MỤC 2.Thiền nguyên thủy hay Như Lai thiền.

Lấy bốn niệm xứ làm căn bản tu hành. Đây là chỗ xuất sinh mọi khổ đau trên đời. Tất cả khổ đau đều nương tựa nơi bốn món là căn thân (thân, thọ) và thế giới (tâm, pháp) mà có.

Thiền này quy mọi nguyên nhân khổ đau do dục ái, dục ái y nơi thân ngũ ấm mà hiện, kinh dạy: “Nếu ái sanh thì cũng sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não.” Nếu dừng dục ái thì khổ cũng dứt. Ái đầu tiên của chúng sinh là ái về thân. Thân là tài sản quý giá bậc nhất của chúng sinh, mọi nỗ lực trong đời cũng chỉ để cung phụng và gìn giữ thân này. Chúng sinh quyết gìn giữ để thân không bị “biến dịch.”

Chính thương yêu, giữ gìn này đã làm cho thân tâm có mối liên hệ khắng khít. Thân tâm hai món bây giờ in tuồng là một, gọi là câu sinh lưỡng chấp.

Tâm luôn luôn mong cầu thân tồn tại dài lâu, hễ thân biến dịch thì tâm đau khổ (thân do tứ đại vô tri làm thành không tự biết khổ vui, ví như thây ma). Sở dĩ tâm khổ đau khi thân biến dịch do tâm ái thân. Sự hệ phược câu sanh này, nếu được đoạn trừ thì tâm sẽ không khổ não cho dù thân có như thế nào.

Để trưởng dưỡng thân này, tâm đòi hỏi thỏa mãn các cảm thọ, đòi hỏi phải chiếm đoạt và tích chứa ngũ dục. Vì vậy cơ sở đầu tiên để nhị thừa được thiền là: “Ly dục, ly ác bất thiện pháp.”

• Dục là ngũ dục, ác pháp là ngũ triền cái, bất thiện pháp là tâm yếu ớt. Các món này đối với nhị thừa y cứ trên thân ngũ ấm mà có, nên yểm ly triệt để ngũ ấm là biện pháp tối ưu để nhị thừa bức phá khỏi sức hút ba cõi. Quá trình lần lượt đi từ cõi này sang cõi khác gọi là thiền.

Nếu như Thanh Văn vào thiền theo lộ trình yểm ly ngũ dục thì Duyên Giác vào thiền bằng giác ngộ pháp nhân duyên. Thừa này ý thức rất rõ sở dĩ các pháp có được do duyên hòa hợp, duyên này không nhân. Như cây và bóng cây, cây tự thân không bóng và không có nhân sinh bóng, nếu hội đủ ánh sáng, không gian, mặt đất, và người mắt sáng sẽ thấy bóng cây. Từ một bóng cây, các nhận thức sai biệt về nó theo nghiệp hình thành. Người lấy đây làm bóng mát sinh tham ưa. Kẻ thấy đây là trở ngại cho việc trồng trọt sinh tâm chán ghét. Từ nhận thức này tâm sinh pháp, pháp làm rối loạn tâm khiến tâm mê mờ. Muốn pháp không sanh chỉ cần rút một trong các duyên ra khỏi quy trình sinh pháp. Quá trình làm chậm, nhẫn đến triệt tiêu nguyên nhân sinh pháp thiền sẽ hiện.

• Như con mắt thấy các trần sinh ra nhãn thức, từ nhãn thức sinh ra các phân biệt sai khác theo nghiệp, đồng một pháp kẻ ghét người ưa.

Giống như thây ma giữa ngã ba đường, quyến thuộc thì ưu bi khổ não, kẻ thù vui mừng, khách lạ thì vô ký. Tự thân thây ma kia không có nhân buồn vui hay vô ký, mà ba người lại có ba cảm nhận khác nhau. Những pháp sai biệt này đều do nghiệp quả sai biệt sinh ra: Nghiệp quyến thuộc, nghiệp thù hằn, nghiệp vô ký. Kỳ thật, thây ma là pháp không nhân, chỉ do các duyên như ái sân.

Nghiệp sai khác cho ra các món phân biệt sai khác, tâm tình duyên theo ái sân phát sinh hệ phược. Muốn hết hệ phược phải phòng hộ các căn, ý thức vị ngọt của các dục, diệt trừ tham ái, thiểu dục tri túc.

Nói chung phải tu các pháp lành để tăng ích trí huệ, giới luật không khuyết để ngăn ngừa ái dục, và giác ngộ không nhân để thanh tịnh các duyên, hoặc quán 12 nhân duyên mà giác ngộ. Quán luân chuyển để thấy nhân sanh, quán hoàn diệt để thấy nhân diệt.

