1.Tìm hiểu cặn kẽ, thấu suốt bốn đế và 37 phẩm.

Phương pháp quy đổi nói trên phải dựa vào các định hướng bắt buộc của Phật giáo, đó là ‘bốn đế và 37 phẩm’.

Nếu không biết định hướng hoặc xa rời định hướng này thì số vàng kia sẽ không thể tiêu thụ. Giống như người ăn không tiêu, thức ăn không được tiêu hóa sẽ là mầm bệnh mới. Bệnh cũ đã khổ rồi nay cưu mang thêm mầm bệnh mới thì khổ lại chồng thêm khổ.

Chính vì thế, công việc tiêu hóa văn tự kinh để cho ra nguồn sáng vô lậu làm xóa tan vô minh là một công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi phải cần tới tư duy và trí tuệ. Giống như người ta đãi cát tìm vàng, sự cần khổ và tinh tế không thể thiếu trong hoàn cảnh này; hay giống như người dùi cây lấy lửa mọi ngưng nghỉ giữa chừng đều không tốt.

Tìm hiểu cặn kẽ bốn đế và 37 phẩm để ứng dụng tu hành giống như hiểu biết rành rẽ quy trình và phương pháp đãi vàng, sẽ không có một chút vàng nào cho người không thấu suốt quy trình và phương pháp đãi lọc.

2. Đãi lọc kinh điển để tìm ý nghĩa chân lý.

Đãi lọc kinh điển để tìm ý nghĩa giống như người ta ép mía lấy nước, kinh như mía nguyên liệu, ý nghĩa bốn đế và 37 phẩm giống như phương pháp ép mía để lấy nước mía tinh chất. Khi ép được nước phải bỏ bã xác, tức ‘từ bỏ chấp nhứt văn tự’; nếu thương tiếc xác bã hay tưởng lầm đó là thứ mình cần thì sẽ uổng công phí sức và không đạt được mục đích của người đi tìm nước mía.

Phương pháp nghiên cứu này không phải mới. Hồi Phật còn tại thế, ba vô lậu học được áp dụng triệt để vì thế người tu hành thời đó thành tựu không khó, và các kinh điển để lại xác chứng điều này.

Lần hồi theo thời gian hình như người tu hành không còn trung thành tuyệt đối với phương pháp truyền thống này nữa. Những dời đổi của thế sự, những tất bật của cuộc sống, sự rập khuôn tỉ mỉ không được ưa chuộng, vì thế nhiều phương pháp tu học mới ra đời để thuận hạp với đa số quần chúng và làm thỏa mãn thị hiếu tu hành, cũng như cách triển khai đơn giản nhằm giảm bớt sự đồ sộ của kinh điển.

Có lẽ vì thế qua thời gian làm đổi thay phương pháp, sự thành tựu ít đi và ý nghĩa kinh điển không được quan tâm đúng mức.

Những cái người xưa gần gũi bây giờ trở thành xa lạ với nhiều người tu hành; thực tế không ít người tu hành ngán ngẫm kinh điển, họ mong muốn cái gì đó hay một phương tiện ‘ít tốn công nhọc sức, đỡ vất vả tư duy, không phải siêng năng cần mẫn’ mà vẫn gặt hái được kết quả như ý.

Mong muốn như vậy không có gì đáng bàn bởi     Phật cũng có mong ước như vậy: “Đại sự  nhân duyên Phật ra đời là để  khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh.”[[1]]

Nhưng muốn làm được điều này, theo lịch sử gần hai mươi năm sau, tức đa số đệ tử chứng thánh, Phật mới thực hiện được hoài bão của mình.

Đành rằng mong ước mau chóng thành tựu là chánh đáng nhưng một phương pháp được gọi là cổ truyền hay truyền thống hình như đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị.  Bởi trước đây trên 2.500 năm chúng sanh đau khổ vì sanh tử như thế nào thì 2.500 năm sau chúng sanh đau khổ cũng giống như vậy, và trước đây chư Hiền Thánh dạy chúng sanh giải quyết đau khổ như thế nào thì bây giờ cũng chỉ giải quyết như vậy, cho tới tận cùng đời vị lai cũng chỉ giải quyết như vậy mới mong đoạn tận khổ đau,   vì rằng ‘sanh tử khổ đau’ ngày xưa và bây giờ hình như không khác.

Giới-định-huệ cho ra mảnh đất tâm trong sạch vô lậu, và khi mảnh đất nghiệp trở thành mảnh đất vô lậu thì bây giờ hạt giống Bồ Đề mới có thể gieo trồng và nảy mầm trên đó.

Môi trường bát chánh đạo không bị nhiễm ô khi nó được gìn giữ bởi giới-định-huệ thì đạo quả mới có thể tồn tại. Giống như cá chỉ tồn tại trong nước, thiếu ba món này thì ngũ căn và ngũ lực hút bằng cái gì đây để cho ra cành nhánh giác chi và hoa trái giải thoát?

Khi tâm chưa thật sự trong sạch thì mọi hy vọng tỏa hương của hai thứ hương vô lậu là giải thoát và giải thoát tri kiến hương làm sao tỏa mùi tinh khiết trong môi trường nhiễm ô cho được? Phật tri kiến chỉ được vẽ trên một nguồn tâm không cấu nhiễm, đoạn kinh sau nói lên điều này:

“Này các Tỷ Kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác – hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía – vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ Kheo, vì tấm vải không được trong sạch.

Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.

Này các Tỷ Kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác – hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ Kheo, vì tấm vải được trong sạch.

Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.” [[2]]


[[1]] Trích kinh Diệu Pháp Liên Hoa

[[2]] Trích kinh Trung Bộ, số 7Vatthùpatma sutta;  HT.Thích Minh Châu dịch.