Nhặt Nhạnh: Có Một Lý Tứ Trong Thơ

Tháng 6 12, 2026 - 17:50
 0  1
Nhặt Nhạnh: Có Một Lý Tứ Trong Thơ

Thơ! Vâng nhắc đến thơ, người ta sẽ nghĩ đến âm hưởng, đến giai điệu, sự bay bổng, lãng mạn … thậm chí một lời thơ có thể vút bay thành một lời ca bất hủ khiến người ta lặng đi vì xúc động và bất tử trong lòng người Tập thơ “Nhặt Nhạnh” của tác giả Lý Tứ cũng có những phút lắng sâu như thế, đó là sự hoà quyện giữa “đời và đạo” nhưng lại có những bài thơ mang chức năng “dẫn dược” để chữa bệnh cho người còn lang thang trong ba cõi, có những bài thơ giúp độc giả chứng ngộ …

Thơ tác giả Lý Tứ có “kén” độc giả không?

Xuất thân là một cư sĩ tại gia nên “đời và đạo” đều mang hơi thở rất riêng của tác giả Lý Tứ. Trong những lần giảng bài cho học trò, ông luôn nói rằng: “Phật đạo là một nền giáo dục” và “Lý Tứ chỉ là một ông giáo già” để người học tiếp nhận kiến thức một cách minh bạch về giáo pháp từ cạn đến sâu. Vì thế khi tiếp cận những tác phẩm của tác giả Lý Tứ, học trò của ông hoan hỷ như nhận được một món quà quý.

Sau khi đọc xong tập thơ của tác giả, là một trong hàng ngàn học trò được thầy dạy dỗ về giáo pháp, tôi thật may mắn khi hiểu những bài thơ có chủ đề về Đạo và ý tứ sâu xa thầy gửi gắm. Nhưng trong sự hoan hỷ của người học trò hiểu được cách thầy đưa giáo pháp vào thơ và nhận được công dụng của những lời khai thị ấy thì khi tập thơ này xuất bản đến với đại chúng, tôi tự hỏi lòng mình rằng: “Thơ của thầy có kén độc giả không?”. Hỏi vậy vì tôi biết, số đông nếu không có kiến thức giáo pháp cơ bản, chưa giác ngộ cũng sẽ không thể cảm nhận được những bài thơ thầy viết:

Yếu Chỉ Thiền Na

 

Sen kia tự không tánh

Cũng chẳng có tướng trần

Xưa nay Tâm và Ý

Vắng lặng Thiền tự sanh !!!

 

Người cố đi tìm Sen

Qua hương và màu sắc

Nếu người này được thiền

Có chi là đáng khen !!!

 

Quán vạn hữu không tánh

Tâm ý chưa từng sanh

Người này không cầu được

Thiền na cũng viên thành !!!

 

Xưa nay ba đời Phật

Đều không Pháp không Tâm

Không mảy may hiện khởi

Gọi hết: “Ngu, mê, lầm” !!!

                (Thơ Lý Tứ, 2012)

 

Yếu chỉ Thiền Na tức là chỉ thú quan trọng của thiền na. Đây là trạng thái thiền có được do giác ngộ giáo pháp mà sanh hỷ lạc khinh an, một trạng thái có được giống như ngồi thiền. Tác giả Lý Tứ muốn hướng học trò quay vào bên trong, từ da trở vào, không chạy theo tiền ngũ thức (chạy theo trần cảnh), không làm tôi mọi cho ý thức (làm cơ sở sinh pháp) bằng cách chỉ ra rằng: Trần cảnh đều không có tánh, có tướng. Tâm và Ý thức bổn lai cũng không có cái gì gọi là Tâm, là Ý thức, nó vắng lặng. Nhờ vậy, hành giả nhận ra cái hư dối nên tịch diệt hư vọng mà định tâm. Từ cái giác ngộ này, người tu hành mới bắt đầu nhận thức được: Con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu. Bài thơ này, tác giả Lý Tứ muốn tuyên thuyết Thật nghĩa về trần cảnh và Thiền. Như vậy, để hiểu được ít nhiều bài thơ này từ cạn đến sâu, vị ấy phải giác ngộ không tâm, không pháp để “thấm” vị đạo mà tâm cảnh tác giả viết ra!

