một bức tượng hoàn hảo. Bồ tát không có công xảo minh giống như người thợ tay nghề hạn chế, trong đầu đã có ý tưởng về bức tượng nhưng thực tế thực hiện thì vụng về, cù cưa, không biết tận dụng những nguồn lực sẵn có để khéo léo đạt mục tiêu. 

Tóm lại, có thể ví ngũ minh như chiếc ba lô không thể thiếu trên lưng của Bồ tát trên con đường hành Bồ Tát Đạo. Ngũ minh kết hợp nhuần nhuyễn sẽ là thứ giúp Bồ Tát nắm vững vấn đề, hiểu rõ căn cơ, biết chỗ kẹt của người, thấy chìa khoá mở tâm, thiện xảo khế cơ khế thời khế lý giúp người thấy những điều cần thấy, thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo. Khiếm khuyết một trong 5 món Ngũ minh đều sẽ là trở ngại, hạn chế khiến Bồ Tát không thể viên mãn Đạo nghiệp, nhiếp thọ Chánh pháp vô dị biệt. 

Con, Lý Phương Anh

2. Bài viết của Lý Thái Đăng 

Kính Thầy !!!

Kính thưa các HĐTM Lý Gia!

Con xin trả lời các câu hỏi TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 05/2020

CHỦ ĐỀ: CON ĐƯỜNG GIÚP NGƯỜI THÀNH TỰU NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP VÔ DỊ BIỆT 

1) Vì sao, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu...Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ ??? 

Trả lời:

Chữ “TU” đối với quan niệm thế gian (hiện nay) đang được hiểu vô cùng thông thoáng… Hầu như tất cả những hành vi, xử sự liên quan đến đời sống của người đọc kinh, thiền định… đều được gọi là TU... có khi chỉ cho người (hành hương, đi chùa lễ Phật); có khi chỉ cho hành vi (sám hối, làm lành, lánh dữ, giữ giới, ăn chay…); hoặc chỉ cho những hoạt động như (xây chùa, đúc chuông, thỉnh tượng, cúng dường…). Tất cả đều được coi là… tinh tấn tu hành, mà chưa có sự phân chia rành mạch… Vậy căn cứ vào đâu, để được gọi là tu trong Phật đạo?.

Căn cứ vào Tứ Đế, triển khai thành 37 môn học trong Phật đạo thì, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu... Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo, nghĩa là phải Hết khổ, Dứt tập, Chứng diệt mới Tu đạo trí tuệ. 

Để làm sáng tỏ vấn đề này ta căn cứ vào lời dạy trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” (hay thấy biết như Phật).

Muốn thực hiện được quá trình “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến”, đòi hỏi người tu hành phải có những điều kiện cần và đủ như “Thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh” hay còn gọi là “Minh tâm kiến tánh” (chứng diệt đế) ra khỏi hữu lậu tâm mới học được trí tuệ của Đạo đế, ví như người mù phải chữa cho sáng mắt, mới đi học chữ; người hết què, mới đi học võ; Có đủ điều kiện xuất ngoại, mới đi học nước ngoài…vv 

Tổ cũng đã dạy “Bất thức bổn tâm học pháp vô ích”, nghĩa là đang còn tâm hư vọng, tánh chúng sanh thì không thể vào được ba cửa giải thoát là Không, Vô tướng, Vô tác để học trí tuệ của đạo xuất thế, ví như hàng hóa sản xuất trong nước không đủ tiêu chuẩn (quy định) thì chẳng thể xuất khẩu…Tam giải thoát môn Không, Vô tướng, Vô tác có thể ví như ba cửa khẩu đặt giữa hai quốc gia có hai nền văn hóa khác nhau là “Văn Hóa Vô Lậu” và “Văn Hóa Hữu Lậu”. 

