Luận Về Kim Cang Thân
Vì thế trước khi nhập Niết bàn, Phật căn dặn đời sau khi kết tập kinh phải hội đủ “lục thành tựu”. Nếu không đủ sáu món này, lời kinh khi thuật lại sẽ trở thành hư dối! Mong rằng các bạn cố gắng thông suốt điều này để tránh lỗi lầm!
Các bạn!
Sáng nay, mình là nhận được bài viết tóm tắt của một vị HĐ, ghi lại cuộc trao đổi nhỏ của hai HĐ với nhau. Và hình như, cả hai “chưa thoả mãn” với lập luận đôi bên.
Qua đoạn trao đổi này, mình nhận ra, nếu khéo triển khai, sẽ hàm chứa nhiều ý vị của “Bát Nhã Văn Tự”, và giúp các bạn có được sự tinh tế về phương diện ngữ ngôn, trong những đương cơ cần thiết.
Vì thế, xin chuyển đến các bạn toàn văn cuộc trao đổi giữa hai HĐ chúng ta. Mình muốn nhân câu chuyện này, các bạn có thể “tìm một quyết định” về nghĩa Kim Cang Thân đúng nhất trong đương cơ này.
Và các bạn thẩm định xem, giữa câu trả lời của hai HĐ đã thoả đáng chưa? Nếu chưa thì như thế nào mới được coi là thỏa đáng?
Rất mong đón nhận cao kiến của HĐ, điều này sẽ giúp HĐ dần dần tiến sâu vào pháp phương tiện, hầu sau này có trong tay những công cụ tốt nhất.
Sau đây là email của HĐ. Xin chuyển đến các bạn:
Thưa Thầy!
(B) Có bạn hỏi: Kim Cang Thân là gì? Cái gì là Kim Cang Thân?
(A) Trả lời: Trí Tuệ là Kim Cang Thân.
(B) Bạn ấy nói: Không phải. Kim Cang Thân là Mặt trời, là hư không.
(A) Con nói: Nếu nói như Mặt Trời, như như không thì được, chứ nếu nói “là” thì chẳng phải.
(B) Bạn ấy không chịu cứ cãi.
(A) Con nói: Cái đó vô tri sao gọi là Kim Cang Thân được.
(B) Bạn ấy vẫn không chịu.
Con xin Thầy nghĩa quyết định!
Con cảm ơn Thầy!
*******
Các bạn!
Mình đã nhận được một số ý kiến của các bạn về ý nghĩa Kim Cang Thân. Nhưng, theo ý kiến cá nhân của mình thì:
• Điều bạn A trả lời với B, hoàn toàn không sai trong đương cơ này, vì đây là đương cơ của HĐ đồng học, cùng tư duy về ý nghĩa Kim Cang Thân tại một thời điểm.
• Khi A dùng chữ “như” trong đương cơ này, cho thấy mức độ chuẩn xác về từ ngữ. Chữ “là” của B bị lỗi tứ cú!
• Nhưng nếu “chữ là” này, được sử dụng bởi một vị khách chưa giác ngộ, hoặc chỉ thuần tuý nghiên cứu Phật Pháp thì có thể tạm chấp nhận, để nhân đó dẫn dụ họ vào thật nghĩa Kim Cang. Có nghĩa, mất đi chữ “là” mới là nghĩa Kim Cang. Ha ha ha ha!
• Nhưng ngược lại, nếu đây là câu trả lời của A với một đương cơ khác, không phải của HĐ chúng ta, nhất định phải xem lại, tức xem lại khái niệm Kim Cang Thân đã được vị khách hiểu đến đâu? Đã chính xác chưa? Sau đó mới bàn chuyện từ ngữ!
• Vì rằng đồng có tên Kim Cang Thân nhưng ba thừa chỗ giác ngộ và thân chứng sai khác. Vì thế, mới có đến ba ý sanh thân. Chưa nói thế gian hiểu nghĩa Kim Cang theo cách của thế gian. Tuỳ căn cơ mà chúng ta điều chỉnh ý nghĩa cho hợp lý, để tạo nên một buổi trao đổi nhiều lợi ích.
*****
Trong các ý kiến mình nhận được thì:
Của một HĐ, phần kiến giải tạm được, nhưng phần trích câu nói của mình để làm tỷ dụ thì “oan cho mình quá”.(Lần đầu con gặp Thầy ở sân bay, Thầy nói mình là người thông suốt hết kinh điển Phật.) Trích như thế là “bức tử”. Tự dưng, khi không mình tuyên bố như vậy hay sao?
Khi đọc câu nói của mình do vị HĐ này dẫn ra, mình không biết “nên khóc hay cười!” Bởi lẽ câu nói đó, nhất định đã được nói “trong một đương cơ đặc biệt”. Nếu muốn dùng câu này để làm tỷ dụ thì, phải tuyên nói lại hết câu chuyện, không thể cắt ngang một câu rồi lấy đây để minh hoạ cho vấn đề khác. Ha ha ha ha! Chơi như thế, là ăn gian quá!
Ví dụ, có người nói: Khi nào trúng mười tấm vé số đặc biệt, sẽ tặng chú mi một tỉ xài chơi. Mai mốt chụp lấy câu “tặng chú mi một tỉ xài chơi” như một lời hứa, rồi đi đòi buộc phải đưa một tỉ mà không cần điều kiện đi kèm lời hứa, thì chỉ có nước... ăn... đòn!
Ví dụ: Khi vua A Xà Thế can tội giết cha, vị vua này ăn năn lo sợ, đến cầu Phật. Để giảm bớt tội lỗi cho A Xa Thế, Phật dạy “Tội tánh vốn không“. Nhân lời này mà A Xà Thế không mắc tội vô gián. Không thể dùng câu nói của Phật “tội tánh vốn không“ trong mọi đương cơ khác một cách khinh suất, hoặc không thể bức ngang nói rằng: “Phật dạy tội tánh vốn không“!
Ví dụ: Khi hai vị tăng phạm tội dâm sát. Đại đức Ưu Ba Ly quyết định khép hai vị tăng này vào trọng tội. Nhưng
trong đương cơ đó, gặp Bồ Tát Duy Ma Cật. Bồ Tát thuyết nghĩa “dâm sát không tánh”. Nhờ nghĩa này mà hai vị tăng kia giác ngộ. Đây là câu nói của đương cơ, không thể bức ngang bảo rằng Bồ Tát Duy Ma Cật dạy “dâm sát không tánh!”
Ví dụ: Khi có người đến hỏi Lục Tổ Huệ Năng rằng: Phật tánh thường hay vô thường? Huệ năng bảo: “Vô thường”. Ta nói vô thường là tâm ông vô thường, nên khi ông lấy tâm này hiểu về Phật tánh thì Phật tánh cũng vô thường theo. Trong đương cơ Lục Tổ nói câu trên nhằm có ý riêng, không thể kết luận Tổ dạy: “Phật tánh vô thường!”
Thì, câu mình nói với HĐ ở sân bay, cũng nhằm đương cơ. Nếu bảo rằng ở sân bay mình nói câu đó mà không kể hết nhân duyên vì sao câu đó được nói lên! Khi đọc, sẽ bị nhầm lẫn đó là câu “thậm xưng”. Những câu nói thuộc về thậm xưng, sẽ là đại kỵ trong Phật Đạo.
Vì thế trước khi nhập Niết bàn, Phật căn dặn đời sau khi kết tập kinh phải hội đủ “lục thành tựu”. Nếu không đủ sáu món này, lời kinh khi thuật lại sẽ trở thành hư dối!
Mong rằng các bạn cố gắng thông suốt điều này để tránh lỗi lầm!
30-05-2013
LÝ TỨ
Bạn cảm nhận bài viết thế nào?