Nếu như Yếu chỉ thiền na là một bài kệ đòi hỏi vị độc giả phải giác ngộ được “bổn tâm” thì có những bài thơ độc giả sẽ như lạc vào mê cung vì tiếng cười ha ha ha ha bất hủ, rất đặc trưng của tác giả:

 

Ha Ha Ha Ha …

Trên vai lão gánh đòn … sanh tử 

Tại nước Thiên Hoa có Lão Già !!!

Ai mà thưa cụ … đều được thấy …

Sanh tử chỉ bằng tiếng: ha ha !!! 

Khi bắt đầu học giáo pháp, tôi bị tiếng cười “ha, ha, ha, ha” của thầy gây tò mò còn hơn là học giáo pháp và không biết vì sao thầy hay có tiếng cười như vậy trong các bài kệ, những cuốn sách Hỏi đáp thầy từng xuất bản. Sau này tôi mới cảm nhận được tiếng cười ấy nó hàm chứa sự sảng khoái của bậc giác ngộ, chỉ đơn giản vậy. 

“Nước Thiên Hoa” hay còn gọi là quốc độ Phật, thường được nhắc đến trong các kinh Mật tông và Tịnh độ như một cảnh giới trang nghiêm, nơi chư Phật và Bồ Tát thuyết pháp. “Lão Già” ấy là hoá thân của Phật/Bồ tát đến thuyết pháp. Sanh tử chỉ bằng tiếng: Haha! Tiếng cười cuối cùng của bậc giác ngộ là tiếng cười của người “gánh đòn sanh tử” nhưng “thấu suốt Sanh tử” bởi thấu suốt “thân, tâm, các pháp, thế giới” đều … vô thường biến hoại, chẳng có gì bền vững, chẳng có gì thật có mà nắm giữ, chấp nhất. Vậy gánh đòn sanh tử có còn đáng sợ như gánh trái núi ngàn cân nữa không? 

Bài thơ: Tìm Tâm, cũng là một bài thơ giúp người đọc chứng ngộ:

Mấy dạo tìm tâm

Tâm chẳng thấy

Bao phen kiếm pháp

Pháp không sanh

Ngước mặt nhìn trời,

Trời vắng lặng

Phật Quốc là đâu

Hỡi mây xanh !!!

(24/7/2012)

Một bài thơ đi tìm Tâm được triển khai bằng “Hữu vi thần lực – tâm, pháp, Phật Quốc” nhưng cái được thấy lại rỗng rang vắng lặng! Đó là thứ “vô vi thần lực – ý vị sâu thẳm” mà tác giả gửi gắm trong bài thơ Tìm Tâm này. Đó là tại cái nơi vắng lặng, thanh tịnh, tâm pháp không sanh ấy thì là quốc độ Phật, là niết bàn chứ còn nơi đâu nữa mà tìm? 

Với cảm nhận về ba bài thơ trên, để độc giả khi cầm tập thơ này, sẽ tự trả lời cho mình rằng: “Tập thơ này có kén độc giả không?” Vậy đối tượng độc giả của những bài kệ khai tâm, bài thơ trong tập thơ trên là ai? Các bạn hẳn đã có câu trả lời. 

Cảm xúc trong trẻo yêu đời, yêu người. 

Khi viết đến phần này, trong tôi rất xúc động khi chạm đến cảm nhận về phần thực sự rất thơ trong con người tác giả: Đó là thứ cảm xúc thanh thuần, tinh khiết, mà ông dành cho quê hương, bạn bè thời thơ ấu, cho hàng tre, luống đất cày, cho tiếng chim chiền chiện kêu giữa trời xanh vắng … và cho tiếng lòng của tác giả dành cho nhân vật trữ tình thời thanh mai trúc mã: Em! 

Ngày mai tôi sẽ về

(Viết cho An Thái quê tôi) 

Ngày mai tôi sẽ về, quê hương ơi

Để tìm lại đám bạn bè thời thơ ấu

Để thấy hàng tre, con truông dài quen

những lần chờ đợi Để nghe lòng mình ngọt lịm,

giữa đường xưa !!!

Ngày mai tôi sẽ về, dưới nắng cháy

buổi trưa

Tìm tiếng con chiền chiện kêu tận

trời xanh thuở trước

Được thấy luống đất cày không

gầy hao cơn khát nước

Cái giếng đầu làng,

Thôi vét cạn tháng năm !!!

Ngày mai tôi sẽ về, rồi sẽ đi thăm !!!

Đầu trên xóm dưới, như những ngày thơ dại

Hái bông dủ dẻ, mùi rạ khô ngai ngái

Ngắt cánh hoa dại bên đường,

cài lên tóc người xưa !!!