Quốc gia có nền “Văn Hóa Vô Lậu” là quốc gia được xây dựng y cứ vào Tám điều chơn chánh… từ đó có thể triển khai thực hiện nhiều điều về văn hóa vô lậu, mỗi một công dân sống ở đây lấy trực nhận làm thấy biết hay còn gọi là chánh kiến; ngôn ngữ cộng đồng là “không tứ cú”; lấy “thanh tịnh tâm” làm thước đo chuẩn mực trong mọi hoạt động; lấy “vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, trụ nơi vô trụ”, do vậy mà không còn bốn bệnh (tác, nhậm, chỉ, diệt); không hiện bốn tướng (nhân, ngã, thọ giả, chúng sanh); chẳng có ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai); lấy mục tiêu xây dựng đời sống xã hội là tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) và điều đặc biệt hơn cả là Quốc gia này đang sở hữu Trường Phật Học Hiệu lấy tôn chỉ là “Duy tuệ thị nghiệp” với bốn cấp học là “Khai - Thị - Ngộ - Nhập Phật tri kiến”… 

Còn quốc gia có nền “Văn Hóa Hữu Lậu” thì đặc điểm nổi bật là nhìn nhận sự việc thông qua suy lường phân biệt, thấy biết chẳng rời phiền não; luôn nhớ nghĩ ba thời, niệm khởi chẳng rời vọng tưởng; mê trên bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp; sợi dây quan niệm chằng chịt như lưới nhện bủa vây... tám món khổ thế gian luôn luôn đeo bám, cho tâm chẳng an, trí chẳng ổn, luôn phiền não động lay trong vòng quay sanh diệt; kiết sử như xiềng xích nô lệ; lậu hoặc mịt mờ như rừng rậm vô minh… Pháp giới chúng sanh như con tằm nhả tơ tự quấn lấy mình, mà không biết đường tơ mối gỡ. 

Phật đạo ra đời là dạy cho chúng sanh thành Phật! Bát chánh đạo là môi trường Văn Hóa Vô Lậu nuôi dạy người có trí tuệ cho đến Vô thượng Bồ Đề! 

Muốn vào Bát Chánh Đạo người học phải trải qua và hoàn thành 29 phẩm trước đó, gồm 12 phẩm tư lương vị và 17 phẩm kiến đạo vị là hai giai đoạn chuẩn bị cơ sở vật chất, tư trang hành lý cho người đi học và nhận ra con đường xuất ngoại (hay xuất thế) đến quốc độ Văn hóa vô lậu để nhập học; giống như một công dân từ quốc độ Văn hóa hữu lậu muốn qua quốc độ Văn hóa vô lậu để học tập (tu đạo) thì cần nắm vững tiêu chuẩn quy định của quốc độ cần đến, đủ chuẩn thông quan một trong ba cửa Không, Vô tướng, Vô tác lúc đó mới bàn đến chuyện nhập học. Lúc chính thức vào học tám môn (bát chánh) thì mọi hoạt động mới được gọi là tu đạo vị. 

Để qua được một trong ba cửa Không, Vô tướng, Vô tác công dân này phải y vào tứ đế, hoàn thành tư lương vị, kiến đạo vị để giải quyết cột trói của quốc độ hữu lậu, một lòng một dạ bước qua 29/37 bậc thang tương đương với ba cấp học khổ đế; tập đế và diệt đế, giống như cần giũ sạch cẩu uế, trên tấm vải (có nền Văn hóa hữu lậu) mới vẽ được lên đó những cảnh giới mới đạo đế (của Văn hóa vô lậu)… 

Giác ngộ thấu suốt được như thế thì ba cửa Không, Vô tướng, Vô tác rộng mở đón chào những công dân ưu tú, đủ chuẩn bước vào quốc độ Văn hóa vô lậu để được khai thị ngộ nhập… tám môn (Bát Chánh).

 Tóm lại: Tứ Đế; 37 môn học có ý nghĩa như một pháp lệnh giáo dục trong Phật đạo, là chương trình khung cho cả ba thừa, trải qua ba tầng bậc (trợ đạo, trợ bồ đề và đạo phẩm), thứ lớp rõ ràng như những nấc thang phát triển của bốn cấp học (khổ, tập, diệt, đạo… đế). Thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị chỉ được gọi là công nghệ xử lý để “Phàm” chết, “Thánh” sanh... Cho đến khi nào Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh xuất hiện…lúc này (ba thừa) ngồi chung cỗ xe (Nhất thừa) cùng vào học Diệu pháp của Phật, gọi là học Nhất thiết trí hay Đại thừa Vô Lượng Nghĩa. Lúc này mới gọi là TU trong Phật đạo. 

