Lập Kế Hoạch Cho Một Chuyến Hải Hành - Chủ Tọa Lý Phương Anh!!!
Sân chơi tuyến Lý Gia với chủ tọa Lý Phương Anh thuyết trình đề tài Lập kế hoạch cho một chuyến hải hành.
Các bạn !!!
Lý Phương Anh trở thành HĐ Lý Gia được chừng một năm (cuối năm 2019) !!! Nhưng có thể nói, Phương Anh là một trong những hiện tượng hiếm gặp trong quá trình hướng dẫn HĐ Lý Gia tu học của mình !!!
Chỉ sau một vài lần trao đổi, Phương Anh đã thấy được vấn đề, và cứ như vậy, ngày qua ngày sức giác ngộ của Phương Anh ngày càng sâu thêm, càng thấu suốt thêm !!!
Phương Anh là một trong 5 vị nữ môn đệ (trong 12 năm qua) được Lý Gia tặng danh hiệu cao quý LÝ NỮ PHƯƠNG DANH (LÝ NỮ PHƯƠNG DANH LÝ PHƯƠNG ANH) !!! Danh hiệu này nhằm khen thưởng những vị nữ HĐ có sức giác ngộ vượt trội cùng công lao giúp nhiều HĐ khác giác ngộ !!!
Kỳ sinh hoạt trực tuyến lần này, Phương Anh được BQT chọn làm chủ toạ buổi thuyết trình !!! Xin giới thiệu đến mọi người bài tham luận của LÝ NỮ PHƯƠNG DANH LÝ PHƯƠNG ANH !!!
P/S!
- Mình có xin bạn ấy tấm hình nào "xinh xinh" để đăng cùng bài viết, nhưng bạn ấy "keo quá", không gởi !!! Ha ha ha ha !!! Thôi tạm xài hình chụp từ iphone vậy !!!
- Bài viết của Phương Anh tương đối dài, nhưng nó là đúc kết từ kinh nghiệm thực tế trong việc giúp người của bạn ấy (do giới hạn của facebook, mình sẽ cắt bài của Phương Anh để đăng nhiều kì). Mong các bạn thông cảm và...chịu...khó...đọc!!! Chân thành cảm ơn !!!
19/11/2020
LÝ TỨ
"LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH" (Phần 1)
- Hướng tiếp cận đề tài
Hôm nay, được sự cho phép của Thầy và sự sắp xếp của các huynh đệ, con xin phép trình bày những suy nghĩ của mình về đề tài “Bản đồ hải trình cho người từ sơ cơ đến dứt tập” trong TCTT kì vừa qua trước đại chúng. Con mong được Thầy, muội mong được huynh đệ góp ý và bổ khuyết.
Thực sự tới thời điểm hiện tại, qua những buổi sinh hoạt trong 1 tháng vừa qua, 3 câu hỏi thầy đưa ra trong TCTT, con thấy các huynh đệ cũng đã trình bày và mổ xẻ rất chi tiết cả về độ rộng và độ sâu. Bài trình bày dưới đây của con xin được trích dẫn những lời dạy của Thầy, kế thừa và tiếp nối những đúc kết của các huynh đệ tỉ muội và đóng góp những cảm nhận của cá nhân con.
Bản thân con, với tư duy: Việc có thể thành tựu những điều cần thành tựu trong thời gian ngắn nhất, hiệu quả nhất, phải là kết quả, là sự cộng hưởng của 2 yếu tố: 1 là Sự thấu suốt, tốc lực tâm nơi tự thân người tu hành và 2 là Sự định hướng, lực đẩy của thiện tri thức, của bạn đồng tu. Có thể tạm lấy hình ảnh: Con vịt anh dắt con vịt em qua sông để minh hoạ cho sự kết hợp giữa tự độ và độ tha này. Thực chất cả 2 con cùng nhau đi qua một chặng đường (Khổ đế và Tập đế), nếu mỗi con vịt đều xác định một cách sáng rõ mục tiêu của mình, chiến thuật của mình, những việc mình cần làm để đạt mục tiêu thì chuyến hải trình sẽ suôn sẻ và thẳng tiến một mạch tới đích.
Do vậy, 3 câu hỏi gợi ý của Thầy trong TCTT kì này, con xin phép được không trả lời theo thứ tự câu hỏi mà trình bày dưới dạng một bản thảo luận, định hướng dành cho 2 đối tượng, cụ thể như sau:
Phần 1: Quy trình tu tập của người sơ cơ đến Dứt tập. Hay nói cách khác là: Một người mới tu tập trong Phật đạo thì bắt đầu từ đâu, những mục tiêu cần lần lượt thành tựu là gì?
Phần này con xin thành tâm hướng tới những huynh đệ mới trong Lý gia.