Mười hai nhân duyên vô minh đi đầu. Vô minh tự thể không luân chuyển, nhờ ‘hành’ mà vô minh duyên vào thức, vô minh làm động lực để hành diêu động, ‘hành’ diêu động để làm thỏa mãn ham muốn ‘diêu động của vô minh’.

Vô minh muốn biết tướng trạng của mình và thế giới nên thúc đẩy hành chuyển tải mình vào căn. Nơi căn vô minh muốn nhận biết nên thức duyên vào. Do vì thức nhập vào sáu căn nên sinh ra sáu thức (vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập…), cứ như thế 12 chi hoàn thành. Thức y nơi căn nhận biết rồi phân biệt theo nghiệp. Từ nghiệp phân biệt sanh tham ưa, tham ưa không dứt nên phân biệt không dứt. Phân biệt và tham ưa làm nhân đắp đổi thúc đẩy nhau nuôi lớn dục ái. Dục ái huân nhau làm lớn vô minh. Vô minh tạo nghiệp, và nghiệp thành quả, lấy quả làm nhân, trong nhân lại có vô minh.

• Cứ như thế vô minh ở khắp 11 chi kia, diêu động như dòng nước chảy. Dòng nước nghiệp quả chảy mãi không dừng. Có thể hiểu hành là lực vô hình làm cho nước chảy. Thấy nghe phân biệt của nghiệp như dòng nước, nghiệp lành dữ như độ dốc, những thứ này là tướng của vô minh.

Đoạn kinh sau mô tả vô minh nhiếp đồng nghiệp mà có thân sau gọi là luân hồi:

Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà hợp, mà ly, mà thành, mà hóa. Cái thấy phát minh, thì các sắc phát ra; nhận rõ nơi sự thấy, thì thành có tư tưởng; rồi ý kiến khác nhau, thì thành ra ghét, tưởng niệm đồng nhau, thì thành ra yêu. Lan cái yêu ra, thành hạt giống, thu nạp tưởng niệm, thành ra cái thai, giao xen phát sinh, hấp dẫn bọn đồng nghiệp, nên có nhân duyên sinh ra yết la lam, át bồ đàm, vân vân…. Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hay hóa sinh là tùy phần sở ưng: Noãn chỉ do tưởng niệm mà sinh, thai thì nhân ái tình mà có, thấp sinh thì cơ cảm mà hợp lại, còn hóa sinh thì phân ly mà ứng hiện. Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly thay đổi lẫn nhau, nên các loài chịu nghiệp báo cũng theo đó mà lên xuống; do nhân duyên ấy, chúng sinh tiếp tục….”[[1]]

Từ một thức đồng hiện ra sáu thức, thức theo nghiệp nhận biết, do biết theo nghiệp nên sanh đảo tưởng. Từ đây pháp giới chúng sanh thành lập. Bản nhiên không thứ lớp nay dường như có thứ lớp, chỗ không trược bỗng nhiên thành trược, giống như đem cát bụi ném vào nước trong.

Phật dạy: “A Nan, ông thấy hư không khắp thập phương thế giới: Bên không, bên thấy, không tách rời nhau; có cái không mà không thật thể, có cái thấy mà không hay biết, hai bên xen lộn giả dối thành ra lớp thứ nhất, gọi là kiếp trược.

Thân ông hiện ôm bốn món đại làm tự thể, che bít những sự thấy, nghe, hay, biết, thành bị ngăn ngại và trở lại làm cho các thứ địa, thủy, hỏa, phong, thành có hay biết; các điều đó xen lộn giả dối thành ra lớp thứ hai, gọi là kiến trược.

Lại trong tâm ông, những sự nhớ biết học tập, phát ra tri kiến, hiện ra tướng sáu trần, thì những sự đó, rời tiền trần không có tướng, rời tri giác không có tính, xen lộn giả dối thành ra lớp thứ ba, gọi là phiền não trược.

Lại tâm ông ngày đêm sinh diệt không ngừng, tri kiến thì muốn lưu mãi ở thế gian, nhưng nghiệp báo xoay vần thì lại thường dời đổi cõi nầy cõi khác, những điều đó xen lộn giả dối thành ra lớp thứ tư, gọi là chúng sinh trược.

Cái thấy, cái nghe của ông, bản tính vốn không khác nhau, do các trần cách trở, mà không duyên cớ gì, lại sinh ra khác nhau; trong tính thì vẫn biết nhau, nhưng trong dụng thì trái ngược nhau, cái đồng và cái khác đã mất hẳn chuẩn đích, xen lộn giả dối thành ra lớp thứ năm, gọi là mạng trược.”[[2]]

• Quán như vậy tột cùng mới biết thức này khi mới nhập thai là thức đồng. Từ đồng khi duyên vào các căn sinh dị, nơi dị duyên ra sáu món thấy nghe sai khác. Chưa vào sáu căn, thức không bị giới hạn có thể biến mãn khắp pháp giới. Nay vào các căn bị các căn chi phối. Con mắt chỉ thấy mà không nghe, lỗ tai chỉ nghe mà không thấy. Thấy nghe bị giới hạn theo nghiệp. Với con mắt hễ vật quá nhỏ không thấy, quá lớn không thấy, quá gần không thấy, quá xa không thấy, lỗ tai cũng như vậy. Khi thức chưa nhập thai biến mãn thập phương, nay có thân bị chi phối bởi thân nghiệp như ông thần vào cái chai.

• Phép quán này cho thấy vô minh luân chuyển trong 12 chi. Vô minh khiến thức làm tay sai, từ một thức không già chết, nay theo nghiệp chịu khổ bởi già chết. Vô minh xích xiềng chúng sanh trong vòng luân chuyển của sinh tử, sở dĩ vô minh duyên vào các chi kia là nhờ có hành.

• Vô minh làm nhân hành làm duyên, hành chuyển tải vô minh đi khắp các chi, sai sử mỗi chi làm theo ý muốn của mình. Thức bị vô minh sai sử nên duyên vào danh sắc, từ chỉ có danh và sắc bị vô minh duyên vào thành ngũ ấm. Vô minh làm chủ thể thúc đẩy thức duyên vào sáu căn gọi là lục nhập. Lục nhập theo nghiệp duyên vào xúc… thọ… ái … lão tử, cứ thế vô minh được hành cho đi dạo khắp 10 chi để làm lớn thêm nghiệp. Mười hai chi đều có bóng dáng của vô minh và hành. Từ chỗ rỗng rang nay thành có chủ, ông chủ vô minh ngự trị.  Quán như vậy để thấy sự luân chuyển của vô minh.

Do có luân chuyển này nên có sinh tử, “tùy chiếu thất tông.” Muốn thoát khỏi sinh tử phải lội ngược dòng, “nghịch dòng được chỉ.” Như nước không thể chảy ngược.

• Giác như vậy hành giả quán ngược lại, để thấy sở dĩ có chi sau là vì do chi trước luân chuyển duyên vào. Nếu dừng chi trước, thì chi sau không bị vô minh duyên. Không duyên vào được nên chi này chỉ có tên mà không có chủ thể. Chi này không có chủ thể thì chi kế tiếp không sanh, không sanh nên không có tên gọi. Như ông chủ không mua cây thì không thể làm nhà, không có cây làm nhà thì không có cái nhà, không có cái nhà thì danh tự nhà không có. Như xúc duyên thọ, nên thọ duyên ái, nếu không có xúc thì thọ không thành, thọ không thì ái không, và các chi sau tự mất. Một chi mất thì 11 chi còn lại tự rã.

• Hành dừng thì vô minh trở lại thể ban đầu chỉ có tên gọi. Giống như vòng lửa chỉ cần dừng lại thì vòng lửa tự mất.

• Phép quán hoàn diệt này cho phép hành giả chọn một chi nào thấy cần đoạn. Quán ngược trở lại chi trước để dừng mối luân chuyển của chi sau. Khi chi sau dừng thì chi kế không thành lập.

• Nguyên lý này quán thọ để dừng ái, gọi là quán hoàn diệt, hoặc có thể quán xúc để dừng thọ. Khi 12 nhân duyên dừng, thức trở về chỗ đồng vô thủy từ đây ngộ được chỗ diệt, hướng tâm đến cứu cánh.

Quá trình quán hoàn diệt, thân tâm không bị các duyên ràng rịt như người thoát khỏi bụi gai độc cảm thấy an ổn. Càng quán hỷ lạc an tịnh càng thêm lớn, gọi là được thiền. Vì thế Duyên Giác thừa nhân giác ngộ nhân duyên mà chứng Tứ Thiền.

Đoạn kinh sau Phật chỉ nguyên nhân mê lầm:

“Tt cả chúng sinh từ vô thủy đến nay điên đảo nhiều cách, giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người tu hành không thành được đạo vô thượng Bồ Đề, đến nỗi lại thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành ngoại đạo, chư Thiên, Ma Vương hay bà con Ma, đều do không biết hai chữ cỗi gốc, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp như vi trần, rốt cuộc vẫn không thể thành được.

Thế nào là hai thứ cỗi gốc?

A Nan, một là cái cỗi gốc sống chết vô thủy, tức như ông ngày nay cùng các chúng sinh dùng cái tâm phan duyên mà làm tự tính.