2) Ý nghĩa tứ niệm xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng khác nhau như thế nào ??? Ba tầng bậc đó giải quyết bốn niệm xứ ra sao ??? Đề nghị giải thích rõ cách giải quyết của từng tầng bậc và cứu cánh của nó ??? 

Trả lời:

Tu hành trong Phật đạo thấu tỏ được Bốn niệm xứ cũng ví như người lạc lối trong đêm tối có được nguồn sáng dẫn đường. Điều cực kỳ quan trọng này đã được Thế Tôn thuyết như sau: 

“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ”. 

Có thể thấy quy trình để giác ngộ, giải thoát và thành tựu trí tuệ, người tu hành phải thông qua bốn đế và 37 phẩm, như sợi dây xuyên suốt toàn bộ hệ thống Phật đạo, mà trung tâm đầu mối làm cho hệ thống 37 mô đun vận hành được trơn tru, hiệu quả là Tứ niệm xứ. Nếu NIỆM nào xa rời bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì phép tu đó là không chính thống.

Tứ diệu đế được ví như bốn nền móng của ngôi nhà Phật đạo, bốn món Khổ, Tập, Diệt, Đạo diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp hình thành nên Tứ diệu đế, vì thế Tứ diệu đế và Tứ niệm xứ không thể tách rời với nhau, hay Tứ diệu đế không thể hình thành, nếu không có sự tham gia cuả Tứ niệm xứ. Nghĩa là:

“Khổ” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Khổ Đế!

“Tập” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Tập Đế!

“Diệt” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Diệt Đế!

“Đạo” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Đạo Đế! 

Người tu hành nhận ra Tứ niệm xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) là “Đế” của (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) chẳng khác nào… đang ở dưới hầm sâu vô minh mà có phước lành bắt gặp được sợi dây cứu khổ, cứu nạn, đó là sự Giác ngộ đầu tiên, quan trọng nhất của đời người tu hành. Sự giác ngộ này ví như giải được mã khóa mở ra cánh cửa đầu tiên trên con đường giác ngộ, giải thoát và trí tuệ... 

Nhưng có một điều đặc biệt là những ai lấy công nghệ xử lý đầu vào trên THÂN để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Thanh văn; ai lấy công nghệ xử lý trên THỌ để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Duyên giác; ai lấy công nghệ xử lý trên TÂM để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát; ai lấy công nghệ xử lý trên PHÁP để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát nhất thừa. 

Để làm sáng tỏ nghĩa “ĐẾ” (thân, thọ, tâm. Pháp) của các tầng bậc, ta căn cứ vào đoạn kinh như sau: 

“Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật. Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế.

Hàng phàm phu có tập không có đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế. Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế.

Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có diệt có chơn.

Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có đạo có chơn.” (Trích kinh Hoa Nghiêm – HT Thích Trí Tịnh dịch) 

Từ đoạn kinh trích dẫn, ta có thể trạch giải ý nghĩa tứ niệm xứ (hay Đế) của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng như sau:

* Đối với hàng phàm phu:

“Hàng phàm phu có khổ, không đế…” bởi phàm phu “kêu khổ” mà không chỉ ra được sự “Khổ” xảy ra trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) nên chẳng biết đế.

“Hàng phàm phu có tập không có đế..”. bởi phàm phu “kêu cột trói...” mà không chỉ ra được nguyên nhân cột trói (Phiền não, kiết sử, lậu hoặc) xảy ra trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) nên chẳng biết nguyên nhân cột trói từ đâu; do vậy mà chẳng thể bàn đến chuyện “Diệt đế hay Đạo đế”. 

* Đối với Nhị Thừa (Thanh văn, Duyên giác):

“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật”.

Nhị thừa có tám món khổ (Sinh lão bệnh tử...khổ; cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly, ngũ ấm xí thạnh... khổ). Tám món khổ (tục đế) này Nhị thừa cho rằng, nó xảy ra trên “thân, thọ” do vậy Nhị thừa có khổ đế; còn nghĩa “không chơn thật” bởi “Đế” của Nhị thừa chưa thật, chưa chơn...

