Ngôi Nhà Tịnh Độ

Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương khi nghe danh hiệu của con, một lòng một dạ nhớ nghĩ đến cõi nước của con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.

Ngôi Nhà Tịnh Độ
Anh Lạc Luận Tập 2 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có HĐ hỏi, làm thế nào để có thể vãng sanh Cực Lạc và những vấn đề liên quan... Mình tạm giải thích như sau:

Cõi Cực Lạc, được Phật mô tả rất cặn kẽ trong kinh A Di Đà. Muốn đến đó, việc đầu tiên là, bạn hãy hình dung, thường xuyên nhớ nghĩ đến hình ảnh quốc độ này như những gì được mô tả.

- Trích lời nguyện thứ 20 của Ngài Pháp Tạng: “Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương khi nghe danh hiệu của con, một lòng một dạ nhớ nghĩ đến cõi nước của con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác”.

- Vì sao, việc đầu tiên của người cầu vãng sanh là phải hình dung, và sau đó là một lòng một dạ (nhất tâm) nhớ nghĩ đến hình ảnh cõi Cực Lạc???

  • Hình ảnh ban đầu của Cực Lạc đến với tâm thức gọi là khí phần. Thường xuyên nhớ nghĩ, đi đứng nằm ngồi đều không quên, không mất gọi là tướng phần hay Chí Thành Tâm. Khi hình ảnh này viên mãn, các nét từ đại cương đến chi tiết đều rõ ràng trong tâm thức, như bức tranh để trước mặt người mắt sáng, gọi là Thâm Tâm. Nếu phát nguyện hồi hướng tâm này đến tất cả chúng sanh, thì gọi là hồi hướng phát nguyện tâm.
  • Người này nếu muốn về cõi Tịnh Độ sau khi bỏ báo thân, do thiện tập nhân là những hình ảnh của Cực Lạc thường nhớ nghĩ đã thành hạt giống trong tâm, chiêu cảm với thiện giao báo là sự ham thích vãng sanh, tập nhân chiêu cảm với giao báo, cõi Cực Lạc hiện ra trước mắt... Cõi Cực Lạc hiện ra trước mắt gọi là thắng khí. Ba giai đoạn từ khí phần, tướng phần đến thắng khí, giống như chuyện chiếc điện thoại di động, từ tưởng ban đầu (khí phần), đến các bản vẽ thiết kế trên máy tính (tướng phần) và sau cùng là một chiếc điện thoại cầm tay ra đời (thắng khí), sự có mặt của chiếc điện thoại chính là quá trình ba nghiệp phần này viên mãn. Nếu không có hình ảnh đầu tiên làm nền tảng trong tâm thì thắng khí sẽ khó hiện khi viên mãn nghiệp báo. Đó là lý do tại sao Phật mô tả rất chi tiết về cõi Cực Lạc, mô tả này chính là gieo ba nghiệp phần vào tâm thức chúng sanh, để người nào ham thích, có thể từng bước thực hiện ước nguyện vãng sanh.

- Về chuyện Cực Lạc ở đâu??? Các bạn có thể tạm hiểu, Cực Lạc chẳng nằm trong ba cõi, cũng không phải ngoài ba cõi. Nếu trong ba cõi thì chẳng phải cõi Phật, còn nếu ngoài ba cõi thì làm sao chúng sanh đến đó được!!!

  • Điều tốt nhất của bây giờ là, nên có một định hướng và những kiến thức cơ bản tốt nhất liên quan đến nơi mình cần đến. Những định hướng đó là: Nơi đó mình có thật sự ham thích? Đã được trang bị một số hiểu biết nhất định về nơi ấy hay chưa? Nơi ấy như thế nào? Có cái gì hay? Vì sao mình phải đến? Đến đó để làm gì? Trả lời được những câu hỏi này, sẽ giúp tự tin hơn, và nhất định chuyến đi sẽ có những bước chuẩn bị hữu ích.
  • Một điều không kém phần quan trọng, đó là: Điều kiện ắt có và đủ để có thể đến được Cực Lạc bao gồm những gì??? Trong bấy nhiêu điều kiện, mình đã đáp ứng được bao nhiêu phần??? Còn thiếu cái gì, cái gì cần phải bổ sung??? Tư duy, tìm hiểu và trả lời thoả đáng những câu hỏi này, sẽ giúp chúng ta có một hành trang vừa đủ, để “đi đến nơi về đến chốn”.
  • Về mười ba pháp quán, theo mình thì có lẽ không nên tùy tiện thực hành, nếu chưa am tường cụ thể những điều cần có của một pháp quán cũng như ý nghĩa của nó.