Ngày mai tôi sẽ về, tìm lại vạt rừng thưa!!!

Để nhớ một thời cùng em dạo chơi

đêm trăng sáng …

Ngày mai tôi sẽ về, gặp bà con, bè bạn

Ngày mai tôi sẽ về,

Em còn nhớ tôi không !!!??? 

Khi đọc hết bài thơ, tôi đọc lại thêm nhiều lần nữa để nhìn rõ hơn bức chân dung về ông trong thơ, những câu thơ rất đời, nhẹ nhàng, sâu lắng của cảnh và người, cảnh cũ – người xưa như bức tranh sống động và dịu dàng như những thước phim cuộc đời. Nó thầm lặng nhưng không tĩnh lặng! Bản tình ca yêu đời, yêu người ấy rung lên trong từng câu chữ, nôn nao: 

Ngày mai tôi sẽ về, rồi sẽ đi thăm !!!

Đầu trên xóm dưới, như những ngày thơ dại

Hái bông dủ dẻ, mùi rạ khô ngai ngái

Ngắt cánh hoa dại bên đường,

cài lên tóc người xưa !!! 

“Bông dủ dẻ, mùi rạ khô, hoa dại bên đường, tóc người xưa” … không phải rất thơ hay sao? Bài thơ này vừa giàu chất thơ, vừa như một bản tình ca được lập trình sẵn trong tâm hồn ông – một người con Quảng Nam xa xứ! Lời hứa của ông cũng là lời hứa dành cho một thời đã xa về mặt thời gian, không gian nhưng với Lý Tứ, người đã mang mái tóc bạc hơn nửa mái đầu, nó như vừa mới hôm qua! Lời nhắn nhủ dường như không chờ đợi một câu trả lời: 

Ngày mai tôi sẽ về, tìm lại vạt rừng thưa !!!

Để nhớ một thời cùng em dạo chơi

đêm trăng sáng …

Ngày mai tôi sẽ về, gặp bà con, bè bạn

Ngày mai tôi sẽ về,

Em còn nhớ tôi không !!!???

Nếu đọc tập thơ Nhặt Nhạnh mà bỏ qua những bài thơ đầy “ưu bi sầu não” khi tác giả còn đang trên đường cầu đạo, thì sẽ là điều đáng tiếc. Bài thơ: Trách Phật, là một chân dung rất khác về tác giả Lý Tứ: 

Như Lai thản nhiên ngồi

Chúng sanh thêm đau khổ

Nhân loại ôi thôi rồi !!!

Pháp Không chỉ hư vô …

(1976) 

Bài thơ này viết khi tác giả Lý Tứ 23 tuổi! Cái tuổi tưởng chừng còn rất nhiều mơ mộng hão huyền về cuộc đời, mấy ai “đau đáu bất lực” vì chúng sanh đau khổ? Vì lúc ấy cầu đạo, đạo vẫn ở nơi xa lắm! Ông cũng như bao người được sinh ra trong ba cõi ấy, vẫn mơ hồ về Như Lai, về vị Phật ở một cảnh giới nào đó xa xôi lắm. Chính vì từng đắm chìm trong mông lung dài đằng đẵng 30 năm tìm cầu, không ít lần rơi vào tuyệt vọng như tên bài thơ ông viết cũng vào năm 23 tuổi: 

Vạch mây rẽ lối tìm trời

Lên cao cũng chỉ thấy đời tối tăm

Luân hồi vướng nghiệp ngàn năm

Hỏi bao nhiêu tuổi?

Đã … trăm … mối … sầu !!! 

Suốt gần ba mươi năm tìm cầu chân lý nhưng chỉ thấy mơ hồ, mông lung, như giải bài toán mà đáp số mãi là ẩn số! Nhưng ông chưa từng bỏ cuộc. Bởi nếu bỏ cuộc thì đâu có con số 30 năm mới có ngày … bùng vỡ tâm thức. Có lẽ, cũng cảnh chúng sanh cầu đạo, nên khi đã giác ngộ ông đối đãi với học trò cũng như bằng hữu xa lạ hay thân quen, thật từ bi và nhẫn nại. Có đêm ông trả lời 3 bức thư của một bằng hữu để họ thực sự nhận ra mình đã đeo bao cát suốt 40 năm cuộc đời nên chẳng thể … nấu thành cơm! Còn với học trò, có ngày ông dạy ba ca trên zoom, bắt đầu buổi dạy từ 5 giờ sáng thì ông phải dậy từ 3h30 phút để chuẩn bị kiến thức trước mỗi buổi giảng, mỗi ca học kéo dài 2-2,5 tiếng đồng hồ. 