“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế...”

 Nhị thừa chỉ ra các món khổ do ái nhiễm trên thân, thọ... do vậy mà có tập (phiền não, kiết sử, lậu hoặc) và những món này xảy ra chú yếu trên thân, thọ do vậy có tập đế.

“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn...” Cách diệt chú yếu của Nhị thừa trước hết là “ly gia cát ái”, triệt để yểm ly, giữ giới, thiền định, ví như phát hiện ổ dịch thì đưa (thân) ra khỏi vùng dịch; phát hiện chiến tranh thì đưa (thân) ra khỏi chiến sự, gặp kẻ chửi bới thì nút chặt lỗ tai.vv… và sau đó nương vào Thiền Định để lần lượt chứng các cảnh giới của tứ thiền bát định... Cách Diệt của Nhị thừa chẳng phải chơn, bởi còn nương vào sở pháp... 

“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn...” 

Bài pháp tiêu biểu Phật thuyết để cho năm anh em Kiều Trần Như giải thoát ra khỏi ba cõi là: “Này Kiều Trần Như! Sắc là vô thường, không lấy sắc làm ta, ngã của ta, tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ.” (Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy). 

Nhớ lời dạy của Phật, (Kiều Trần Như) giác ngộ Thân này là vô thường, do vậy không lấy sắc (thân) vô thường làm ta (để thủ giữ), ngã của ta (để so sánh), tự ngã của ta (để nương tựa). 

Diệt sắc vô thường, nghĩa là (yểm ly sắc triệt để) thì mọi phiền não không có chỗ phát sinh gọi là sắc giải thoát. Sắc (Thân) giải thoát thì Thọ, Tâm, và Pháp cũng được giải thoát như vậy.

 Nhị thừa có đạo mà chẳng phải chơn bởi quả vị mà Nhị Thừa hướng đến chưa chơn. 

* Các vị Bồ Tát:

“Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế...”

Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ, bởi thấu suốt nguồn tâm chỉ là danh tự, pháp chỉ là quan niệm.... Thân, thọ, tâm, pháp cũng chỉ là pháp (quan niệm)

Bồ tát nhận ra rằng bản lai chúng sanh không tâm, khi khởi niệm mê trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì tâm hiện, dứt mê (trên bốn chỗ) tâm hoàn không.

Các vị Bồ Tát Giác ngộ bản chất hư dối của hữu vi pháp “như mộng, huyễn, bào, ảnh…”, vô thường, không thật có... Thấu suốt được nghĩa này thì hết mê lầm về pháp. Bồ tát thấu rõ trí là đế của đạo mà có chơn đế.

“Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế...”

Các vị Bồ Tát hiểu gốc (tập) của mọi sự rắc rối, cột trói chỉ vì một niệm mê. Tâm, pháp chỉ là những hiệu ứng được sanh bởi tam duyên hoà hợp. Khi tam duyên hoà hợp phát sanh hiệu ứng tình cảm, thì sanh tâm; phát sanh hiệu ứng phân tích, thì sanh pháp. Các vị Bồ Tát thấu rõ bổn lai không pháp, không tập mà có chơn đế.

“Bồ Tát có diệt có chơn...” 

Các vị Bồ Tát thấu tỏ khi giác ngộ thì niệm mê chấm dứt. Niệm mê không khởi thì ba duyên chẳng hiệp. Khi các duyên không hiệp thì tâm tự tịnh. Nhờ tính chất tự nhiên này mà người tu hành dùng “không hộ trì để mà hộ trì”; lấy “không hành để mà hành” …. Bồ tát diệt (hết đế) mà có chơn. 