Phần 2: Quy trình hộ trì, giúp đỡ người tu tập, giai đoạn từ sơ cơ đến Dứt Tập. Hay nói cách khác là: Những bước nào, kĩ thuật nào, những y cứ nào để có thể đưa người qua sông thành công.
Phần này con xin thành tâm hướng tới các huynh đệ mới bắt đầu hành trình tu Bồ tát hạnh, hành Bồ tát đạo.
Sau đây, con xin trình bày chi tiết.
- Quá trình tu tập của người sơ cơ đến Dứt tập
Hay nói cách khác là: Một người mới tu tập trong Phật đạo thì bắt đầu từ đâu, những mục tiêu cần lần lượt thành tựu là gì?
Thưa các huynh đệ!
Cũng giống như mong muốn nơi tự thân mỗi người tu hành khi đến với Phật đạo, mục tiêu của Phật Đạo ra đời trước hết là nhằm giúp cho bản thân người tu hành có được đời sống an vui, có thể nói là đời sống an vui như sự an vui thường hằng của Đức Phật. Câu hỏi đặt ra là: Cái gì làm nên sự an vui như sự an vui của Phật đó?
Theo kinh sách để lại, sau khi Phật thành Chánh Đẳng Chánh giác, Thế Tôn quan sát hết thảy chúng sanh, Đức Phật đã thốt lên lời cảm thán: “Lạ thay, hết thảy chúng sanh đều có những đức tính như Chư Như Lai”. Và 49 năm sau, tức sau hơn 40 hoằng pháp giáo hóa chúng sanh, trong kinh Đại Niết Bàn, Phật lại một lần nữa tuyên thuyết điều đó bằng câu: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. 2 câu nói tuy tại 2 thời điểm khác nhau tạm coi là đầu và cuối của một quá trình, Phật đều tuyên thuyết một điều, đó là: Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng ta, sự an vui, lạc tịnh, thường hằng, từ bi hỉ xả đã có sẵn trong mỗi người.
Như vậy cái chất liệu để làm nên sự an vui như một Đức Phật hay còn gọi là Phật Tánh thực chất đã có sẵn trong mỗi chúng sanh, và vì một hay nhiều lí do nào đó mà những đức tánh này không thể hiện, chúng sanh không thấy sự an vui mà chỉ thấy phiền não rỉ chảy trong tâm. Điều này giống như một người có sẵn rương kho báu trong vườn mà không tự biết nên luôn luôn thấy mình nghèo, và vì rương kho báu bị nhiều lớp đất đá trong vườn vùi lấp mà người này không thấy được, không biết cách đào nó lên để thoát nghèo.
Chính những lời tuyên thuyết này của Phật đã minh định cho chúng ta mục tiêu và hướng đi của chuyến hải hành này. Đó là quay về bản thân mình, nơi biển tâm này, đào bới, bỏ đi hết những gì đã che lấp đã phủ đậy, để thấy được kho báu, thấy được viên ngọc Phật Tánh, sự an vui đã có sẵn nơi bản thân mình.
Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là: Nếu như trong mỗi chúng ta đã có sẵn sự an vui, thanh tịnh thì cái gì làm cho chúng ta không thấy, không cảm nhận được cái an vui thanh tịnh hằng hữu đó?
Có rất nhiều lí do: Có thể là do người ta đang bị những sự việc ở đời úp chụp, sự chăm chú dồn hết vào một chỗ nào đó mà không thấy được những thứ khác, cũng có thể những niềm vui những nỗi buồn thay nhau sanh khởi, tâm bị phiền não, cũng có khi là những quan điểm quan niệm những dòng suy nghĩ miên man phủ lấp, trí bị che mờ …. Nói chung nhiều thứ…
Để giúp phân loại và giải quyết các thứ này, trong Phật đạo có cái được gọi là Tứ đế hay Tứ diệu đế.
Tứ đế là gì?
Tứ đế là 4 tầng bậc giải quyết 4 vấn đề của người tu hành, hay chính là 4 tầng đất đá người tu hành cần phải lần lượt đào bới, giải quyết để thấy được viên ngọc Phật tánh. Trong đó có 2 cấp, 2 lớp đầu tiền là Khổ đế và Tập đế.
- Khổ đế là gì?
Khổ đế là phần việc giải quyết 8 món khổ nhân sinh. 8 món khổ tổng nhiếp hầu hết tất cả những nỗi khổ của kiếp nhân sinh, của nghiệp người, bao gồm: Sanh-lão-bệnh-tử khổ; ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ.
Khổ đế giống như lớp cỏ bề mặt che lấp, người ta bị những sự việc, những nỗi khổ ở đời úp chụp, nỗi khổ đó cứ ở ngay trước mặt, lấy đi toàn bộ sự chăm chú và sức lực.
* Sanh-lão-bệnh-tử khổ:
- Sanh khổ là nỗi khổ đau trong sự mang thai và sinh ra đời của mỗi con người bao gồm cả mẹ lẫn con. Mang thai và sanh nở là đau đớn cho cả người mẹ lẫn đứa trẻ. Chăm sóc và nuôi nấng lại cũng là một quá trình mệt mỏi khổ sở. Giả sử như những loài động vật khác không phải là nghiệp người thì có thể con mẹ chỉ mang thai vài tháng, sinh ra đời vài ngày thậm chí vài giờ con con đã trưởng thành độc lập tự sống tự kiếm ăn, nhưng với loài người thì quá trình phụ thuộc này kéo dài hơn rất nhiều với mức độ phụ thuộc cao, đứa trẻ khổ vì sinh ra mà không thể tự đi, tự đứng, người mẹ sinh con ra có trách nhiệm chăm sóc nuôi nấng mười mấy năm trời…
- Lão khổ là sự khổ trong lúc tuổi già. Con người khi già yếu, các căn đều suy yếu, mắt mờ, tai lãng, lưng mỏi, chân run…
- Bệnh khổ là sự khổ trong cơn đau bệnh tật.
- Tử khổ là sự khổ trong lúc chết, tâm sợ hãi, thân thì đau đớn.
* Ái biệt ly khổ: Là sự khổ khi xa lìa người thân yêu.
* Oán tắng hội khổ: Là sự khổ về oan gia hội ngộ, không ưa thích mà phải gặp.
* Cầu bất đắc khổ: Là sự khổ của việc mong cầu mà không đạt được.
* Ngũ ấm xí thạnh khổ: Sự khổ về năm ấm hưng thạnh, tức vượt quá mức bình thường. Ngũ ấm là 5 món: sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm. Theo quan điểm của Phật giáo, một hữu tình được làm nên bởi 5 yếu tố là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là cái Thân này; Thọ là các cảm thọ cảm giác; Tưởng là những nhớ nghĩ; Hành là sự dao động của tâm; Thức ở tầng nghĩa dễ thấy nhất là sự hiểu biết này. Ấm là úp là chụp. Ngũ ấm là tình trạng bị 1 trong 5 yếu tố này úp, chụp, không thoát ra được. Ví dụ:
- Sắc ấm như người tối ngày nghĩ đến cái thân này, không nghĩ được việc gì khác...
- Thọ ấm như người tối ngày nghĩ đến những cảm thọ này, ăn sao cho ngon, ngồi chỗ nào cho mát, dễ chịu…
- Tưởng ấm như người tối ngày suy tưởng, nhớ nghĩ vẩn vơ đủ thứ...
- Hành ấm như những người mà cái tâm buồn vui nó rong ruổi tối ngày, chảy từ chỗ này sang chỗ khác, nói như cách người đời là sáng nắng chiều mưa...
- Thức ấm như những người việc chi chi cũng phân tích, chia chẻ, có quan điểm, phải như này mới được, như này mới đúng, như này mới tốt …đại khái như vậy...
- Tập đế là gì?
Tập đế là phần việc giải quyết 3 món Phiền não, Kiết sử và Lậu hoặc. Đây là 3 món che chướng, trói buộc trong tâm và trí.
2.1. Phiền não là gì?
Là trạng thái Tâm không yên. Một sự việc xảy đến, mất đi cái thanh tịnh yên tĩnh. Phiền não bao gồm 2 trạng thái tâm thức là Phiền và Não.
- Phiền: Là trạng thái Tâm mất thanh tịnh. Khi một sự việc bên ngoài xảy đến mình vui, mình buồn, nói chung mình lợn gợn sao đó nên tự dưng mất đi cái thanh tịnh tự tâm trước đó.
- Não: Là trạng thái Tâm trùng xuống dưới mức bình thường, không hân hoan, não hại.
Tóm lại, Phiền não là do các căn chạy theo trần cảnh mà gây phiền gây não.
2.2. Kiết sử là gì?
Kiết là kết là cột trói, Sử là sai sử là lôi kéo.
Kiết sử là khi mình dính chặt với sự việc không buông ra được (biểu hiện là tham), lời nói, suy nghĩ dính vào tâm mình hoài, làm mình bất an nóng giận (biểu hiện là sân), hoặc đối trước sự việc mà mình mê mờ, si mê (biểu hiện là si).
Nói chung kiết sử là những trói buộc trong nhận thức, dẫn đến những trói buộc về hành vi. Kiết sử gồm 10 món. Trong đó có 5 món thuộc về lỗi nhận thức là: Thân kiến (chấp thủ những hiểu biết sai lầm về thân), Biên kiến (chấp chặt một bên, nắm giữ một định kiến, cực đoan), Kiến thủ kiến (nắm giữ các quan niệm các thấy biết phi chân lý), Giới cấm thủ kiến (không hiểu rõ giới, chấp chặt giới), Tà kiến (hiểu biết sai lệch về Giáo pháp) đưa đến 5 món thuộc về lỗi hành vi: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi.
Nếu như Phiền não là do các căn chạy theo trần cảnh mà phiền não thì Kiết sử là do các căn hiểu lầm về trần cảnh, mê chấp các nhận thức không có chân lý, mà sinh phiền não, tham, sân, si…
2.3. Lậu hoặc là gì?
Lậu là rỉ chảy, hoặc là che mờ. Lậu hoặc là những vô minh che chướng tâm trí. Phiền não, kiết sử cũng là lậu hoặc, là vô minh, là che chướng, cái che chướng trói buộc này từ đời. Gọi là Phiền Não chướng. Ngoài đời thì còn có cái vô minh, cái che chướng từ đạo, tức người này tuy đã hết bị trói buộc bởi cái đời rồi, nhưng ngày ngày lại đặt cái đạo, đặt kinh sách trước mặt, bị cái đạo bị kinh sách nhiếp nên không thấy được bổn tâm thanh tịnh của mình. Gọi là Sở tri chướng.
Tóm lại, Tập đế bao gồm 3 món Phiền Não, Kiết Sử, Lậu hoặc. Cùng với 8 món khổ nhân sinh, hay còn gọi là Khổ Đế, chính là những lớp đất đá bao phủ làm cho chúng sanh không thấy được viên ngọc Phật tánh, thấy được Thanh tịnh Niết Bàn trong chính mình.
Câu hỏi tiếp theo cần đặt ra là: Vậy làm thế nào để giải quyết những lớp đất đá này. 8 món khổ nhân sinh, Phiền não, Kiết sử, Lậu hoặc ???
- Giải quyết Khổ Đế, Tập Đế
3.1. Giải quyết 8 món khổ nhân sinh
Để giải quyết được 8 món khổ nhân sinh, người tu hành cần hiểu rõ nguyên nhân gây khổ (hay còn gọi là Đế). Chính hiểu biết minh bạch này sẽ giúp cho người này ra khỏi nỗi khổ.
Ví dụ:
- Sở dĩ thấy sanh-lão-bệnh-tử khổ vì mình có ái tâm với cái thân này, chỉ vì gắn bó lâu với nó mà luyến tiếc nó, hoặc vì không biết thân này bỏ rồi thì đi về đâu... Nếu biết sanh-lão-bệnh-tử là quy luật, thì lão-bệnh-tử này sẽ ko còn làm ngại nữa. Nay mình không bỏ nó thì 80 năm nữa nó cũng bỏ mình. Như người mặc cái áo, lâu ngày sờn rách rồi thì bỏ đi thay cái áo khác. Đời này chưa tu còn được cái thân này, có tu rồi chẳng nhẽ đời sau lại thọ cái thân tệ hơn. Hoặc biết sanh con, cưu mang con, sự phụ thuộc này là quy luật của nghiệp người, đã là quy luật thì không thay đổi được nhưng thái độ của ta đối trước quy luật này lại hoàn toàn có thể thay đổi được thì người này hoàn toàn có thể bước ra khỏi sanh khổ.
- Sở dĩ ái biệt ly khổ hay Oán tắng hội khổ là vì mình có ái có oán. Sự việc biệt ly hay hội ngộ tự nó chưa gây khổ. Chỉ khi nào ta có những quan điểm, quan niệm về quyến thuộc, quan niệm phân biệt là bạn hay là thù, thì lúc này những hiệu ứng tình cảm ái/oán, buồn vui mới sanh. Ái thì tham, tham thì sinh thủ, thủ không được ắt buồn khổ; mà nếu không ưa thì lại sinh tâm ghét, ghét mà gặp ắt sẽ khổ thôi. Như vậy, nếu quay lại giải quyết cái Tâm và Pháp, tức các quan niệm và hiệu ứng tình cảm này của mình thì biệt ly và tắng hội này hoàn toàn có thể không sanh khổ nữa.
- Cũng như vậy, sở dĩ có cầu bất đắc khổ là do mình cho nó một giá trị nào đó, định đặt một quan niệm nào đó mà sự so sánh, mong cầu xuất hiện, mong cầu không được thì khổ. Nhưng nếu mình biết quay lại Tâm này, muốn thì được rồi nhưng không có ham, thì sự cầu bất đắc này có thể xảy ra nhưng khổ thì không…
Tóm lại, khi người tu hành hiểu rõ nguyên nhân gây khổ, bắt đầu nhận ra tất cả là do “tự tâm hiện lượng” chứ không phải là sự việc hay thế giới thì chính hiểu biết này, thái độ này sẽ giúp cho người ta rời khỏi sự bủa vây của cảm giác Khổ, giảm thiểu sự tác động và dần ra khỏi đến hết Khổ. (Còn tiếp phần 2)
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