Tấm chân tình dành cho học trò và ngôi nhà vô lậu Lý Gia

Có hai câu thơ tôi đọc và nhớ mãi trong đầu dù người thầy ấy chẳng có chữ nào viết cho học trò và ngôi nhà vô lậu Lý Gia nhưng mà ẩn ý lại dành tất cả: 

“Kiếp này ta chẳng chăm nhau

Kiếp sau xin nguyện ngựa trâu

đáp đền ...!!!”

(Lời hứa, trích tập thơ Nhặt nhạnh, tác giả Lý Tứ) 

Tất cả học trò chúng tôi đều biết nhân vật trữ tình trong hai câu thơ này là ai? Và tất cả học trò chúng tôi, khi biết những thiệt thòi đời thường của người phụ nữ đón nhận lời hứa cao cả này đều thực sự cảm phục. Bởi ở bên người chồng đã dành tất cả lý tưởng cho giáo pháp, cho Lý Gia và những học trò của ông thì đâu còn thời gian dành cho gia đình nhỏ của mình. Vậy nhưng rồi cô đã chọn chấp nhận, thầm lặng đứng sau lời hứa ấy, như một bức phù điêu! 

Với chúng tôi, Bài ca Lý Gia chính là hành khúc chứa đựng thông điệp lớn lao nhất của tác giả: 

Mang yêu thương đi khắp phương xa Đem ước mơ đến khắp mọi nhà Ngàn cánh chim tìm về tổ ấm Triệu con tim hòa nhịp đập Lý Gia

Hết khổ đau cho tâm trí nở hoa Thôi ghét ganh bao thù hận xoá nhoà Bến yêu thương ta cùng nhau vun đắp Xây tình người là hạnh phúc Lý Gia

Đường ta đi chẳng phải tận trời xa Nơi ta đến chẳng phải những tháp ngà Ta không mơ điều hão huyền xa lạ Chỉ mong đời thôi rên siết kêu la

Bay đi muôn phương hỡi cánh mỏng Lý Gia Gieo bao yêu thương nơi trần thế khổ sầu Nơi ta đến là chân trời trí tuệ

Hãy dắt dìu nhau

Những người con của Lý Gia !!!

(Trích: Bài ca Lý Gia)

Ở góc độ người thầy, ông thường nhắc nhở chúng tôi rằng: “Tinh thần của Lý Gia là những đoá bồ công anh, đem yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất”. Còn trong thơ, ông cũng không quên nhắc nhở học trò: 

“Hết khổ đau cho tâm trí nở hoa

Thôi ghét ganh bao thù hận xoá nhoà

Bến yêu thương ta cùng nhau vun đắp

Xây tình người là hạnh phúc Lý Gia”

Bản thân người tu tập phải “hết khổ đau” mới có được “tâm trí nở hoa”. Bởi khổ đau là sự biến hiện nơi tâm thức còn vô minh, mù tối. Như thầy vẫn nhắc nhở chúng tôi rằng: 

“Độ ta rồi mới độ nàng

Ta còn chìm nghỉm đừng màng độ ai !!!” 

Từ “Hết khổ” tới “Chân trời trí tuệ” trong thơ cũng như trong tâm thức, là một hành trình của Văn – Tư – Tu. Người đi trước dìu dắt người đi sau, người giác ngộ sâu dìu dắt người còn sơ cơ! Nhờ vậy, chúng tôi có một môi trường học tập an vui và chất lượng, một nơi học tập mà học phí chính là … cái tâm dõng mãnh cầu học đạo trí tuệ của học trò, là sự nhất tâm như ý túc chứ không phải cái tâm giải đãi. Như cách thầy tôi vẫn cười: ha ha ha ha! Nhưng các bạn thử nghĩ mà xem, vì sao một bậc đạo sư ngồi trên đỉnh núi và tên cướp ở dưới chân núi, cùng nhìn thấy ánh trăng sáng?! 

Sài Gòn, tháng 12 năm 2025

Lý Thu Thủy MĐ0665

Giám Đốc HanoiBooks

Bạn cảm nhận bài viết thế nào?

like

dislike

love

funny

angry

sad

wow