“Bồ Tát có đạo có chơn.” Phần này xin trích y lời Thầy Lý Tứ, dẫn đạo: 

“Lặng lẽ quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp đến một lúc nào đó, vị tu hành “trực nhận ra bản lai của bốn món này”... Chừng ấy, trong sự trực nhận, vị tu hành mới thấy biết đích thực Thiệt Tướng của bốn món này “lìa giả lìa chân”... Tức là, nơi Thiệt Tướng không có sự dự phần của khái niệm giả hay chân... Chỉ khi nào, hai phạm trù giả chân không còn một mảy may bóng dáng thừa sót trong tâm thức này, chừng ấy vị tu hành mới biết rằng, “thế nào là Đạo Đế của Phật Đạo.” Thấy như vậy, Phật Đạo gọi đó là “vị có Trí Tuệ”!!!

  • Thành tựu Đạo Đế rồi, để phát khởi Thật Trí: Vị này quan sát hết thảy chúng sanh, thấy rằng các hữu tình kia cũng đồng nguồn đạo như ta, chỉ vì họ lầm nhận bốn Niệm Xứ, nên bị bốn món này làm cho điên đảo... 

Thấy như thế, vị tu hành này phát khởi Đại Bi Tâm, tìm học các món phương tiện, lúc dùng quyền, lúc dùng thiệt, lúc nói Ấm, lúc nói Uẩn, lúc nói Xứ, lúc nói Giới, lúc nói Giác, lúc nói Quán...Để khiến hết thảy chúng sanh cũng được thấy biết như mình, gọi là “thể nhập Thật Trí”... 

Thể nhập Thật Trí chính là Trung Đạo... 

“Trung Đạo chính là con đường Chư Phật, Chư Bồ Tát đã đi, đang đi và sẽ đi”!!! 

Hỏi: Như thế nào gọi là Chư Phật là Chân mà không Đế???

Đáp:

Thấy thân này tịnh cùng bất tịnh là Đế...

Thấy cảm Thọ này là khổ hay lạc là Đế...

Thấy tâm này là thường hay vô thường là Đế...

Thấy pháp kia là ngã hay vô ngã là Đế...

Khi nào trực nhận ra rằng:

Thân này bản chất chẳng tịnh chẳng bất tịnh, thấy như vậy gọi là Chân Tịnh...

Thọ này bản chất ra ngoài khổ lạc, gọi là Chân Lạc...

Thấy rằng, tâm này bản chất chẳng thường chẳng vô thường, gọi là Chân Thường...

Thấy rằng, bản chất của các pháp chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, gọi là Chân Ngã...

Chân Thường, Chân Ngã, Chân Lạc, Chân Tịnh là “Chân mà không có Đế” của Chư Phật...

  • Chân mà không có Đế, chính là sự “trực nhận Thiệt Tướng”... Sự trực nhận này, không phải thông qua một cơ sở (Đế) nào hết... Ví như chẳng thông qua Thiền, chẳng thông qua Giác, chẳng thông qua Giáo, chẳng thông qua Đạo... 
  • Sự trực nhận mà không thông qua bất kỳ một lăng kính nào hết, gọi là Chân mà không Đế!!! Nó còn có nghĩa rằng, chẳng nương tựa bất kỳ một thứ gì trên đời để có được thấy biết này!!!”(Trích bài 49 VĐM – Lý Tứ). 

3) Trong thập bát bất cộng của Phật, điều thứ sáu: “Vô bất tri dĩ xả”... Có nghĩa: Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả...!!! Theo lời dạy này, người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu)...Hệ quả của việc xả bỏ này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ cụ thể !!!??? 

Trả lời:

Đời người tu hành lấy tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) làm mục tiêu, do vậy có vô lượng xả !!!. 

Gọi vô lượng xả, bởi người tu hành có vô lượng dính mắc trên ba chỗ Thân, Tâm và Trí. Thấu tỏ bản chất (thân, tâm và trí) và mối quan hệ ràng buộc của chúng, mới làm sáng tỏ lời dạy “Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả”. 

Để thực hiện pháp xả trên ba chỗ Thân, Tâm và Trí, vị ấy ứng dụng lời dạy của Phật trong Kinh Niệm Xứ như sau: “Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”! Nghĩa là vị ấy biết rõ: 

“(Thân, Tâm, Trí) là vô thường, không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ta, ngã của ta, tự ngã của ta. Diệt (Thân, Tâm, Trí) vô thường sẽ được (Thân, Tâm, Trí) giải thoát thường trụ.”

