Ngũ  ấm và  ngũ  uẩn  là  hai  khái  niệm người tu hành dễ nhầm lẫn và khó phân biệt. Vì hai khái niệm này có cùng tên là ‘sắc, thọ, tưởng, hành, thức’. Sắc chỉ cho thân, thọ tưởng hành thức chỉ cho tâm.

Năm món này lúc nào là ấm, lúc nào là uẩn. Nếu không phân biệt chính xác đọc kinh sẽ gặp trở ngại và ứng dụng tu hành lại càng khó, nếu không muốn nói không thể ứng dụng được.

Kinh nói: “Ngũ uẩn giai không” lại đem ngũ ấm suy nghĩ ứng dụng tu tập, hóa ra giống như chuyện “con quạ ăn dưa bắt con cò phơi nắng,” Trương Tam làm Lý Tứ chịu.

Ấm.

Chữ ấm có nghĩa ngăn che, tức cái gì đó che khuất cái khác, phủ lên bao bọc làm mờ tối đi.

Ngũ ấm là năm món ngăn che giác tính.

Chúng sanh thọ thân giống như ông thần vào cái chai hay ngôi miếu hoang. Ông thần chưa vào miếu thảnh thơi tự tại, thấy nghe hay biết không bị lệ thuộc. Khi nhận cái miếu hoang làm nơi cư trú

thì ông thần bỗng dưng bị cái miếu trói buộc che mờ: Tường vách ngăn che, thấy phải dùng cửa, hít thở phải cần lỗ thông gió, thấy nghe hay biết không thoát khỏi cái miếu, hay dễ hiểu hơn ông thần khi vào cái chai thấy nghe theo màu sắc cái chai, và hiểu biết vui buồn không lớn hơn cái chai.

• Chúng sanh cũng vậy, khi nhận thân, linh giác bị thân nghiệp bao phủ, thấy nghe hay biết phải nhờ đến các căn, đến đi phải nương cậy vào thân. Nói chung mọi hoạt động tùy thuộc thân, vì thế thân gọi là sắc ấm.

• Do đời sống hoàn toàn lệ thuộc vào thân, nên khi thân căn xúc đối sinh ra các cảm thọ sai biệt, y cứ vào các cảm thọ sinh ra khổ vui gọi là khổ thọ lạc thọ. Cảm thọ quay lại ám ảnh chúng sanh, chán khổ tìm vui và không tự biết các thọ vô thường khổ vui đều là món khổ. Cảm thọ chỉ do duyên mà có tự sinh tự diệt không bền lâu, chúng sanh bị cảm thọ che mờ gọi là thọ ấm.

• Lâu dần tham ưa cảm thọ ngũ dục, sinh ra các thứ tình tưởng nhớ nghĩ không quên nên gọi tưởng ấm.

• Khi chưa nhập thai chúng sanh chỉ một thức nghiệp. Khi có thân thức chen vào sáu căn gọi là nội lục nhập, thức từ đồng thành dị duyên ra sáu căn làm nên sáu món thấy nghe sai khác. Duyên nơi thấy nghe hay biết khiến tâm lao lự (mệt nhọc nghĩ suy), duyên mãi không thôi gọi là hành ấm, tức bị nghĩ suy lay động che mờ.

• Khi thấy nghe lao lự thành thục thì mọi thấy biết không ngoài những gì đã thấy đã biết. Huân tập lâu ngày thành nghiệp gọi là thức ấm, tức bị cái biết hư vọng ngăn che.

Ông thần vào cái miếu lâu ngày có hộ khẩu, quên đi chuyện xưa cái miếu không phải của mình lại tưởng mình là tác giả làm ra cái miếu. Khi có ai đó xâm phạm đến cái miếu, sân nộ liền sanh, ngã nhân thọ giả tác giả hình thành. Ngã quay lại chăm sóc giữ gìn cái miếu lại thêm một tầng che ám, cứ thế che ám ngày một dày thêm.

Chúng sanh đối với thân cũng vậy, từ một cái thân ban đầu lầm nhận sinh năm món che chướng khổ đau.

• Khái niệm ngũ ấm là cách giảng giải chia chẻ thân tâm phần lớn theo loại ‘ngôn giáo nhị thừa’.

Khi người tu hành biết lỗi che chướng của ngũ ấm, thì tìm phương tiện yểm ly, không còn trói buộc ngăn che gọi là giải thoát. Vì thế, hiểu ngũ ấm để

giác ngộ sự cột trói che mờ, không phải hiểu ngũ ấm để chia chẻ từ ‘’ thành ‘không’. Bản lai năm món này không tánh, chỉ do duyên tham ái năm món trở thành cột trói che mờ nên gọi là m.

Giống như cái miếu chưa từng cột trói ông thần, chỉ ông thần si mê tự cột trói mình. Nếu dứt tham ái thoát ly ra khỏi cái miếu, thì ông thần trở về với tự tại ngày xưa. Nhưng sự đời tham ái khó dứt, ông thần mất miếu tìm miếu, chúng sanh mất thân tìm thân, nếu không giác ngộ thì đời đời bị thân che ám.

Uẩn:

Chữ uẩn có nghĩa là tích chứa. Trong Phật pháp chữ uẩn dùng để chỉ chúng sanh tích chứa các món hay sanh phiền não.

Ví dụ trẻ con chơi trò cờ bạc, chúng đi lượm những tấm vé số không trúng thưởng, chúng quy ước với nhau loại vé số này có mệnh giá 500, tấm kia có mệnh giá 1000, dùng những tờ bạc giả tổ chức thành canh bạc. Trong cuộc chơi chúng ăn thua đủ, cũng vui buồn, sân nộ, được thua như thật, bảo vệ giữ gìn tờ bạc giả giống như giữ gìn tiền của. Khi thua hoặc đám trẻ khác xâm hại cũng phiền não sân si, đánh giá hơn kém nhau bằng những tờ vé số cũ. Lớn lên bọn trẻ nhận thức được rằng đó là những tờ giấy lộn không có giá trị đích thực, mất hay còn không bận tâm.

Khi giác ngộ như vậy chúng sẽ tự tại trước cái mà hồi nhỏ ngu mê cho rằng nơi đó có giá trị. Lớn lên với trí tuệ chúng biết rằng những tờ vé số cũ kia giá trị hoàn toàn không thật, nên được thua còn mất không sanh phiền não. Không sanh phiền não vì không tích chứa các uẩn pháp trong tâm.

Ngũ uẩn trong Phật giáo có ý nghĩa tương tự, thân do bốn đại hợp thành và vô thường biến hoại, thân này chỉ do duyên mà có không hề có giá trị đích thực.

Mỗi loài do nghiệp có thân, không phải thân loài này quý hơn loài kia. Cùng trong một loài do nghiệp quả mà thân tướng sai khác, sai khác của thân tướng đều là bốn đại vô tri. Bốn đại này chưa hề nói rằng xấu hay tốt hơn bốn đại kia, tốt xấu do người định đặt, bốn đại tánh rỗng rang, con người đem các giá trị không thực áp đặt vào nó.

• Nếu đem thân ra so sánh cho rằng thân tôi tốt hơn thân anh, thì sẽ có thân khác tốt hơn. Sự so sánh này không có cơ sở và khập khiểng. Nếu giữ gìn sự đánh giá qua thân tướng sẽ phát sinh phiền não.  Giống như trong hư không lại sinh hoa đốm, nơi không có uẩn trở thành sắc uẩn.

Các cảm thọ cũng như vậy, sở dĩ có thọ tốt xấu là do phước báo nghiệp quả. Chức vụ địa vị cao cũng vô thường, thấp hèn nghèo đói cũng chỉ do nghiệp duyên. Khi duyên mãn mọi thứ sang hèn đã thọ không tồn tại, nếu cho rằng có một giá trị nào đó nơi các cảm thọ hay thọ nhận là một sự lầm lẫn lớn.

• Không giác ngộ thấu đáo, căn cứ trên cảm thọ mà chấp thủ, thì chấp thủ này là nguyên uỷ phát sinh phiền não. Vô duyên vô cớ pháp duyên sanh (không nhân sanh) trở thành thọ uẩn.

Tưởng, hành, thức cũng đều như vậy. Phải quán tánh của năm uẩn không thật, thân tâm này không hề có một giá trị bền vững, vì đời người sau 80 năm mọi thứ đều hư hoại.

Nếu không giác ngộ thì phiền não là điều không thể tránh khỏi. Giống như ông thần vào miếu hoang, quan sát chung quanh thấy cái miếu của mình tốt hơn cái miếu anh hàng xóm sanh vui mừng. Khi thấy thần khác có  miếu tốt hơn sanh muộn phiền, bỗng dưng định đặt giá trị cho một cái mà mình không hề là tác giả cũng chẳng phải thọ giả. Không phải tác giả vì cái miếu không phải do ông thần làm ra, chẳng phải thọ giả vì ông thần không thể thọ nhận cái miếu vĩnh hằng vì cái miếu không bao giờ theo lời ông thần đừng hư hoại. Sự nhầm lẫn của ông thần sẽ cho ra hệ quả phiền não, bởi vô cớ chạy theo hơn thua còn mất gìn giữ cái không chân lý.

Vì thế nếu không quán sát bằng trí tuệ, ôm ấp các giá trị này sẽ là nguyên nhân phiền não khổ đau. Vì thế Phật dạy quán: “Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” là vậy.

Tóm lại, ngũ ấm và ngũ uẩn có hai ý nghĩa khác nhau rất lớn.

• ‘Pháp ấm’ có ý nghĩa vật chất (tướng); ‘Pháp uẩn’ có ý nghĩa tinh thần (tánh);

• Pháp ấm thuộc chỉ, pháp uẩn thuộc về quán;

• Pháp ấm thiên về giải thoát, pháp uẩn thiên về thanh tịnh tự tâm;

• Pháp ấm có khuynh hướng giáo nhị thừa, pháp uẩn có khuynh hướng giáo Bồ Tát;

• Pháp ấm dùng yểm ly, pháp uẩn dùng trí tuệ giác ngộ;

• Pháp ấm đưa đến bình đẳng tâm, pháp uẩn đưa đến vô đẳng đẳng tâm;

• Pháp ấm đưa đến nhân không, pháp uẩn đưa đến pháp không;

• Pháp ấm bất liễu nghĩa, pháp uẩn liễu nghĩa;

• Pháp ấm thuộc thánh  giáo, pháp  uẩn thuộc chơn giáo;

• Pháp ấm đưa đến tuệ tri, pháp uẩn đưa đến liễu tri. Hiểu sai hoặc nhầm lẫn sẽ là một lực cản rất lớn trên con đường phát sinh trí tuệ vô thượng.