Tốt nhất, cần tìm một bậc Đạo Sư hướng dẫn, vì những pháp quán như vậy giống như con dao hai lưỡi, có thể đứt tay bất cứ lúc nào. Đây chỉ là ý kiến riêng tư và kinh nghiệm cá nhân. Điều gì không nắm chắc thì hãy khoan thực hiện, thôi thì cứ nghiên cứu kinh điển và thực hành các pháp đơn giản rồi sau đó hãy tính.

  • Nếu muốn gìn giữ tâm không cho tán loạn thì có nhiều cách, đâu nhất thiết phải quán mặt trời lặn. Ví dụ như niệm Phật hoặc quán hơi thở chẳng hạn.

(09-2010)

 1. NHẤT TÂM… (MỘT LÒNG MỘT DẠ…)

- Tâm bất loạn là thường hay nhớ nghĩ cõi Cực Lạc và một lòng muốn được đến đó. Có nghĩa những cảnh tốt lành của Cực Lạc thường xuyên ở trong tâm. Nếu tâm nghĩ điều khác thì phải lập tức quay trở lại điều mình cần nhớ. Đạt được cảnh giới này sẽ tương ưng bất thối. Khi nào tâm không còn điều khác làm cho chi phối gọi là “Bất loạn”. Người đắc bất thối tâm, gọi là A Bệ Bạt Trí (Avevatthi).

- Nhất tâm, hiện nghiệp sẽ dừng, tương đương một Tu Đà Huờn, vì một Tu Đà Huờn cũng không thối chuyển về cõi Dục. Người được nhất tâm, hiện nghiệp đã dừng cũng không quay về cõi Dục, tức không chảy vào dòng đời. Nếu không chảy vào dòng đời, thì nhất định chảy vào dòng Thánh. Chảy vào dòng Thánh gọi là nhập lưu.

Các bạn!!!

Phật pháp là pháp xả. Phật dạy: “Phật pháp còn phải xả hà huống phi pháp” (kinh Kim Cang). Kẻ trí không nên rơi vào cực đoan.

- Mỗ̃i lời Phật dạy đều là phương tiện để khiến người thanh tịnh bản tâm, giống như mỗ̃i lời của bà mẹ đối với đứa con, dù dỗ̃ dành hay dọa nạt đều mong cho nó ngủ ngon... Phật đạo cũng như thế, tùy căn, tùy cơ mà nói pháp phương tiện. Đừng mang chiếc bè trên vai khi đã sang sông! Chiếc bè chỉ có thể giúp mình qua sông nhưng nếu thương tiếc công lao của nó mang vác trên vai, thì chiếc bè kia chính là trở ngại rất lớn cho hành trình.

- Phật thuyết các thứ cảnh giới cũng chỉ khiến cho bà Vi Đề Hi chứng quả Vô Sanh, thanh tịnh bản tâm, không sanh tâm khác. Cho nên kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng là Kim Cang vậy. Hãy nhìn ngón tay để thấy mặt trăng. Ngón tay không phải mặt trăng, người thấy mặt trăng nên lập tức rời ngón tay!!!

(01-09-2010)

2. VỀ… “PHƯƠNG PHÁP VÃNG SANH”

 Như, thế nào là nhất tâm bất loạn, trưởng dưỡng tâm, kỹ thuật tu hành để thành tựu Tư Lương Vị (hành trang tối thiểu giúp dễ dàng rời bỏ cõi này)... Mình xin giải thích các vấn đề nêu trên như sau:

 2.1. Nhất Tâm Bất Loạn

Lòng không tạp loạn, được hiểu là chỉ một tâm hướng về điều gì đó, không có tâm khác. Tức người này chỉ giữ trong lòng điều mình đeo đuổi, không có mong cầu khác.

Muốn thành tựu nhất tâm bất loạn, phải có quyết tâm cao, coi việc tu hành là lẽ sống, không cho chi phối hay lay chuyển bởi tác động ngoại duyên. Khi có ý nghĩ thối chuyển, hay gặp nghịch duyên, phải tức thời củng cố niềm tin và tự quở trách mình. Giống như một người quyết tâm đi từ A đến B, một lòng một dạ muốn đến điểm B, trên đường đi dù xảy ra bất kỳ tình huống nào, khó khăn cách mấy, bao nhiêu cản ngại, người này cũng tìm cách vượt qua. Một khi chưa đến được điểm B thì chưa thôi dứt lòng mong muốn này.

2.2. Trưởng Dưỡng Tâm

Là cách nói khác của “Một lòng một dạ”. Một lòng một dạ nuôi dưỡng hoài bão này không để phai lạt, không để bất kỳ lý do gì làm cho tâm này thối thất.

2.3. Tư Lương Vị

Cũng giống bất kỳ hình thức vãng sanh nào, người muốn vãng sanh Cực Lạc hoặc vãng sanh các Thiền Thú đều phải chuẩn bị hành trang tối thiểu cho chính mình, gọi là Tư Lương Vị (gồm mười hai món: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc)...

Tư Lương Vị, có hai công dụng: Một là, tu tập thành thục các pháp giúp đoạn dứt những ái luyến từ thân tâm và thế giới này... Hai là, trang bị những hiểu biết cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận và thích nghi với quốc độ mới!!!

2.3.1. Tứ Niệm Xứ.

  • Đối với thân: Phải biết nhàm chán thân thai sanh, để cầu thân hoá sanh.
  • Đối với cảm thọ: Phải biết xa lìa các cảm thọ thấp hèn của cõi này, để cầu thượng diệu lạc thọ của bậc Thượng Thiện Nhân.
  • Đối với tâm: Phải biết từ bỏ các thứ tâm hạ liệt, loạn động, vô thường, phiền não rỉ chảy của phàm phu... Một lòng một dạ nghĩ nhớ Cực Lạc Quốc, không sanh dị tâm
  • Đối với các pháp: Phải nhận thức rằng, pháp thế gian chẳng có chân lý... Thường nhớ nghĩ ý nghĩa ba pháp Tam Bảo xuất thế (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).

2.3.2. Tứ Chánh Cần.

Chưa nhàm chán thân này, chưa ghê sợ cõi này là ác pháp. Ác này phải từ bỏ.

Chưa một lòng một dạ ham thích Phật quốc độ, tham đắm duyên ba cõi, tham đắm này là ác pháp. Ác pháp này nhất định không cho tăng trưởng.

Thường xuyên nghĩ nhớ những điều tốt đẹp của Phật quốc, nghĩ nhớ này là thiện pháp. Thiện pháp này nhất tâm giữ gìn.

Trong tâm không rời Phật cảnh, thức ngủ không để quên, không quên Phật cảnh là thiện pháp. Thiện pháp này phải làm cho tăng trưởng từ nay đến khi thân hoại mạng chung.

2.3.3. Tứ Như Ý Túc.

- Khi năm căn không còn ham muốn trần cảnh, biết duyên cõi này đã tận... Khi đủ duyên lành, có thể thẳng đến Tịnh Quốc Độ như ý.

- Thức, ngủ chẳng quên tâm nguyện vãng sanh... Biết rằng, sức tinh tấn này giúp ta thành tựu mong ước vãng sanh như ý.

- Tâm thức không còn ham ưa các lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu)... Biết rằng, tâm này đã chuyên nhất, chỉ cần đủ duyên sẽ làm bạn với các bậc Thượng Thiện Nhân như ý.

- Quan sát ba cõi như nhà cháy, không mau ra khỏi sẽ phải khổ đau... Cõi Phật ba thời đều an vui, nếu được vãng sanh như con gặp mẹ... Quan sát thuần thục hai điều này, thân tuy chưa làm công dân Phật quốc, nhưng tâm thức đã đủ công đức trang nghiêm, có thể lại qua nơi đó một cách như ý.

Tóm lại, Tư Lương Vị là hành trang tối thiểu của người cõi này, nó có thể giúp người cõi này đi đến bất kỳ cõi nào trong Phật đạo. Còn Kiến Đạo Vị (Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần) và Tu Đạo Vị (Bát Thánh Đạo Phần)... là những môn học đặc thù của mỗ̃i cõi, người được vãng sanh, đến đó sẽ tiếp tục học tập những thứ này... Vì thế, kinh A Di Đà có dạy: "Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.

Tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, v.v...Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!

Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ...”

(09-2010)

3. CÁCH THỨC (KỸ THUẬT) TU HÀNH

Trong 48 điều nguyện của Ngài Pháp Tạng, trích điều nguyện thứ hai mươi: “20. Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương khi nghe danh hiệu của con, một lòng một dạ nhớ nghĩ đến cõi nước của con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác”… nói rất rõ cách thức để được vãng sanh về quốc độ của Ngài, nhưng không thấy nói đến dụng công tu hành mà người tu Tịnh Độ thường hay làm, gọi là hành trì… Xin Hỏi: Hành trì để được vãng sanh là thực hiện theo yêu cầu của điều nguyện này, hay hành trì giống như mọi người đang làm?

Các bạn!!!

- Lời nguyện được trích ở trên, có lẽ đã đủ để người cầu vãng sanh thực hiện ước nguyện của mình. Lời nguyện này, chính là điều kiện bắt buộc do ngài Pháp Tạng, chủ nhân cõi Cực Lạc đặt ra, những ai thực hiện đầy đủ các yêu cầu đó, nhất định sẽ được vãng sanh.

- Tu hành để được vãng sanh, là thực hiện trọn vẹn các yêu cầu của chính chủ nhân nơi đó đề ra, chứ không phải thực hiện một yêu cầu khác do một ai đó định đặt. Giống như anh muốn định cư ở nước của tôi, anh phải đáp ứng các điều kiện do chính phủ của tôi đề ra, nếu anh làm khác đi, hoặc không thoả mãn các yêu cầu đã nêu, chắc chắn chúng tôi không tiếp nhận.

- Thông thường, người tu hành trong Phật đạo luôn chấp nhất rằng, đã là người tu, thì phải “Tu” một cái gì đó. Mà họ quên rằng tu là giác ngộ, là thấu suốt những điều chỉ dẫn của Phật và ứng dụng sự giác ngộ đó vào đời sống cho thuần thục.

Giống như người trồng lúa, sau khi hiểu rõ (giác ngộ) kỹ thuật canh tác, người này liền ứng dụng những hiểu biết đã học vào công việc gieo trồng. Làm như vậy gọi là người làm ruộng, không phải làm ruộng là tối ngày đọc các kỹ thuật canh tác, rồi sau đó cầu một cách thức gieo trồng nào khác ngoài những hiểu biết đã có và đã được hướng dẫn. Cụ thể hơn, giống như người lái xe, sau khi học xong các kỹ thuật điều khiển chiếc xe và am tường luật lệ giao thông, người này ứng dụng những điều đã học vào công việc điều khiển chiếc xe. Điều khiển đến thuần thục, người này không cần phải lẩm nhẩm các luật lệ và kỹ thuật lái xe nữa. Khi lái xe thuần thục, các điều đã học trở thành nhất tâm, tạo ra sự phản xạ nhất định khi xe lăn bánh trên đường, thì chuyện “thượng lộ bình yên” là tất nhiên. Nếu làm khác đi, thì... thì... thì nhất định sẽ “thượng... lộ... nằm... im”!!!

- Cũng vậy, người tu Tịnh Độ sau khi đặt trọn niềm tin vào cảnh giới Cực Lạc, người này thực hiện các yêu cầu để được vãng sanh như phát Bồ Đề tâm, tu trồng công đức và hồi hướng những gì đã có, thường xuyên nhớ nghĩ cảnh giới Cực Lạc gọi là niệm… Ứng dụng những điều này đến độ nhất tâm, là đã đạt yêu cầu vãng sanh, và làm như vậy gọi là tu hành. Không phải tu hành là xa rời những điều trên, để cầu một hành động nào khác nhằm thoả mãn cái...ngã...của...mình!!!

- Nếu có một cách thức nào đó để được vãng sanh ngoài những điều nguyện của ngài Pháp Tạng thì Ngài Pháp Tạng chủ cõi Cực Lạc có lẽ không đến nỗ̃i quên khi phát đại nguyện, để người đời sau bổ túc cho... đủ!!!

(7-09-2010)

4. LÀM THẾ NÀO ĐỂ…“TU TRỒNG CÔNG ĐỨC”???

Cũng liên quan đến đề tài vãng sanh... Có một HĐ hỏi: Làm thế nào để… “tu trồng công đức”?... Nhân đây, xin giải thích những vấn đề liên quan đến hai chữ công đức và thiện ác của đạo xuất thế như sau:

- Chữ “công đức” trong Phật Giáo nhằm chỉ cho một thứ giá trị nào đó khi thân, khẩu, ý hoàn toàn thanh tịnh... Nói khác hơn, hành động của thân khẩu ý thanh tịnh thì phát sinh công đức.

- Hành động tạo tác nào có năng sở (có chủ thể, có đối tượng của chủ thể), có toan tính, có lý do, có mong cầu, có một ý nghĩa nào đó… đều cho ra phước báo hay tội báo, gọi nôm na là tội phước.

Người tu hành thường đánh đồng hai chữ tội phước thành thiện ác. “Thiện ác”và “tội phước” theo quan niệm thế gian không khác, nhưng đối với “pháp xuất thế”, hai khái niệm thiện ác và tội phước không giống nhau. Ta có thể hiểu ý nghĩa của hai khái niệm này trong đạo xuất thế như sau:

- Hành động nào xuất phát từ thanh tịnh, giải thoát hay hướng đến thanh tịnh, giải thoát cho mình hoặc cho người được gọi là “thiện”, hành vi này cho ra công đức.

- Hành động nào không xuất phát từ các ý nghĩa nêu trên, đều cho ra “tội hay phước thế gian”. Đạo xuất thế gọi chung là “ác”.

  • Không kể người tu Tịnh Độ hay tu Thiền, tất cả người tu hành trong Phật đạo đều cần phải thấu suốt ý nghĩa công đức và làm như thế nào để phát sinh công đức. Chưa thấu suốt hai chữ này, mọi hành vi đều không thoát khỏi tội phước thế gian, nếu thấu suốt ý nghĩa công đức thì làm gì, ở đâu cũng đều phát sinh công đức.

 - Tất cả các cõi xuất thế, đều dùng chung một giá trị thanh toán đó là công đức. Giống như ở đời người ta dùng tiền bạc, vàng để làm giá trị trao đổi gọi là “kim ngân bản vị”... Ta có thể hiểu, ở các Phật quốc dùng “công đức bản vị” để thanh toán. Thiên quốc dùng “phước đức bản vị”. Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ… dùng “ác đức bản vị”.

- Thấu suốt điều này và giác ngộ chân thật thì, gieo trồng mọi thứ bất kỳ đều sinh công đức, không kể nhân nào. Cho nên, ở Cực Lạc mới có chuyện tréo ngoe là, cây vàng sanh trái bạc, cây pha lê sanh trái mã não, cây san hô sanh trái xa cừ… Không giống như phước báo thế gian cây xoài sanh trái xoài, cây mít sanh trái mít, người sanh người, gà sanh gà…

  • Đây là lý do vì sao, trí tuệ của Phật đạo có thể biến “củ ấu sanh hoa sen”. Những chuyện như vậy gọi là “Bất khả tư nghì”!!!

(27-09-2010)

5. TU HÀNH… TRONG CHÁNH PHÁP

Các bạn!!!

Thông thường người tu hành hay tư duy “vô tội vạ”… Không định hướng, không trọng tâm, không chiều sâu và không biết tư duy để được cái gì...??? Nếu tư duy như vậy thì có khác gì người đời suy nghĩ.

Tất nhiên một vấn đề tạm gọi là lớn mà chúng ta đang xâm nhập, đã cho ra kết quả nhất định của nó. “Nan đề” này không dễ một ngày hay một bữa mà người tu hành có thể xuyên thấu được. Nhưng ít ra các bạn đã cho ra những tư duy tốt hơn và có chiều sâu, một thứ chiều sâu cần thiết của người tu hành. Những câu hỏi thuộc loại vừa nêu, ẩn chứa cả bầu trời Phật pháp. Càng tư duy, ngày càng thâm sâu, càng tư duy trí tuệ càng bén. Hãy mài dũa trí tuệ bằng những dòng tư duy như vậy.

Tư duy Phật pháp phải có thú hướng và phải có kết quả của điều mình tư duy. Kết quả đó là gì? Kết quả mọi tư duy trong Phật đạo đều có yếu tố chân chánh gọi nôm na là Chánh tư duy. Như thế nào được gọi là chánh? Chữ chánh trong Phật đạo có nghĩa nhờ tư duy mà mọi chấp mắc trên đời đồng tịch diệt, hay khác hơn mọi thứ kiến chấp đồng thanh tịnh. Tư duy để mất năng sở, tư duy để biết “hết thảy do tâm hiện” kể cả tư duy và kết quả của nó. Giống như một người cầm gươm tự chặt đầu mình, trước khi chặt có người chặt, có đầu để chặt, nhưng sau khi đầu rơi thì tất cả đồng mất hết. Một kết quả nào đó của tư duy, cho dù tốt đến mấy mà chấp chặt, coi đây là “chân lý tối thượng” thì kết quả đó trở thành kiến chấp. Đây là lực cản lớn nhất của người tu hành.

Câu hỏi đặt ra: “Thế nào mới được gọi là Chánh pháp?”

(Từ từ suy nghĩ cho kỹ, “trả lời liền, nhất định sẽ sai”. Khi thấy không còn nghĩa nào tốt hơn rồi hãy trả lời.)

Các bạn!!!

- Thật ra, tư duy một vấn đề của Phật pháp là phương pháp tối ưu để nâng trí tuệ lên một nấc thang mới trong đời sống tu hành. Con đường đến Vô Thượng Bồ Đề là con đường của trí tuệ. Nhờ trí tuệ thấu suốt mà tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh nên trí tuệ tốt hơn. Cứ như vậy, hai thứ tâm và trí hỗ̃ trợ cho nhau để cùng viên mãn.

- Chánh Pháp là cái gì rất rộng lớn thâm u, càng tư duy càng thấy thú vị và càng phát hiện ra nhiều điều mới lạ.

- Tư duy là cách tu thù thắng của Bồ Tát pháp. Trong sáu Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Kham nhẫn, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ), trí tuệ Ba La Mật là tinh hoa của năm Ba La Mật kia. Vì thế muốn thâm nhập sâu vào Chánh pháp không thể không tư duy và không có trí tuệ.

- Các địa trong Phật pháp hơn kém nhau bằng Công Đức và Trí Tuệ, cho nên muốn đạt được chiều sâu nhất định trong Giáo Pháp thì phải không ngừng thanh tịnh bản tâm và tư duy Giáo Pháp… Xin đọc lại bài kệ này:

 “Ðệ tử của Như Lai

Sự nghiệp là trí tuệ

Bất luận quốc độ nào

Tâm vẫn thường thanh

Lậu hoặc(1) tức Bồ đề.”

- Khái niệm “lậu hoặc” này của Thanh văn, nên Thanh Văn tu cho dứt lậu hoặc để tiến về cảnh giới Vô Lậu. Còn Bồ Tát đạo thì tu hành để thường chảy đến chúng sinh các pháp lành, gọi là “quang minh”. Vì thế, Bồ Tát không tu để được Vô Lậu mà phải dùng trí tuệ để biến “Vô Lậu” thành... “Lậu...Vô”, phát ra cái thanh lương!!!

Hỏi: Có phải Chánh Pháp bao gồm tự lợi và lợi tha?

Trả lời: Đúng là Chánh pháp bao gồm cả tự lợi và lợi tha. Nhưng nếu khái niệm Chánh pháp chỉ gồm trong hai điều như vậy thì khái niệm này không rõ ràng. Có vô số câu trả lời thế nào là Chánh pháp. Mỗ̃i người tu hành đều hiểu Chánh pháp theo cách suy nghĩ của mình. Những suy nghĩ như vậy không có gì là sai, nhưng bảo là đúng nhất thì phải còn coi lại.

- Trong giai đoạn tu tập này, có thể nói “Chánh kiến là hòn đảo để mọi người tu hành nương tựa” và Phật tri kiến chính là chánh kiến tối thượng. Nếu nương tựa được nơi đây (Phật tri kiến) thì sẽ không còn nơi nào tốt hơn, và muốn có trí tuệ tối thượng này thì cần tiếp tục “đốt ngọn đuốc trí tuệ” và tiếp tục đi nữa, nhất định sẽ tìm gặp “hòn đảo Phật trí” (cội nguồn của “Phật tri kiến”).

Các bạn!!!

Chỉ một thời gian ngắn, tri kiến, độ thâm sâu, sự tinh tế trong nhìn nhận vấn đề của các bạn đã vượt xa mong đợi, nhất là các bạn đã bám chặt lấy cội gốc Giáo Pháp. Cái hay của Chánh Pháp là như vậy.

- Chữ “Chánh” trong trường hợp này tức mọi lời nói, hành động, v.v… không rời xa Giáo Pháp, không rời xa Giáo Pháp đồng nghĩa việc từng bước thành tựu các yêu cầu của hệ thống Giáo Pháp đặt ra...

Các yêu cầu của hệ thống Giáo Pháp đề ra gồm: Biết khổ, dứt tập, chứng diệt, tu đạo... Không giải quyết tận gốc bốn bước này, các bạn có bay được lên trời thì, Phật Đạo cũng gọi đó là... tà pháp!!!

(09-2010)

-------------------------------------------

(1) Lậu: Rỉ chảy; hoặc: Che mờ