Vị tu hành biết rõ (Thân, Tâm, Trí) là vô thường, biến hoại… mà vô thường là khổ, do vậy vị ấy không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ta (ái, thủ giữ…), ngã của ta (so sánh hơn thua…), tự ngã của ta (nương tựa, dựa vào…). 

Không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ta (ái, thủ…), thì vị ấy đoạn dứt vòng quay mười hai nhân duyên, vị ấy vào cửa giải thoát.

Không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ngã của ta (so sánh hơn thua, phải trái, đúng sai…), thì nhị nguyên (phân biệt) trong lòng vị ấy không còn, pháp “sanh diệt” chấm dứt “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” (Niết bàn hiện tiền). 

Không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm tự ngã của ta (nương tựa, dựa vào…), thì ngã hư dối không lập, niệm chấp không còn, tâm (vị ấy) bất động, ý giải thoát… trí vô lậu.

Phật dạy “Chúng sanh có Phật tánh” Phật tánh là thường… Nhưng do khởi niệm mê trên (thân, tâm và trí) mà gọi là vô minh. Pháp xả là trả lại sự sáng suốt… của Phật tánh bằng công nghệ “Tứ đế; 37 phẩm”. 

Giại đoạn minh tâm, kiến tánh… Phật đạo dành hẳn 3/4 cấp học (khổ, tập, diệt… đế) tương ưng với 29/37 phẩm để xả tâm tánh phàm phu, như người bị nhiễm ô, ngộ độc phải cấp cứu xả độc… rồi mới bàn chuyện phục hồi sức khỏe, cắp sách tới trường học 8 phẩm còn lại (kiến tánh, thành Phật).

Như vậy để thành tựu được pháp ‘XẢ” “Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”… là cả một quá trình giác ngộ, giải thoát và trí tuệ trải qua bốn cấp học (tứ đế), triển khai thành 37 phẩm. Là quá trình thực hiện Văn – Tư – Tu trong từng môn học, cấp học… và được Thầy Lý Tứ giảng giải như sau: 

“Điều gì đã biết, nhất định phải biết đến nơi đến chốn (tránh chuyện biết nửa vời)!!!; Điều gì đã học, nhất định điều đó phải được tư duy thấu đáo, làm rõ nguồn cơn (tránh việc học vẹt)!!!; Điều gì đã hiểu, nhất định phải ứng dụng nhuần nhuyễn vào thực tế cuộc sống (tránh việc hô hào suông)!!!”(Lý Tứ). 

Quay về ba thực hành điều trên cũng có nghĩa là quy y TAM BẢO! quy y Phật Bảo (điều thứ nhất); quy y Pháp bảo (điều tứ hai); quy y Tăng bảo (điều thứ ba). 

Ứng dụng đúng ba điều như thế để vượt qua 37 phẩm gọi là nương tựa Tam Bảo, là rốt ráo xả trong Phật đạo, 

Ngược lại, “người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu)...” là trái lời Phật dạy!!! 

Người (không học tập, không tìm hiểu) lời Phật dạy...” thì chẳng thể biết (tứ đế, 37 phẩm), không biết giới luật, chẳng hiểu nghĩa kinh (tứ niệm xứ), chẳng quy y Tam Bảo… Theo Kinh Di Giáo thì đó là tà kiến, là Ma Ba Tuần hiện ra để phá hoại Chánh pháp Như Lai. 

Người (không học tập, không tìm hiểu) giáo pháp… thì vẫn còn y chúng sanh, tâm bất an, trí bất ổn, đầy đủ Ngu, Mê, Lầm, ba tầng vô minh che lấp... vì vậy mà phiền não khổ đau chẳng dứt.

Người (không học tập, không tìm hiểu) mà đòi xả bỏ mọi thứ… chẳng khác “người mù lẻo mép xưng vua”, đòi miêu tả cả thế gian... mà (không chịu chữa cho sáng mắt). Hệ quả của việc xả bỏ này là phá hoại Chánh pháp; “Trụ nơi phân biệt” mà xả, là “làm hư thanh tịnh nhãn, càng thêm lớn ngu si, người này không thấy Phật”… 

4) Vì sao Bồ Tát phải nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh là: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh ??? Nếu Bồ Tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết, có thể thành tựu Bồ Tát Đạo hay không ??? Xin giải thích vì sao như vậy ??? 