Hai là cái thể bản lai thanh tịnh Bồ Đề Niết Bàn vô thủy thì như hiện nay cái tính bản minh thức tính của ông, sinh ra các duyên mà lại bị bỏ rơi.

Do các chúng sinh bỏ rơi cái bản minh ấy nên tuy cả ngày sống trong tính bản minh mà không tự giác, oan uổng vào trong lục đạo.”[[3]]

Kinh Đại Niết Bàn Phật dạy đời sau trong mười hai nhân duyên nên quán thọ, quán thọ sẽ dễ giác ngộ. Sở dĩ có thọ là vì có xúc, nhân xúc sinh thọ, các cảm thọ có được là bởi căn xúc đối với trần.

• Phật dạy có ba thứ xúc là: Minh xúc, vô minh xúc, phi minh phi vô minh xúc.

Quán lỗi lầm căn thân, ở yên nơi giới, đoạn trừ ‘vô minh xúc’. Tăng ích thiện căn dứt trừ si ám, hết si ám rời được ‘phi minh phi vô minh’. Giữ gìn tịnh hạnh sẽ được ‘minh xúc’. Minh xúc là ‘thọ như pháp’, thọ như pháp ‘không sanh phiền não’, không sanh phiền não gọi là ‘vô lậu tâm’.

• Thanh Văn, Duyên Giác, hai tri kiến khác nhau khi nhìn một pháp. Hai tri kiến này, mỗi tri kiến có đặc thù của nó nên giác ngộ cũng rất đặc thù.

• Tuy thấy rất riêng nhưng nét đồng thì cực đồng, đó là đồng có nguyện vọng thoát ly ba cõi. Chính tương đồng này đã làm cho Thanh Văn, Duyên Giác ngồi chung một cỗ xe thẳng đến cứu cánh gọi là nhị thừa. Nhị thừa đi chung một thứ phương tiện đó là Tứ Thiền, nên rốt ráo đồng chứng một quả vị như nhau.

Đoạn kinh sau giới thiệu cách quán mười hai nhân duyên để sanh thiền:

Ny A Nan! Ông Nan Đà trước kia rất nặng ái dục, tánh rất xấu ác, Đức Như Lai dùng thiện phương tiện chỉ dạy cho ông ấy được lợi ích vui mừng. Phật rõ biết căn tánh của ông ấy, dùng huệ Bát Nhã mà giảng thuyết mười hai nhơn duyên: Chính là vô minh duyên hành, hành duyên thức, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não, đều là rừng bụi vô minh yêu ghét, tất cả hành khổ đầy tràn trong ba cõi, chạy khắp trong lục đạo. Cội gốc sự khổ từ vô minh khởi lên. Dùng huệ Bát Nhã hiển bày tánh tịnh, quán sát kỹ cội gốc thời dứt được tội lỗi trong ba cõi. Vì cội gốc vô minh dứt nên vô minh dứt, vô minh dứt thời hành dứt, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não đều dứt.

Lúc được quán niệm nầy nhiếp tâm đứng dừng thời được nhập Tam Muội, do sức Tam Muội được nhập sơ thiền lần lượt nhập Tứ Thiền không rời chánh niệm luôn tu tập như vậy, rồi sau tự sẽ được chứng thượng quả thoát khỏi khổ trong ba cõi. Nan Đà Tỳ Kheo, tin sâu lời dạy của Phật, siêng năng tu tập trong một ít lâu được chứng quả A La Hán.”[[4]]

Tóm lại đặc tính của hệ Tứ Thiền là khiến chúng sanh thích nghi với môi trường giác ngộ bằng cách thay đổi dần dần môi trường sống.

Trong cõi dục người tu hành từ chối các dục bằng hiểu biết mới gọi là thắng giải sau đó vào cõi sắc.

Trong cõi này quở trách thân tâm bằng hình thức xả giác quán hỷ lạc, vượt cõi sắc vào vô sắc. Chia nhỏ ý thức và bẻ gãy nó, thân tâm ý thức được sạch hóa phát sanh trí tuệ vô lậu chứng giải thoát.

Giống như con cá nước ngọt muốn ra biển khơi phải tập sống trong những vùng nước có độ mặn khác nhau từ ít mặn đến mặn nhiều. Khi nào thích nghi hoàn toàn sẽ bơi vào biển lớn mà không bị chết bởi xốc môi trường. Ưu thế của thiền này là khi con cá trở về với nước ngọt sẽ dễ hòa nhập.


[[1]] Trích kinh Thủ Lăng NghiêmTâm Minh dịch.

[[2]] Trích kinh Thủ Lăng NghiêmTâm Minh dịch.

[[3]] Trích kinh Thủ Lăng NghiêmTâm Minh dịch.

[[4]] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn –HT. Thích Trí Tịnh dịch.