Trả lời:

Một vị Bồ Tát kể từ khi phát tâm luôn ghi nhớ mục tiêu đề ra là, tu hành để tự mình giác ngộ và giúp người giác ngộ… vì vậy Bồ Tát phải nhất tâm học tập thành tựu ngũ minh để hoàn thành hạnh nguyện sâu dày của Bồ Tát. 

Ngũ Minh là kết tinh trí tuệ của Phật đạo, là cam lồ diệu dược chữa bệnh vô minh cho chúng sanh, là phương tiện hiển bày tông thông và thuyết thông giúp người trên con đường Giác ngộ giải thoát và trí tuệ. 

Ngũ minh gồm có: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh, được Thầy Lý Tứ phân tích, giảng giải như sau:

“Ngũ minh gồm có năm minh của thế gian và năm minh của xuất thế… 

  • Năm minh thế gian, dành cho người tu hành gồm:

– Nội minh: Thấu suốt ý nghĩa kinh điển, để đưa đến Giác Ngộ…

– Ngoại minh: Biết rõ những luận lý nào không có ý vị Giác Ngộ, không có nghĩa lý của Giải Thoát… cần phải tránh xa…

– Y phương minh: Chỉ uống đúng thuốc của Phật Đạo, không bạ đâu uống đó… gặp thuốc gì cũng uống… ai dạy gì cũng tin theo…

– Công xảo minh: Biết rõ và sử dụng thành thạo một số phương tiện của Phật Đạo, cũng như kỹ thuật thế gian… Dùng hai thứ này, hỗ trợ cho việc tu hành và giúp đời sống dễ dàng hơn… “Tránh rơi vào cực đoan hoặc tâm hoặc vật…”

– Thanh minh: Chỉ tin nghe những gì có chân lý… 

  • Năm minh của xuất thế gian, dành cho Bồ Tát giáo hóa người gồm:

– Nội minh: Biết rõ thế nào là chân tâm, thế nào là chân trí, thế nào là chân lý… để hướng người tu hành đi đúng Phật Đạo và thẳng tiến vào những thứ chân này…

– Ngoại minh: Biết rõ những gì phát xuất từ hư vọng tâm, hư vọng trí, không có chân lý… để chỉ cho người tu hành cần phải tránh xa…

– Y phương minh: Biết rõ căn cơ của người, tùy bịnh cho thuốc… Không phạm vào các lỗi ngu si, hý luận, phi thời, xơ cứng… khi giáo hóa…

– Công xảo minh: Thành thục các loại phương tiện của Phật, như người văn minh thành thạo các loại công kỹ nghệ tân tiến… Không tìm cầu sự lạc hậu của những quan điểm tu tập không còn phù hợp trong hiện tại, không dạy người cái vô ích…Không làm người giảng nói cách “làm cối đá” trong thời đại văn minh kỹ thuật!!!

– Thanh minh: Nghe tiếng lòng của vạn loại chúng sinh, cùng tất cả người tu hành… Không chạy theo hiện tượng, không vui theo phong trào, không bị cái bên ngoài làm mờ mắt… 

Tóm lại, ngũ minh là năm thứ công cụ, giúp người tu hành và Bồ Tát thành tựu Đạo Nghiệp của mình...Không biết năm thứ này, nhất định sẽ giống như anh chàng ngày xưa “buôn vịt trời”, tốn công, mất của mà chẳng ra cơm cháo gì!!!! 

Còn nếu, thông thuộc ngũ minh, từ những con vịt trời, cũng có thể thuần dưỡng thành vịt nhà, đem cái vô ích, vô bổ, biến thành lợi ích nhất định, đúng như Phật Đạo mong muốn!!!!”( Trích VĐM 36 - Lý Tứ). 

Theo con cảm nhận, Ngũ minh là sự soi rọi của chánh kiến, như từ một viên ngọc quý trí huệ, hóa hiện ra năm mặt. Khi năm mặt đều sáng tỏ thì hành Bồ Tát Đạo không còn ngăn ngại… Nhưng (mặt nào đó) mà Bồ Tát còn khiếm khuyết (chưa mài kỹ) thì (hạn chế) sẽ xuất hiện trên mặt (chưa tỏ) đó… 

Có thể ví Nội minh như ngọn đèn “Thấu suốt ý nghĩa kinh điển, để đưa đến Giác Ngộ… Biết rõ thế nào là chân tâm, thế nào là chân trí, thế nào là chân lý”…(Lý Tứ). Chưa có nội minh thì nỗi “khổ” cũng giống như cảnh “Tối lửa, không đèn” chẳng thấy chi… 

Ngoại minh như ánh sáng tỏa ra “Biết rõ những luận lý nào không có ý vị Giác Ngộ, không có nghĩa lý của Giải Thoát… cần phải tránh xa… Biết rõ những gì phát xuất từ hư vọng tâm, hư vọng trí, không có chân lý… để chỉ cho người tu hành cần phải tránh xa…”(Lý Tứ). 

Có Nội minh, mà chưa có ngoại minh ví như có đèn mà bị những thứ ngặn bịt, che kín chẳng phát sáng ra ngoài, để giúp người lợi ích. 

Vì vậy (Nội minh, Ngoại minh) mà khiểm khuyết thì chưa thể hành Bồ tát đạo! 

Khi đã có (Nội minh, Ngoại minh) thì rèn luyện (Y phương minh, Công xảo minh, Thanh minh) sẽ giúp cho Bồ tát sử dụng phương tiện thiện xảo… như đỉnh cao của nghệ thuật gọi là “THÀNH TỰU NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP VÔ DỊ BIỆT”.

Hoàn thiện phương tiện (Y phương minh, Công xảo minh, Thanh minh) là cả một quá trình tu bồ tát hạnh, hành bồ tát đạo… là sự hoạt dụng phát ra từ Bồ tát đã thành tựu các lực (giác lực, huệ lực, bát nhã lực và công đức lực) nhờ vậy mà ngọn đèn trí huệ (ngũ minh) trở thành diệu pháp cứu mình và giúp người. Nhờ giúp người mà tích lũy công đức, nhờ công đức lực mà Bồ tát thành tựu từng đạo quả, cho đến… vô thượng trí.

Những bài học đầu tiên Thầy dạy, con hằng ghi nhớ… Bồ tát hoằng pháp không rời tứ đế, thiện xảo phương tiện, biết nắm bắt đương cơ, khế hợp… như khế căn, khế lý, khế thời... và vô số điều cần học... 

Ví như trong bóng tối, có đèn chiếu sáng mà sử dụng không đúng đối tượng, căn cơ, thì chẳng mang về lợi ích như ánh sáng chẳng thể đến với người mù, âm thanh chẳng lay động người điếc, chưa sạch tâm tánh phàm phu mà khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, chẳng khác trẻ em đang học chữ mà đem luận văn tiến sĩ ra bàn; Chưa khám bệnh thì chớ kê đơn, không đúng lý mà bàn thì chỉ là hý luận như người muốn học thợ may mà lại chỉ bày làm ruộng; Thuyết pháp phi thời... nhiều lời vô ích, như xã hội văn minh công nghệ... mà dạy thợ làm … cối đá… quả là “phạm vào các lỗi ngu si, hý luận, phi thời, xơ cứng… khi giáo hóa…”(Lý Tứ). 

Tóm lại: Đã là Bồ tát phải đủ Ngũ minh, kiểm tra lại mình mà nhất tâm mài dũa, chuyên cần học tập, thực hiện lời Thầy: “Điều gì đã biết, nhất định phải biết đến nơi đến chốn (tránh chuyện biết nửa vời)!!!; Điều gì đã học, nhất định điều đó phải được tư duy thấu đáo, làm rõ nguồn cơn (tránh việc học vẹt)!!!; Điều gì đã hiểu, nhất định phải ứng dụng nhuần nhuyễn vào thực tế cuộc sống (tránh việc hô hào suông)!!!”(Lý Tứ). 

Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ !!!

Con, Lý Thái Đăng 

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow