Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.

Bấy giờ vua nước Xá Vệ là Ba Tư Nặc Vương và Mạc Lợi phu nhơn mới chứng đạo pháp xong, cùng bảo nhau rằng: Con gái chúng ta là Thắng Man sáng suốt, từ ái, đa văn trí huệ, nếu nó được thấy đức Như Lai thì ở nơi pháp thậm thâm sẽ có thể mau thấu hiểu, không còn các sự nghi hoặc. Chúng ta nên sai người giỏi khuyến dụ đến phát khởi lòng thành kính của nó.

Bàn luận xong, vua và phu nhơn viết thư khen ngợi công đức chơn thiệt của Như Lai, sai quan Chơn Đề La làm sứ mang thư đến thành Vô Đấu trao cho Thắng Man phu nhơn.

Sau khi xem thơ của cha mẹ, Thắng Man phu nhơn vui mừng đảnh thọ, hướng Chơn Đề La mà nói kệ rằng:

Tôi nghe tiếng Như Lai

Thế gian khó được gặp 

Lời nầy nếu chơn thiệt 

Sẽ ban người y phục 

Nếu đức Phật Thế Tôn 

Vì lợi thế gian hiện 

Tất phải được xót thương 

Cho tôi thấy chơn tướng. [[1]]

Thắng Man phu nhơn nghĩ tưởng đến Phật mà nói ra lời ấy, trong giây lát sau đức Phật hiện thân tướng bất tư nghị tại hư không phóng quang minh chiếu khắp thế giới. [[2]]

Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc đều hợp đến chiêm ngưỡng chắp tay đảnh lễ Phật nói kệ khen rằng:

Như Lai thân sắc đẹp

Thế gian không ai bằng 

Không sanh chẳng nghĩ bàn

Thế nên nay kính lạy [[3]]

Thân Như Lai vô tận 

Trí huệ cũng như vậy

Tất cả pháp thường trụ 

Vì thế tôi quy y [[4]]

Khéo điều tâm lìa lỗi 

Điều thân khẩu cũng vậy 

Đều đến bất tư nghị 

Thế nên tôi kính lạy 

Biết các pháp sở tri 

Thân và trí vô ngại 

Nơi pháp không quên mất 

Vì thế tôi kính lạy [[5]]

Cúi lạy đấng Vô Lượng

Cúi lạy đấng Vô Đẳng 

Cúi lạy đấng Pháp Vương 

Cúi lạy đấng Nan Tư [[6]] 

Mong thương gia hộ tôi 

Cho giống pháp thêm lớn 

Mãi đến thân rốt sau 

Thường ở tại trước Phật 

Bao nhiêu phước tôi tu 

Đời nầy và đời khác 

Do sức căn lành nầy 

Mong Phật luôn nhiếp thọ.

Nói kệ xong, Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc và tất cả đại chúng đảnh lễ chân Phật.

Bấy giờ đức Thế Tôn vì Thắng Man phu nhơn mà nói kệ rằng:

Xưa Ta vì Bồ đề 

Đã từng khai thị ngươi 

Nay ngươi lại gặp Ta

Đến đời sau cũng vậy [[7]]

Nói kệ xong, đức Phật ở giữa chúng hội thọ ký Vô thượng Chánh Đẳng Giác cho Thắng Man rằng:

“Nay ngươi ca ngợi công đức thù thắng của Như Lai,[[8]] do căn lành nầy, ngươi sẽ ở trong a tăng kỳ kiếp, làm vua tự tại trong hàng trời người, đầy đủ đồ thọ dụng. Ngươi sanh tại chỗ nào cũng thường được gặp Phật cúng dường khen ngợi như nay không khác. Ngươi còn sẽ cúng dường vô lượng vô số chư Phật Thế Tôn.[[9]]

Quá hai vạn a tăng tỳ kiếp, ngươi sẽ thành Phật, hiệu Phổ Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Quốc độ của Phật Phổ Quang ấy không có các ác đạo suy già bệnh khổ, cũng không có danh từ bất thiện, ác nghiệp đạo, chúng sanh cõi ấy hình sắc đoan nghiêm, đủ cảnh đẹp cõi trời, thuần thọ hưởng vui sướng hơn cả Trời Tha Hóa Tự Tại. Chúng sanh cõi ấy đều hướng về Đại Thừa, ai học Đại Thừa như vậy đều sanh về quốc độ ấy”.[[10]]

Khi Thắng Man phu nhơn được thọ ký xong, có vô lượng trời người sanh lòng vui mừng hớn hở, đều nguyện sanh về thế giới của Phật Phổ Quang. Đức Thế Tôn đều thọ ký cho họ sẽ được sanh cõi nước ấy.[[11]]

Được nghe đức Phật thọ ký xong, Thắng Man phu nhơn chắp tay đứng trước Phật phát mười hoằng thệ:

− “Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề; con chẳng sanh tâm niệm phạm nơi giới đã được thọ.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề; con chẳng sanh lòng kiêu mạn đối với các bực Sư Trưởng.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng có lòng giận hờn đối với các chúng sanh.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng sanh lòng đố kỵ với người hơn mình và sự hơn mình.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng sanh lòng bỏn xẻn dầu chỉ có ít thức ăn.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng vì mình mà nhận chứa của cải. Nếu có nhận chứa thì chỉ vì cứu tế loài hữu tình nghèo khổ.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con hành tứ nhiếp sự mà chẳng cầu ân báo, không lòng tham lợi, không lòng nhàm đủ, không lòng hạn ngại, luôn nhiếp thọ chúng sanh

− Bạch đức thế Tôn! từ nay đến ngày thành Bồ đề, thấy có chúng sanh nào không chỗ nương tựa, bị giam cầm trói buộc bịnh tật khổ não các thứ nguy ách, thì con trọn chẳng bỏ lìa họ, quyết mong cho họ được an ổn đem lợi ích lành cho họ.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, nếu con thấy có ai hủy phạm cấm giới thanh tịnh của đức Như Lai, nếu thuộc về thành ấp tụ lạc của con quản nhiếp, kẻ đáng điều phục con sẽ điều phục, kẻ đáng nhiếp thọ con sẽ nhiếp thọ.   Tại sao? Vì điều phục nhiếp thọ kẻ phá giới thì làm cho chánh pháp được còn lâu, chánh pháp còn lâu thì trời người đông đúc, mà ác đạo giảm ít có thể làm cho pháp luân của Như Lai được thường chuyển.

− Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con Nhiếp Thọ Chánh Pháp không để quên mất. Nếu quên mất Đại thừa thì quên Ba la mật, nếu quên Ba la mật thì quên Đại thừa. Nếu chư Bồ Tát chẳng quyết định nơi Đại thừa thì Nhiếp Thọ Chánh Pháp không được bền vững, thì chẳng kham siêu việt bực phàm phu, là mất mát lớn.

− Bạch đức Thế Tôn! Hiện tại và vị lai chư Bồ Tát Nhiếp Thọ Chánh Pháp, phát hoằng thệ này, thì đầy đủ vô biên lợi ích rộng lớn. [[12]]

Đức Thế Tôn dầu là chứng biết mà các loài hữu tình căn lành kém mỏng hoặc phát khởi lưới nghi; Do đây, nên mười hoằng thệ nguyện khó thành tựu được, họ sẽ mãi mãi chứa hợp các pháp bất thiện, thọ những khổ não. Vì lợi ích cho các chúng sanh ấy nên nay, con ở trước đức Phật phát thệ thành thiệt.[[13]]

− Bạch đức Thế Tôn! Nay con phát mười hoằng thệ ấy nếu là chơn thiệt, chẳng hư luống thì trên đại chúng sẽ mưa hoa trời, phát âm thanh cõi trời”.

Thắng Man phu nhơn ở trước đức Phật nói vừa dứt lời, trên hư không liền mưa hoa trời và phát ra âm thanh trời rằng: “Lành thay, lành thay! Như lời thệ của Thắng Man phu nhơn chơn thiệt không sai khác”.[[14]]

Bấy giờ chúng hội thấy cảnh lành nầy dứt lòng nghi hoặc, rất đỗi vui mừng, đồng thanh xướng rằng: “Nguyện cùng Thắng Man phu nhơn sanh nơi nào đều đồng một nguyện hạnh”.

Đức Phật thọ ký cho tất cả đại chúng ấy đều mãn sở nguyện. [[15]]

Thắng Man phu nhơn lại ở trước Phật phát ba hoằng nguyện, do nguyện lực này làm lợi ích vô biên cho hữu tình.

Điều nguyện thứ nhứt: Tôi do căn lành trong tất cả đời được Chánh Pháp Trí. [[16]]

Điều nguyện thứ hai: Chỗ tôi sanh, nếu tôi được chánh trí rồi, sẽ vì các chúng sanh diễn thuyết không hề mỏi.

Điều thứ ba: Tôi vì nhiếp thọ, hộ trì chánh pháp nên đối với thân thể không tiếc sanh mạng.

Đức Phật nghe ba điều nguyện xong, bảo Thắng Man phu nhơn rằng: “Như tất cả hình sắc đều nhập vào không giới, Hằng sa [[17]] điều nguyện của Bồ Tát đều nhập vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đại.

− Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con sẽ nương sức oai thần biện tài của Đức Phật muốn nói đại nguyện, mong đức Thế Tôn thương mà hứa khả cho”.

Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”. [[18]]

− Thắng Man phu nhơn nói: “Bồ Tát có Hằng sa điều nguyện, tất cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là ‘Nhiếp Thọ Chánh Pháp’. Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy chơn thiệt quảng đại”. [[19]]

Đức Phật bảo: “Lành thay, nầy Thắng Man! Ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi nói, người nầy đã vun trồng cội lành từ lâu.

Nầy Thắng Man! Nhiếp Thọ Chánh Pháp như ngươi đã nói, đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều thứ tướng để nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Ca ngợi Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy được công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ cùng vô lượng nguyện của Bồ Tát đều nhập vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đạỉ”.

− Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con sẽ nương sức oai thần biện tài của đức Phật muốn nói đại nguyện, mong đức Thế Tôn thương mà hứa khả cho”.

Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”.

− Thắng Man phu nhơn nói: “Bồ Tát có Hằng sa điều nguyện, tất cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là nguyện “Nhiếp Thọ Chánh Pháp”. Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy chơn thiệt quảng đại”.

Đức Phật bảo: “Lành thay, ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi nói, người này đã vun trồng cội lành từ lâu.

Nầy Thắng Man! Nhiếp Thọ Chánh Pháp do ngươi đã nói, đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều thứ tướng để nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy được công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ không ngằn mé; Tại sao? Vì Nhiếp Thọ Chánh Pháp đây có đại công đức có đại lợi ích”.

− Thắng Man phu nhơn bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con sẽ nương thần lực của đức Phật mà nói nghĩa Nhiếp Thọ Chánh Pháp quảng đại.[[20]]

Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”.

− Thắng Man phu nhơn nói: “Nghĩa Nhiếp Thọ Chánh Pháp quảng đại là vì được vô lượng tất cả Phật pháp nhẫn đến hay nhiếp tám vạn hành môn.

Ví như kiếp sơ nổi lên các sắc mây mưa các trận mưa báu. Cũng vậy, mây thiện căn Nhiếp Thọ Chánh Pháp hay mưa các trận mưa vô lượng phước báu.

Ví như kiếp sơ trong đại thủy hay sanh Tam thiên Đại Thiên giới tạng và bốn trăm ức các thứ loại lục địa. Cũng vậy, Nhiếp Thọ Chánh Pháp xuất sanh Đại thừa vô lượng giới tạng cùng vô lượng các thứ thần thông lực, các thứ pháp môn của Bồ Tát, thế gian và xuất thế gian, đầy đủ an lạc mà tất cả thiên nhơn chưa hề có.

Ví như đại địa mang bốn gánh nặng, đó là: Biển cả, núi non, cây cỏ và chúng sanh.

Cũng vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì có thể kham được bốn trọng nhiệm hơn đại địa kia, đó là: Đối với các loài hữu tình rời lìa thiện hữu, không nghe pháp, phạm các tội lỗi thì dùng căn lành trời người để thành thục họ; Với kẻ cầu Thanh Văn dạy cho họ Thanh Văn thừa; Với kẻ cầu Duyên Giác dạy họ Duyên Giác thừa và với kẻ cầu Đại thừa dạy họ Đại thừa.

− Bạch đức Thế Tôn!  Thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy thì kham được bốn trọng nhiệm hơn cả đại địa, khắp vì chúng sanh làm bạn lành chẳng chờ mời, đại bi thương xót làm lợi ích cho các loài hữu tình, là mẹ pháp của thế gian.

Ví như đại địa là chỗ sản sanh bốn thứ báu, đó là: Các báu vô giá, thượng giá, trung giá và hạ giá. Cũng vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp; Các hữu tình gặp rồi thì được bốn báu lớn thù thắng nhứt trong các thứ báu, đó là: Các hữu tình gặp bạn lành nầy rồi thì hoặc được căn lành trời người, hoặc chứng Thanh Văn, chứng Bích Chi Phật và hoặc được thiện căn công đức Vô thượng thừa.

− Bạch đức Thế Tôn! Xuất sanh báu lớn ấy thì gọi là chơn thiệt Nhiếp Thọ Chánh Pháp.

Bạch đức Thế Tôn! Nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp là “Chánh Pháp Vô Dị Biệt”, “Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt” là Nhiếp Thọ Chánh Pháp.[[21]]

• Bạch đức Thế Tôn!  Ba la mật vô dị biệt, nhiếp thọ Ba la mật vô dị biệt là Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Nhiếp Thọ Chánh Pháp là Ba la mật.  Tại sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp, nếu đáng dùng bố thí để thành thục thì dùng bố thí nhẫn đến xả thân mạng tùy thuận ý họ để thành thục họ, cho họ an trụ nơi chánh pháp, đây gọi là Bố thí Ba la mật.

• Nếu đáng dùng giới luật để thành thục thì thủ hộ sáu căn, tịnh thân, ngữ, ý nhẫn đến oai nghi tùy thuận ý họ mà thành thục họ, cho hữu tình ấy an trụ chánh pháp, đây gọi là Giới Ba la mật.

• Nếu người đáng dùng nhẫn nhục để thành thục thì, hoặc có bị người ấy mắng chửi hủy nhục chê bai não loạn, liền dùng lòng không giận hờn và lòng làm lợi ích cùng sức nhẫn ‘tối thượng nhẫn’, đến nhan sắc cũng chẳng đổi khác, tùy thuận ý người ấy để thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Nhẫn Ba la mật.

• Nếu người đáng dùng tinh tấn để thành thục thì, đối với người ấy chẳng sanh lòng giải đãi hạ liệt, mà khởi lòng thích muốn ‘tinh tấn tối thượng’, trong bốn oai nghi tùy thuận ý người ấy mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây là Tinh tấn Ba la mật.

• Nếu người cần dùng tĩnh lự để thành thục thì, dùng tâm không tán loạn thành thục chánh niệm, việc đã làm trọn chẳng quên mất, tùy thuận ý họ mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Tĩnh lự Ba la mật.

• Nếu người đáng dùng trí huệ để thành thục, người ấy vì lợi ích mà hỏi các pháp nghĩa thì, dùng lòng không mỏi chán mà vì họ diễn nói tất cả các luận, tất cả minh xứ, nhẫn đến các thứ công xảo xứ cho được cứu cánh, tùy thuận ý người ấy mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Trí huệ Ba la mật.

− Bạch đức Thế Tôn! Thế nên Ba la mật không dị biệt, Nhiếp Thọ Chánh Pháp không dị biệt, Nhiếp Thọ Chánh Pháp tức là Ba la mật”. [[22]]

− Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con nương sức oai thần biện tài của đức Phật sẽ nói về đại nghĩa.[[23]] Mong đức Thế Tôn hứa khả”.

Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”.

− Thắng Man phu nhơn nói: “Bạch đức Thế Tôn! Nhiếp Thọ Chánh Pháp là Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt. Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt là Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phải Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy.

Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, Nhiếp Thọ Chánh Pháp vì chánh pháp mà xả bỏ thân mạng, tài sản. Do xả bỏ thân thể nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu,[[24]] lìa xa già bịnh, được pháp thân Như Lai chẳng hư hoại, thường hằng không biến đổi, cứu cánh tịch tĩnh chẳng thể nghĩ bàn.

Do xả bỏ sanh mạng, nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu, lìa hẳn sự chết, được vô biên thường trụ, thành tựu các công đức lành, chẳng thể nghĩ bàn, an trụ nơi tất cả Phật pháp thần biến, do xả bỏ tài sản nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu, vượt qua khỏi hữu tình không cùng tận, không tổn giảm quả báo viên mãn, có đủ công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, được các loài hữu tình tôn trọng cúng dường.

− Bạch đức Thế Tôn!  Thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp xả bỏ thân mạng, tài sản được chư Như Lai thọ ký.

− Bạch đức Thế Tôn! Lúc chánh pháp sắp diệt, có hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà Tắt, Ưu bà Di kết bè kết đảng, phát khởi những tranh tụng, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn dùng lòng chẳng siểm khúc, chẳng khi dối, mến thích chánh pháp, Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà vào trong nhóm bạn lành; Người vào trong nhóm bạn lành nầy tất được chư Phật thọ ký.

− Bạch đức Thế Tôn! Con thấy người Nhiếp Thọ Chánh Pháp có sức mạnh lớn như vậy, đức Như Lai dùng làm con mắt, dùng làm cội gốc pháp, dùng làm pháp dẫn đạo, dùng làm pháp thông đạt”.[[25]]

Đức Thế Tôn nghe Thắng Man phu nhơn nói về Nhiếp Thọ Chánh Pháp có đại oai lực thì khen rằng: “Đúng như vậy, đúng như vậy, lành thay! Nầy Thắng Man đúng như lời ngươi nói, Nhiếp Thọ Chánh Pháp có oai lực lớn.

Như đại lực sĩ khẽ chạm, chà bóp ai, thì người ấy đau đớn khổ lắm, còn thêm bệnh nặng. Cũng vậy, chỉ cần một phần nhỏ ‘Nhiếp Thọ Chánh Pháp’, cũng làm cho ma Ba Tuần[[26]] đau đớn sầu não, khóc rên, than thở.

Nầy Thắng Man! Ta thường chẳng thấy một thiện pháp nào làm cho ma Ba Tuần sầu não bằng Nhiếp Thọ Chánh Pháp một ít phần.

Nầy Thắng Man! Ví như Ngưu vương hình sắc đoan chánh, thân lượng đặc biệt, lạ hơn hẳn các loài ngưu khác. Cũng vậy, người tu Đại thừa nếu thành tựu ít phần Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì hơn hẳn tất cả pháp lành của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.

Lại như núi Tu Di cao rộng trang nghiêm xinh đẹp hơn các núi khác, cũng vậy, người mới đến Đại thừa dùng lòng lợi ích chẳng tiếc thân mạng mà Nhiếp Thọ Chánh Pháp, thì có thể vượt hơn tất cả thiện căn của người ở lâu nơi Đại thừa mà tiếc thân mạng.

Nầy Thắng Man!  Thế nên phải dùng Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà khai hóa tất cả hữu tình. Nhiếp Thọ Chánh Pháp được phước lợi lớn và đại quả báo.

Nầy Thắng Man!  Trong vô số a tăng kỳ kiếp, Ta ca ngợi Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy, được công đức vô lượng vô biên. Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì thành tựu vô lượng công đức như vậy.”

Đức Phật bảo Thắng Man phu nhơn: “Nay ngươi lại nên diễn tả Nhiếp Thọ Chánh Pháp đã được Ta nói mà tất cả chư Phật đồng ưa thích”.

− Thắng Man phu nhơn bạch rằng: “Lành thay, bạch đức Thế Tôn!  Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì gọi là Đại Thừa.  Tại sao? Vì Đại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên giác thế gian và xuất thế gian. [[27]]

Như ao A Nậu Đạt phát xuất tám sông lớn. Cũng vậy, Đại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác.

Lại như tất cả cây cỏ lùm rừng đều nương đại địa mà được sanh trưởng. Cũng vậy, tất cả pháp lành của Thanh Văn, Duyên Giác đều nương Đại thừa mà được sanh trưởng. Vì thế nên an trụ Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa, tức là trụ và nhiếp bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác thế gian và xuất thế gian.

Như đức Phật Thế Tôn đã nói sáu xứ, đó là: Chánh pháp trụ; Chánh pháp diệt; Biệt giải thoát; Tỳ nại gia; Chánh xuất gia; Thọ cụ túc.[[28]]

Vì Đại thừa mà đức Phật nói sáu xứ ấy. Tại sao? Vì chánh pháp trụ là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa trụ thì chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa diệt thì chánh pháp diệt.[[29]]  Biệt giải thoát và Tỳ Nại gia, hai pháp nầy tên khác mà nghĩa một. Tỳ nại gia là Đại thừa; Tại sao? vì Phật mà xuất gia, mà thọ cụ túc, thế nên khối giới Đại thừa là Tỳ nại gia, là chánh xuất gia, là thọ cụ túc.

Bạch Thế Tôn! A La Hán không có xuất gia không thọ cụ túc. Tại sao? Vì A La Hán chẳng vì Như Lai mà xuất gia thọ cụ túc, A La Hán có ý tưởng bố úy mà quy y Như Lai; Tại sao? Vì đối với tất cả hành, A La Hán có tưởng bố úy, coi như người cầm kiếm muốn đến hại mình, do vậy nên A La Hán chẳng chứng được giải thoát an lạc cứu cánh. [[30]]

Bạch đức Thế Tôn! Quy y nơi chẳng cầu quy y, như các chúng sanh không chỗ quy y, chúng nó sợ hãi nên tìm nơi quy y để được an ổn. Cũng vậy, vì có bố úy mà A La Hán quy y nơi Như Lai. [[31]]

Vì thế nên hàng A La Hán, Bích Chi Phật còn có sanh pháp,[[32]] chưa lập phạm hạnh, chỗ làm chưa xong, sẽ còn có chỗ dứt diệt vì chưa cứu cánh vậy.  Họ còn cách xa Niết bàn. Tại sao? Vì chỉ có Như Lai Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác chứng được Niết Bàn, thành tựu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn, chỗ đáng dứt đã dứt hết, cứu cánh thanh tịnh, được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, vượt quá cảnh giới của Nhị thừa và Bồ Tát (Quyền thừa).

Còn hàng A La Hán thì chẳng phải như vậy. “Nói rằng A La Hán được Niết bàn đó, chỉ là phương tiện của Phật thôi. Thế nên, A La Hán cách Niết bàn rất xa”.

Đức Thế Tôn nói A La Hán và Bích Chi Phật quán sát giải thoát bốn trí cứu cánh được rồi; Song, đó đều là lời tùy tha ý và thuyết bất liễu nghĩa của Như Lai.[[33]]

Tại sao vậy? Có hai thứ sanh tử: Một là “Phần đoạn sanh tử”, hai là “Bất tư nghị biến dịch sanh tử”. Phần đoạn sanh tử là hữu tình tương tục, biến dịch sanh tử là A La Hán và Bích Chi Phật cùng bực Tự Tại Bồ Tát được ý sanh thân nhẫn đến Bồ Đề.[[34]]

Trong hai thứ tử ấy, phần đoạn tử nói về A La Hán và Bích Chi Phật là y nơi ngã sanh đã hết. Vì đã chứng được quả Hữu Dư Y, nên tạm gọi là phạm hạnh đã lập. Vì tất cả ngu phu [[35]] chẳng làm được, bảy hàng học nhơn chưa làm xong.[[36]] Nhị thừa tương tục phiền não đã dứt rốt ráo, nên mới nói việc làm đã xong.

− Bạch đức Thế Tôn! Nói rằng sanh chẳng thọ lấy thân sau, người trí bảo là Nhị thừa chẳng dứt được tất cả phiền não, trí họ chẳng biết rõ tất cả thọ sanh. Tại sao? Vì Nhị thừa còn thừa phiền não, chẳng dứt hết nên chẳng biết rõ được tất cả thọ sanh vậy.

Phiền não có hai loại, đó là: ‘Trụ địa phiền não’ và ‘Khởi phiền não.

Trụ địa phiền não có bốn thứ,[[37]] đó là:

− Kiến Nhứt Thiết Xứ trụ địa phiền não; 

− Dục Ái trụ địa phiền não; 

− Sắc Ái trụ địa phiền não[[38]] và 

− Vô Minh Ái trụ địa phiền não.

Bạch đức Thế Tôn! Bốn thứ trụ địa ấy hay sanh tất cả biến khởi phiền não. Khởi phiền não ấy, niệm niệm cùng tương ưng với tâm.[[39]]

− Bạch đức Thế Tôn! Vô Minh Trụ Địa từ vô thỉ đến nay

chẳng tương ưng với tâm.[[40]]

− Bạch đức Thế Tôn! Sức lực của bốn trụ địa phiền não làm sở y cho biến khởi phiền não, sánh với Vô Minh Trụ Địa thì toán số thí dụ chẳng bằng được.

Đúng vậy, đối với Vô Minh Ái Trụ Địa phiền não thì sức lực của Vô Minh Trụ Địa rất lớn.

Ví như Ma Vương và chúng quyến thuộc sắc lực oai đức hơn hẳn bốn trụ địa, hơn hẳn chư thiên Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, Vô Minh Trụ Địa hơn hẳn bốn trụ địa gấp Hằng sa số lần, nó làm sở y cho phiền não và cũng làm cho ‘bốn thứ phiền não’ còn mãi [[41]].

Trí của Nhị thừa chẳng dứt được Vô Minh Trụ Địa, chỉ có trí của Như Lai là dứt hết được nó.

− Bạch đức Thế Tôn! Đúng vậy, đúng vậy! Sức lực của Vô Minh Trụ Địa rất lớn. Như ‘thủchi [[42]] làm duyên hữu lậu,

đây là nghiệp nhân để sanh ra ba cõi (Dục, Sắc và Vô Sắc). Cũng vậy, Vô Minh Trụ Địa làm duyên vô lậu, đây là nghiệp nhân hay sanh Nhị thừa và Đại Lực Bồ Tát tùy ý sanh thân. Tất cả vô lậu nghiệp đều lấy Vô Minh Trụ Địa làm chỗ sở y, dầu là ‘sở duyên’ mà cũng hay làm ‘duyên’. Thế nên, tùy ý sanh thân và Vô Lậu nghiệp đều dùng Vô Minh Trụ Địa làm duyên (để tịch diệt) đồng như Vô Minh Ái trụ địa phiền não.[[43]]

− Bạch đức Thế Tôn! Vô Minh Ái trụ địa chẳng đồng nghiệp với Vô Minh Trụ Địa.[[44]] Vô Minh Trụ Địa khác bốn trụ địa. Khác bốn trụ địa đây chỉ có Phật dứt được hết.

Tại sao? Vì Nhị thừa dứt bốn trụ địa mà đối với lậu tận lực chẳng được tự tại, chẳng hiện chứng được.[[45]] Thế nên Nhị thừa nhẫn đến chư Bồ Tát tối hậu thân, vì còn Vô Minh Trụ Địa che lấp, nên ở nơi các pháp của chư Phật, chẳng biết, chẳng thấy. Nên chỗ đáng dứt chẳng dứt, chỗ đáng hết chẳng hết. Vì ở nơi các pháp ấy chẳng dứt chẳng hết, nên chỉ được Hữu Dư Giải thoát (Hữu Dư Trí), mà chẳng phải Nhứt Thiết Giải Thoát (Nhứt Thiết Trí), được Hữu Dưu Thanh Tịnh mà chẳng phải Nhứt Thiết

Thanh Tịnh, được Hữu Dư Công Đức mà chẳng phải Nhứt Thiết Công Đức.[[46]]

− Bạch đức Thế Tôn! Vì được Hữu Dư nên ở nơi Thánh đế, các bực ấy biết khổ Hữu Dư, dứt Tập Hữu Dư, chứng Diệt Hữu Dư và tu Đạo Hữu Dư.

Nếu còn biết Hữu Dư Khổ dứt, Hữu Dư Tập chứng, Hữu Dư Diệt diệt và tu Hữu Dư Đạo, thành tựu này chỉ có được chút phần diệt độ chúng (4 đế Hữu Dư), chút phần Niết Bàn giới.[[47]]

Nếu biết tất cả Khổ dứt, tất cả Tập chứng, tất cả Diệt diệttu tất cả Đạo, bực nầy ở nơi thế gian vô thường bại hoại, chứng được Niết Bàn Thường Tịch Thanh Tịnh; Bực nầy ở nơi thế gian lấy chỗ không giúp, không nương làm chỗ giúp, chỗ nương.[[48]]

Tại sao? Vì người ở nơi các pháp mà thấy có cao thấp thì chẳng chứng được Niết Bàn. Người trí bình đẳng, giải thoát bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng mới chứng được Niết bàn.

Vì thế, nên Niết bàn gọi là Bình Đẳng Nhứt Vị, đó là

vị giải thoát vậy.[[49]]

− Bạch đức Thế Tôn! Nếu Vô Minh Trụ Địa chẳng dứt chẳng hết, thì chẳng chứng được Niết bàn Nhứt Vị Bình Đẳng.[[50]] Tại sao?

Vì Vô Minh Trụ Địa chẳng dứt chẳng hết thì, những pháp sai lầm đáng dứt chẳng dứt, đáng hết chẳng hết nhiều hơn Hằng sa. Vì còn hơn Hằng sa những pháp sai lầm đáng dứt chẳng dứt, đáng hết chẳng hết nên quá vô lượng các pháp công đức (của Phật) trọn chẳng chứng được. Thế nên, Vô Minh Trụ Địa là nơi sanh ra các tùy phiền não, tất cả pháp lỗi lầm từ Vô Minh Trụ Địa đều đáng dứt đáng hết. Nếu không, người tu hành sẽ bị phiền não chướng tâm, phiền não chướng chỉ, phiền não chướng quán, phiền não chướng tĩnh lự, nhẫn đến chướng tam ma đề, không thể đắc Gia hạnh trí nhẫn đến chứng Thập lực, Tứ Vô Sở Úy.[[51]]

Các khởi phiền não mà “Kim Cang Trí Đẳng Chánh Giác” của Như Lai hay dứt diệt nhiều hơn cả cát sông Hằng, tất cả đều nương nơi Vô Minh Trụ Địa, vì Vô Minh Trụ Địa làm nhơn duyên vậy.

− Bạch đức Thế Tôn!  Khởi phiền não đây niệm niệm cùng tương ưng với tâm. Từ vô thỉ đến nay Vô Minh Trụ Địa chẳng tương ưng với tâm.

− Bạch đức Thế Tôn! Ví như tất cả giống của cây cỏ đều nương nơi đại địa mà sanh trưởng, nếu đại địa hoại hư thì chúng nó cũng hoại hư.

Cũng vậy, hơn số Hằng sa các pháp đáng được dứt diệt bởi “Kim Cang Trí Đẳng Chánh Giác” của Như Lai đều nương nơi Vô Minh Trụ Địa mà sanh trưởng, nếu Vô Minh Trụ Địa dứt hết thì các pháp phiền não ấy cũng dứt hết. Vì hơn số Hằng sa các pháp đáng dứt diệt cùng tất cả phiền não và khởi phiền não đã dứt diệt hết, nên chứng được quá số Hằng sa các pháp chư Phật bất khả tư nghị, ở nơi các pháp chứng được vô  ngại thần thông, được các tri kiến, rời lìa tất cả sai lầm, được tất cả công đức, làm Đại Pháp Vương tự tại nơi tất cả pháp, chứng bực Nhứt Thiết Pháp Tự Tại, Chánh Sư Tử Hống rằng: Nay Sanh đã hết; Phạm hạnh đã lập; Việc làm đã xong; Chẳng còn thọ thân sau.

Do đó, đức Thế Tôn dùng Sư Tử Hống, y nơi liễu nghĩa, một mực tuyên thuyết như vậy.[[52]]

− Bạch đức Thế Tôn! Trí chẳng thọ thân sau ấy có hai thứ:

Một là, chư Phật Như Lai dùng sức điều ngự, xô dẹp bốn ma,[[53]] siêu việt các thế gian, được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, chứng pháp thân thanh tịnh chẳng nghĩ bàn, nơi bực sở tri được pháp Tự tại Tối thắng Vô thượng, không còn phải làm, chẳng thấy còn có bực nào phải được chứng nữa, đầy đủ mười trí lực lên bực tối thắng vô úy, nơi tất cả pháp Quan Sát Vô Ngại, Chánh Sư Tử Hống, chẳng thọ thân sau.

Hai là, A La Hán và Bích Chi Phật được khỏi vô lượng sanh tử bố úy, tho vui giải thoát, tự nghĩ rằng: Nay ta rời lìa sanh tử bố úy chẳng thọ sự khổ.

− Bạch đức Thế Tôn! Hàng Nhị thừa quan sát như vậy rồi chẳng thọ thân sau, họ chẳng chứng được Niết bàn Tịch diệt Đệ nhứt. Vì họ ở nơi các bực chưa chứng, chẳng gặp được pháp tối thượng để có thể hiểu biết rằng, nay ta đã chứng được bực Hữu Dư Y, quyết định (vị lai) sẽ chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác.

Tại sao? Vì Hàng Nhị thừa đều phải nhập vào Đại thừa, mà Đại thừa là Phật thừa, thế nên Tam thừa tức là Nhứt thừa. Người chứng Nhứt thừa thì được Vô thượng Bồ đề. Vô thượng Bồ đề tức là Niết bàn.[[54]]

Nói Niết bàn đây tức là Pháp thân thanh tịnh của Như Lai. Người chứng Pháp thân tức là Nhứt thừa không có Như Lai khác, không có Pháp thân khác.[[55]]

Nói Như Lai tức là Pháp thân. Người chứng Pháp thân, cứu cánh là cứu cánh Nhứt thừa. Người cứu cánh Nhứt thừa tức là rời lìa tương tục. [[56]] Tại sao?

− Bạch đức Thế Tôn! Vì Như Lai thường trụ không có hạn lượng bằng với hậu tế! Như Lai hay dùng đại bi vô hạn, thệ nguyện vô hạn đem lợi ích lại cho các thế gian. Người nói như trên đây thì gọi là lời nói phải.

Nếu lại nói rằng Như Lai là thường, là pháp vô tận, chỗ y tựa cứu cánh của tất cả thế gian, thì cũng gọi là lời nói phải.

Vì thế nên Như Lai ở nơi thế gian, làm chỗ quy y vô tận, chỗ quy y thường trụ, chỗ quy y cứu cánh mãi đến hậu tế.[[57]]

Nói rằng pháp Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác ấy là đạo Nhứt thừa. Tăng đó là chúng Tam thừa,[[58]] hai chỗ quy y nầy chẳng phải là cứu cánh quy y mà tạm gọi là thiểu phần quy y.

Tại sao? Vì nói đạo Nhứt thừa, chứng pháp thân cứu cánh rồi sau đó không còn nói đạo Nhứt thừa. Chúng Tam thừa vì có khủng bố nên quy y Như Lai cầu xuất gia tu học, vì có sở tác, vì hướng đến Vô thượng Bồ đề. Thế nên Pháp và Tăng chẳng phải chỗ quy y cứu cánh, là chỗ quy y hữu hạn.

Nếu các hữu tình được Như Lai điều phục quy y nơi Như Lai; Được pháp thấm nhuần do lòng tin ưa mà quy y nơi Pháp và Tỳ Kheo Tăng. Hai sự quy y nầy do pháp thấm nhuần mà tín nhập quy y.

Như Lai ấy chẳng phải pháp thấm nhuần tín nhập quy y. Nói Như Lai ấy là chơn thiệt quy y.

Hai sự quy y kia cứ nơi nghĩa chơn thiệt thì gọi là cứu cánh quy y Như Lai.  Tại sao? Vì Như Lai chẳng khác với hai sự quy y ấy, thế nên Như Lai tức là tam quy y.[[59]]

Tại sao? Vì nói đạo Nhứt thừa, Như Lai Tối thắng, đủ Tứ Sở Úy, Chánh Sư Tử Hống.

Nếu chư Như Lai tùy theo sở dục của người mà dùng phương tiện nói pháp Nhị thừa tức là Đại thừa. Bởi đệ nhứt nghĩa không có Nhị thừa. Nhị thừa ấy đồng vào Nhứt thừa. Nhứt thừa ấy tức là Thắng nghĩa thừa.[[60]]

− Bạch đức Thế Tôn! Hàng Thanh Văn và Duyên Giác lúc mới đầu chứng Thánh đế, chẳng phải dùng Nhứt trí mà dứt các trụ địa phiền não, cũng chẳng phải dùng Nhứt trí chứng các công đức như Tứ biến tri v.v… cũng chẳng phải dùng pháp hay khéo biết rõ nghĩa bốn pháp này.[[61]]

− Bạch đức Thế Tôn! Nơi trí xuất thế không có bốn trí tuần tự đến, tuần tự duyên. Trí xuất thế không có pháp lần lượt đến, như Kim cang dụ. [[62]]

 Bạch đức Thế Tôn! Hàng Nhị thừa dùng các thứ trí Thánh

đế để dứt các trụ địa, họ (chẳng) thấy có trí xuất thế đệ nhứt nghĩa.[[63]]

Chỉ có đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác dùng trí bất tư nghị không tánh, phá được vỏ của các phiền não.[[64]] Trí phá vỏ phiền não cứu cánh ấy gọi là trí xuất thế đệ nhứt nghĩa, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác Trí Thánh. Đây là Trí Đế Sơ Khởi, chẳng phải trí cứu cánh, mà chỉ là trí hướng đến Vô Thượng Bồ Đề.

− Bạch đức Thế Tôn! Chơn Thánh đế nghĩa ấy thì chẳng phải thuộc về Nhị thừa. Tại sao? Vì hàng Thanh Văn và Duyên Giác chỉ thành tựu được chút phần công đức mà gọi là Thánh.

Nói rằng Thánh đế ấy, chẳng phải là đế của hàng Thanh Văn, Duyên Giác và công đức của họ.

Mà Thánh đế nầy, chỉ có đức Như Lai biết rõ, rồi đem diễn nói, khai thị cho thế gian chúng sanh bị nhốt trong vỏ vô minh, do đây mà gọi là Thánh đế.[[65]]

− Bạch đức Thế Tôn! Thánh đế nầy rất sâu, rất vi diệu khó thấy khó rõ, chẳng thể phân biệt, chẳng phải cảnh giới suy lường, tất cả thế gian chẳng tin hiểu được, chỉ có đức Như Lai là biết rõ. Tại sao? Vì Thánh đế nầy nói về Như Lai tạng thậm thâm, mà Như Lai tạng là cảnh giới Phật, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.

Cứ nơi Như Lai tạng mà nói Thánh đế nghĩa, Như Lai tạng nầy rất sâu vi diệu, Thánh đế được nói ra ấy cũng rất sâu vi diệu. Khó thấy, khó rõ, chẳng thể phân biệt, chẳng phải cảnh tư lường, tất cả thế gian khó tin hiểu, chỉ có đức Như Lai biết rõ.

Nếu ở nơi Như Lai tạng bị phiền trược bởi vô lượng phiền não mà chẳng nghi hoặc, thì đối với Như Lai pháp thân tạng ra khỏi tất cả phiền não cũng không nghi hoặc.

− Bạch đức Thế Tôn! Nếu có ai ở trong tạng Như Lai nầy và ở nơi Phật pháp thân cảnh giới bí mật bất tư nghị của Phật mà tâm được cứu cánh, thì đối với hai nghĩa Thánh đế đã nói kia, hay tin hay rõ, hay sanh thắng giải.[[66]]

Những gì là hai nghĩa Thánh đế? Đó là hữu tác Thánh đế và vô tác Thánh đế.

Hữu tác Thánh đế là nghĩa tứ Thánh đế chẳng viên mãn. Tại sao? Vì y hộ nơi tha[[67]] mà chẳng biết được tất cả khổ, chẳng dứt tất cả tập, chẳng chứng tất cả diệt, chẳng tu tất cả đạo. Do đó nên chẳng biết Hữu vi và Niết bàn.

Vô tác Thánh đế là nói nghĩa tứ Thánh đế viên mãn. Tại sao? Vì tự y hộ[[68]] nên biết tất cả khổ, dứt tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo.

Tám nghĩa Thánh đế đã nói như vậy,[[69]] đức Như Lai chỉ đem tứ Thánh đế ra nói. Nói nghĩa vô tác, tu Thánh Đế nầy, chỉ có đức Như Lai là hoàn thành cứu cánh, chẳng phải sức lực của A La Hán và Bích Chi Phật đến được. Tại sao? Vì chẳng phải các pháp thắng liệt hạ, trung, thượng mà có thể chứng được Niết bàn.

Thế nào là đức Như Lai đối với vô tác Thánh đế được hoàn thành cứu cánh?  Chư Như Lai biết khắp tất cả khổ, dứt hẳn khổ tập bị nhiếp bởi tất cả phiền não và khởi phiền não, chứng được khổ diệt, sở hữu của tất cả khối ý sanh thân và tu tất cả đạo khổ diệt.

− Bạch đức Thế Tôn! Chẳng phải hoại mất pháp mà gọi là khổ diệt. Nói khổ diệt là: vô thỉ, vô tác, vô khởi, vô tận, thường trụ, bất động, bổn tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ phiền não.[[70]]

− Bạch đức Thế Tôn! Chư Phật Như Lai thành tựu quá số Hằng sa pháp bất tư nghị, đủ trí giải thoát gọi là Pháp thân. Pháp thân nầy chẳng rời lìa phiền não thì gọi là Như Lai tạng. Như Lai tạng đây là trí Như Lai không tánh, tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác chưa hề thấy, chưa hề được; Chỉ có Phật thấy biết rõ và chứng được.[[71]]

− Bạch đức Thế Tôn! Trí không tánh Như Lai tạng nầy lại có hai thứ, đó là: Không và Bất không Như Lai tạng.

Không Như Lai tạng: Là Như Lai tạng rời lìa nơi trí, chẳng giải thoát tất cả phiền não. 

Bất không Như Lai tạng: Là Như Lai tạng có đủ quá số Hằng sa pháp bất tư nghị trí Phật giải thoát.[[72]]

− Bạch đức Thế Tôn! Hai thứ không trí nầy, các Đại Thanh Văn do tin mà được vào.[[73]] Trí không tánh của tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác, đối với cảnh ‘tứ điên đảo’ luôn phan duyên mà chuyển hiện.[[74]] Do đó nên đối với tất cả khổ diệt ấy, tất cả hàng Nhị thừa chưa hề thấy, chưa hề chứng, chỉ có Phật hiện chứng, đoạn hoại các phiền não, tu tất cả đạo khổ diệt.[[75]]

− Bạch đức Thế Tôn! Trong bốn Thánh đế, ba vô thường, một thường trụ. Vì ba đế vào trong tướng Hữu vi, tướng Hữu vi là vô thường. Nói rằng vô thường ấy là pháp phá hoại, pháp phá hoại thì chẳng phải đế, chẳng phải thường, chẳng phải chỗ quy y. Do đệ nhứt nghĩa nên ba đế ấy chẳng phải đế, chẳng phải thường, chẳng phải chỗ quy y.

− Bạch đức Thế Tôn! Một đế khổ diệt rời lìa tướng Hữu vi, lìa tướng Hữu vi thì tánh thường trụ, tánh thường trụ chẳng phải pháp phá hoại, chẳng phải pháp phá hoại thì là đế, là thường, là chỗ quy y. Do thắng nghĩa nên Khổ diệt đế là đế, là thường, là chỗ quy y.[[76]]

Khổ diệt đế [[77]] nầy là bất tư nghị, quá cảnh giới tâm thức

của hữu tình, cũng chẳng phải vị trí của hàng Thanh Văn và Duyên Giác kịp được.

Ví như người sanh manh, chẳng thấy được các màu sắc, trẻ sơ sanh bảy ngày chẳng thấy mặt trời. Cũng vậy; Khổ diệt đế chẳng phải cảnh duyên của tâm thức hàng phàm phu, mà cũng chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác.[[78]]

Tâm thức hàng phàm phu là hai biên kiến. Trí của hàng Thanh Văn Duyên Giác thì gọi là tịnh trí. [[79]]

Nói rằng biên kiến đó là đối với ngũ thủ uẩn chấp nắm làm ngã rồi sanh ra phân biệt sai khác, đó là hai thứ kiến chấp: Thường kiến và Đoạn kiến.

− Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có ai thấy sanh tử vô thường, Niết bàn là thường, thì chẳng phải kiến chấp đoạn thường mà gọi là chánh kiến.

Tại sao? Vì kẻ kế đạt ấy, thấy các thân căn và cảm thọ tự hiện hành diệt hoại với thân tương tục, họ chẳng biết được, là kẻ mù không mắt trí huệ nên phát khởi Đoạn kiến, với tâm tương tục sát na diệt hoại, họ ngu tối chẳng biết cảnh giới ý thức nên phát khởi Thường kiến.[[80]]

Nhưng những nghĩa ấy quá các phân biệt và quá kiến thức hạ liệt, do hàng ngu phu vọng sanh ý tưởng dị biệt rồi điên đảo chấp trước cho là Đoạn là Thường.

− Bạch đức Thế Tôn! Hàng hữu tình điên đảo,[[81]] đối ngũ thủ uẩn vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh.

Hàng Thanh Văn và Duyên Giác có tịnh trí, đối với cảnh giới và pháp thân của Phật chưa hề thấy được hoặc vì tin Như Lai nên đối với Như Lai sanh ra ý tưởng là thường, là lạc, là ngã, là tịnh, đây chẳng phải kiến chấp điên đảo mà là chánh kiến.[[82]]

Tại sao? Vì Như Lai pháp thânThường Ba la mật, là Lạc Ba la mật, là Ngã Ba la mật, là Tịnh Ba la mật vậy.

Nếu các hữu tình có ý tưởng như trên đây thì gọi là chơn Phật tử, từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp

hóa sanh được Phật pháp phần.[[83]] 

− Bạch đức Thế Tôn! Nói rằng tịnh trí ấy là Trí Ba la mật của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Tịnh trí nầy đối với Khổ diệt đế còn chẳng phải cảnh giới, huống Khổ diệt đế là sở hành của bốn trí nhập lưu.[[84]]

Tại sao? Vì hàng Tam thừa sơ nghiệp, người chẳng ngu pháp, có thể ở nơi nghĩa ấy sẽ chứng, sẽ tỏ.

− Bạch đức Thế Tôn! Do nghĩa gì mà nói bốn nhập lưu?

− Bạch đức Thế Tôn! Bốn nhập lưu nầy là pháp thế gian. Chỉ có một nhập lưu đối với các nhập lưu là hơn hết, là trên hết, bởi Đệ nhứt nghĩa là nhập lưu là Khổ diệt đế.

− Bạch đức Thế Tôn! Sanh tử ấy y tựa Như Lai tạng. Do Như Lai tạng nên nói rằng tiền tế chẳng biết được.

− Bạch đức Thế Tôn! Do có Như Lai tạng nên có sanh tử, đây là lời nói phải.[[85]]

− Bạch đức Thế Tôn!  Sanh tử ấy, các thọ căn diệt vô gián tương tục thọ căn kế khởi, gọi là sanh tử.

− Bạch đức Thế Tôn! Hai pháp sanh tử là Như Lai tạng, nơi pháp thế tục gọi đó là sanh tử.

− Bạch đức Thế Tôn!  Nói rằng tử là nói thọ căn diệt và sanh là các thọ căn khởi. Như Lai tạng thì: Chẳng sanh, chẳng tử, chẳng thăng, chẳng trụy, rời lìa tướng Hữu vi.[[86]]

− Bạch đức Thế Tôn! Như Lai tạng ấy thường hằng chẳng hoại, nên Như Lai tạngy, là trì, là kiến lập cho tạng trí chẳng lìa giải thoát, và cũng là y, trì, kiến lập cho các pháp Hữu vi rời lìa, chẳng giải thoát.[[87]]

− Bạch đức Thế Tôn! Nếu không có Như Lai tạng thì không có chán khổ vui, cầu Niết bàn.  Tại sao? Vì ở nơi sáu thức này và cảnh sở tri, bảy pháp như vậy sát na không dừng, chẳng nhận chịu các khổ, chẳng kham nhàm lìa, nguyện cầu Niết bàn.[[88]] Như Lai tạng ấy không có tiền tế, không sanh không diệt, pháp nhĩ nhận chịu các khổ, nó là nhàm khổ, nguyện cầu Niết bàn.

− Bạch đức Thế Tôn!  Như Lai tạng ấy chẳng phải là ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Như Lai tạng ấy chẳng phải là cảnh sở hành của các hữu tình thân kiến, điên đảo và không kiến.[[89]]

− Bạch đức Thế Tôn!  Như Lai tạng ấy là tạng pháp giới, tạng pháp thân, tạng xuất thế gian, tạng tánh thanh tịnh, là bổn tánh thanh tịnh.[[90]]

Như chỗ con hiểu thì, Như Lai tạng ấy dầu bị khách trần phiền não làm ô nhiễm, vẫn còn là cảnh giới Như Lai bất khả tư nghị.

Tại sao? Vì niệm niệm tâm bất thiện, tâm thiện cùng khách trần phiền não chẳng ô nhiễm được Như Lai tạng.[[91]]

Tại sao? Vì phiền não chẳng chạm đến tâm, mà tâm cũng chẳng chạm đến phiền não. Pháp chẳng chạm xúc, làm sao có thể nhiễm được tâm.[[92]]

− Bạch đức Thế Tôn! Vì có phiền não nên có tâm tùy nhiễm. Tùy theo phiền não, nhiễm ấy khó hiểu, khó rõ. Chỉ có đức Phật Thế Tôn là mắt, là trí, là cội rễ pháp, là tôn thượng, là Đạo sư, là chỗ y tựa của chánh pháp mới như thiệt thấy biết mà thôi”.

Bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi Thắng Man phu nhơn: “Lành thay, lành thay! Đúng như lời ngươi vừa nói. Tuy tâm theo phiền nãotự tánh vẫn thanh tịnh, [[93]] khó rõ biết được.

Nầy Thắng Man! Còn có hai thứ pháp khó rõ biết được: đó là tánh thanh tịnh của tự tâm khó rõ biết được và tâm ấy bị phiền não ô nhiễm cũng khó rõ biết được. Hai pháp nầy, ngươi và Bồ Tát thành tựu đại pháp[[94]] mới có thể nghe hiểu nhận lãnh. Các hàng Thanh Văn do tín tâm mà tin hiểu.

Nầy Thắng Man! Nếu các đệ tử của ta, người có tăng thượng tín tâm, tùy thuận pháp trí,[[95]] ở nơi pháp nầy mà được cứu cánh.

Thuận pháp trí[[96]] là: Quán sát tâm thức và cảnh; Quán sát nghiệp báo; Quán sát pháp nhãn của A La Hán; Quán sát tâm tự tại ưa thích thiền duyệt; Quán sát thánh thần thông biến của Nhị thừa. Do thành tựu năm pháp quán sát thiện xảo nầy, nên hiện tại và vị lai các hàng Thanh Văn đệ tử, do nơi tăng thượng tín tâm, tùy thuận pháp trí, khéo hiễu rõ được tánh thanh tịnh tự tâm bị phiền não ô nhiễm mà được cứu cánh.

Nầy Thắng Man! Cứu cánh nầy là nhơn của Đại thừa, nay ngươi nên biết, ngươi tin Như Lai thì đối với pháp thậm thâm chẳng sanh lòng phỉ báng”.

− Thắng Man phu nhơn bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!  Còn có các nghĩa hay đem lại nhiều lợi ích, con sẽ thừa sức oai thần của đức Phật diễn nói các sự ấy”.

Đức Phật bảo: “Lành thay! Nay cho phép ngươi nói”.

− Thắng Man phu nhơn nói: “Có ba hạng thiện nam tử, thiện nữ nhơn đối pháp thậm thâm rời lìa sự tự phá hại, sanh nhiều công đức vào đạo Đại thừa:

Một là: Người thành tựu thậm thâm pháp trí;[[97]]

Hai là: Người tùy thuận pháp trí;[[98]]

Ba : Người đối với pháp thậm thâm nầy chẳng hiểu rõ được mà kính tôn đức Như Lai, chỉ có đức Phật biết được, chẳng phải cảnh giới của tôi.[[99]]

Trừ ba hạng người nầy, các hữu tình khác đối với pháp thậm thâm, tùy theo chỗ mình nắm lấy mà chấp trước vọng thuyết, chống trái chánh pháp, huân tập chủng tử hủ bại các ngoại đạo. Dầu họ có ở phương khác cũng phải đến đó trừ diệt những kẻ hủ bại ấy. Tất cả nhơn thiên cũng phải cùng nhau xô dẹp họ”.[[100]]

Nói lời ấy xong, Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc đảnh lễ chân Phật.

Đức Phật khen rằng: “Lành thay! Thắng Man ở nơi pháp thậm thâm, phương tiện thủ hộ hàng phục oán địch, khéo có thể thông đạt.

Ngươi đã gần gũi muôn ngàn cu chi chư Phật Như Lai, nên có thể nói được nghĩa ấy”.

Bấy giờ đức Thế Tôn phóng quang minh thù thắng chiếu khắp đại chúng, hiện thân lên hư không cao bảy cây đa la, dùng sức thần thông chân bước trên hư không trở về thành Xá Vệ.

Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc chiêm ngưỡng đức Như Lai mắt không tạm rời. Quá tầm mắt rồi, tất cả vui mừng hớn hở cùng nhau thay phiên ca ngợi công đức của Như Lai và đồng nhất tâm niệm Phật,[[101]] trở về thành Vô Đấu khuyên vua Hữu Xưng kiến lập Đại thừa. Nữ nhơn trong thành từ bảy tuổi trở lên, Thắng Man phu nhơn đem Đại thừa giáo hóa. Vua Hữu Xưng cũng đem Đại thừa giáo hóa các nam tử từ bảy tuổi trở lên. Nhơn dân trong nước không ai là chẳng học Đại thừa pháp.

Bấy giờ đức Thế Tôn vào rừng Thệ Đa gọi Tôn giả A Nan và nghĩ đến Thiên Đế. Ứng theo tâm nghĩ của Phật, Thiên Đế Thích cùng quyến thuộc chư Thiên đến chỗ đức Phật.

Đức Thế Tôn bảo Thiên Đế Thích: Nầy Kiều Thi Ca! Ngài nên thọ trì kinh nầy rồi diễn thuyết khai thị cho chư Thiên cõi Đao Lợi để họ được an lạc”.

Đức Thế Tôn lại bảo Tôn giả A Nan: “Ông cũng thọ trì vì hàng tứ chúng mà phân biệt diễn thuyết’’.

Thiên Đế Thích bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kinh nầy sẽ đặt tên là gì và phụng trì thế nào?”.

Đức Phật dạy: “Nầy Kiều Thi Ca![[102]] Kinh nầy thành tựu vô biên công đức, lực của Thanh Văn và Duyên Giác không đến được, huống là các hữu tình khác. Nên biết rằng kinh nầy là khối đại công đức thậm thâm vi diệu. Nay sẽ vì Ngài mà nói lược tên kinh. Lắng nghe! Lắng nghe! khéo suy nghĩ nhớ lấy!”.

Thiên Đế Thích và Tôn giả A Nan đồng bạch rằng: “Lành thay đức Thế Tôn! Kính vâng thọ giáo”.

Đức Phật dạy:

− Kinh này “tán thán Như Lai chơn thiệt công đức”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “mười điều hoằng thệ bất tư nghị”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy dùng “Một đại nguyện nhiếp tất cả nguyện”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói: “Nhiếp Thọ Chánh Pháp bất tư nghị”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “Nhập Nhứt thừa”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “vô biên tế”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “Như Lai tạng”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “Phật pháp thân”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “không tánh nghĩa che ẩn chơn thiệt”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói nghĩa “một Thánh Đế”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “một sở y thường trụ bất động tịch tĩnh”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “điên đảo chơn thiệt”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “tự tánh thanh tịnh bổn tâm bị phiền não che ẩn”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “chơn Phật tử”, phải thọ trì như vậy.

− Kinh nầy nói “Thắng Man phu nhơn Chánh Sư Tử Hống”, phải thọ trì như vậy.

Lại nầy Kiều Thi Ca! Chỗ nói của kinh nầy dứt tất cả nghi hoặc, quyết định liễu nghĩa nhập vào đạo Nhứt thừa.

Nầy Kiều Thi Ca! Nay đem kinh Thắng Man phu nhơn Sư Tử Hống đã được nói đây, giao phó cho Ngài mãi đến thời gian chánh pháp còn. Ngài nên đem diễn thuyết khai thị khắp mười phương”.

Thiên Đế Thích bạch rằng: “Lành thay đức Thế Tôn! Kính vâng thọ giáo”.

Bấy giờ Thiên Đế Thích, Tôn giả A Nan và các chúng trong đại hội, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà ..v.v… nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.

     PHÁP HỘI THẮNG MAN PHU NHƠN  
   THỨ BỐN MƯƠI TÁM 

─ HẾT ─


[[1]] Chơn tướng:  Không phải các tướng hư vọng do sáu căn tiếp xúc hoặc ý phân biệt, mà nó là cảnh giới “tự tâm hiện” đã lìa phân biệt, chấp trước của Phàm phu, Ngoại đạo và Nhị thừa … Tướng này phi sắc, phi vô sắc, do công đức của “Thánh trí tự chứng” huân thành!!!

[[2]] Cảnh Giới này thường xuất hiện trong các kinh Đại thừa… Giống như Vua La Bà Na thấy Phật ở thành Lăng Già… Như nàng Thánh Nữ nghe lời Phật dạy nơi Hư Không (Kinh Địa Tạng)!!! … Chỉ những ai đủ công đức mới thấy; Vì đây là Hóa Phật và Hóa Quốc Độ,  cảnh giới đặc thù của “Thánh trí tự chứng”… Cảnh giới này là công đức lực, làm tiền đề giúp người có thể Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt (giác ngộ hiện đời không do người khác)!!!

[[3]] Hóa thân (32 tướng): Cái đẹp của không sanh, “Sắc không sanh, Bát nhã sanh”!!!

[[4]] Pháp Thân (đồng như Hư Không): Trí Tuệ thường trụ, chỗ Quy Y của Nhất thừa!!!

[[5]] “Pháp vô vong thất, tánh hằng tự xả”!!!

[[6]Nan tư: Bất khả tư nghì.

[[7]] Phạm Âm; Những lời này sẽ giúp Thắng Man bất thối Vô Thượng Bồ Đề!!!

[[8]] Ca ngợi cái khó thấy, khó biết nên mới được thọ ký!!!

[[9]] Vào “Bất tư nghị biến dịch sanh tử”!!!

[[10]] Quá hai vạn A Tăng Tỳ kiếp (làm công hạnh): Để thành tựu viên mãn Hóa thân (32 tướng), thành tựu viên mãn Pháp thân (Vô Thượng Trí)!!!  Như viên ngọc quý được đựng trong hộp gỗ Chiên Đàn!!!

[[11]] Nguyên lý thành lập “Phật Quốc độ”; Chư Phật ba đời không khác!!!

[[12]] Nơi Hư Không mà sanh “Nguyện” mới là “Đại nguyện”. Nơi “không Pháp” mà Nhiếp Thọ gọi là “Nhiếp Thọ Chánh Pháp”!!!

[[13]] ..phát thệ thành thiệt: Hư Không phát với Hư Không!!!

[[14]] Cảnh giới của “tự tâm hiện”!!!

[[15]]  ‘Quốc độ chân thật’ sanh ra từ ‘Nguyện chân thật’!!!

[[16]Chánh PhápTrí Tuệ không hai

[[17]] Hằng sa (hay Hằng hà sa): Số lượng cát sông Hằng. (thành ngữ Ấn Độ, chỉ số lượng rất nhiều)

[[18]] Nương oai thần của Phật, lời nguyện mới chân thật… Giống như nương Hư Không, tâm nguyện mới không hư dối!!!

[[19]] “Nhiếp Thọ Chánh Pháp”: Nhiếp cái “không Pháp”, nên thành tựu Vô Lượng Phật Pháp… Giống như Hư Không, vì không có vật nên dung nhiếp hết thảy mọi vật!!!

[[20]] Nhiếp Thọ Chánh Pháp Quảng Đại: Nhiếp Thọ Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa (Ngũ thừa); Trong 5 thừa này bao gồm trên tám vạn hành môn… Nhiếp Thọ Chánh Pháp Quảng Đại còn gọi là Nhiếp Thọ Vô Lượng Phương Tiện!!!

[[21]] Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt: Chánh Pháp và Vị ấy không hai; Chánh Pháp là Vị ấy, Vị ấy là Chánh Pháp… Nhiếp Thọ Chánh Pháp thành tựu nghĩa Thường, Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt thành tựu nghĩa Ngã… Giống như nước biển có vị mặn và sóng.  Có 3 thứ Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt:

  − Tánh Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt: Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Từ, Bi, Hỷ, Xả,   Thường, Ngã, Lạc, Tịnh… Thành tựu Phật Tánh!!!

  − Trí Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt:  Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Thập lực; Tứ Vô Ngại Trí; Tứ Vô Sở ÚyThập Bát Bất Cộng… Thành tựu Phật Trí!!!

  − Pháp Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt:  Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Vô Tác Tứ Trí (Vô Tác Khổ Chân Trí; Vô Tác Tập Chân Trí; Vô Tác Diệt Chân Trí và Vô Tác Đạo Chân Trí. Nhị thừa thành tựu “Hữu Tác Tứ Thánh Đế” nên chỉ chứng Hữu Dư Niết Bàn);  Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt 37 đạo Phẩm (Nhị thừa là 37 Phẩm Trợ Đạo; Bồ Tát Quyền thừa là 37 Phẩm Trợ Bồ Đề)  và  Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Thập nhị không duyên (Thiệt tướng của mười hai nhân duyên)… Thành tựu Phật Pháp!!!

• Nhiếp thọ viên mãn Phật Tánh, Phật TríPhật Pháp… Thành tựu “Đại Hải Trí Lực Vô Dị Biệt”!!!

Đại Hải Trí Lực Vô Dị Biệt có 8 công đức: (1) Sâu không tới đáy;  (2)_Đồng một vị mặn;   (3) Thủy triều không quá hạn;   (4) Không chứa tử thi;  (5) Chứa các báu vật;   (6) Chứa các loài thân lớn;  (7) Mưa nhiều không đầy;  (8) Nắng hạn chẳng lưng;… và Vô lượng công đức như thế!!!

[[22]] Sáu Ba La Mật; Mười Ba La Mật cho đến Vô Lượng Ba La Mật đều từ Một Chánh Pháp, đó là “Không pháp” (Không Ba la mật) mà xuất sanh!!!

[[23]] Đại Nghĩa: Nghĩa Đại Thừa Chân Thật của Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Từ nghĩa này, có thể phá hoại các nghĩa hư dối khiến người được Vô Thượng Bồ Đề…  Vì thế Phật mới dạy: “Nầy Thắng Man!  Thế nên phải dùng (đại nghĩa của) Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà khai hóa tất cả hữu tình. Nhiếp Thọ Chánh Pháp được phước lợi lớn và đại quả báo”!!!

[[24]sanh tử tối hậu: Tối hậu thân (tối hậu Trí Tuệ), đã lìa 2 thứ tử; Gọi là Pháp Thân vì Thân này thành tựu từ “trí tuệ tối thượng”, xa rời ba thứ Vô minh; Thường trụ nên chẳng thể nghĩ bàn!!! Trước khi thành tựu Tối Hậu Thân, vị này phải trải qua Hậu Biên Thân… Giống như Bồ Tát Di Lặc trước khi thành Phật phải trải qua Hậu Biên Thân gọi là “Nhất Sanh Bổ Xứ”!!!

[[25]] Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp: Chính là “Sứ giả của Như Lai” ở hiện tiền!!!

[[26]ma Ba Tuần: Những kẻ chuyên phá hoại Chánh Pháp!!!

[[27]] Không có Đại thừa thì không có Phật Pháp… Giống như không có Địa đại thì không có Hữu tình, núi non, cây cối, biển cả…!!!

[[28]] Có Đại thừa thì có sáu xứ này!!!

[[29]] Nói mạt pháp là vì ít người thành thục nghĩa Đại Thừa!!!

[[30]] Đây là thật nghĩa của “Xuất Gia”!!!

[[31]] Đây là thật nghĩa của “Quy Y”!!!

[[32]] sanh pháp: Tuy “Tâm dứt” nhưng “Thức” chưa dứt!!!

[[33]] Nói La Hán đã xong: Là “Phương Tiện thuyết” chứ chẳng phải “Quyết Định thuyết”. Phương Tiện thuyết khiến Nhị thừa thành tựu “Hữu tác Tứ Thánh Đế (Trí)”; Quyết Định thuyết khiến Nhất thừa thành tựu “Vô Tác Tứ Chân Trí”… Đây là lý do vì sao cùng một Phật Pháp mà lại xuất sanh “kinh Liễu Nghĩa và kinh Bất Liễu Nghĩa”!!!

[[34]] − Phần đoạn sanh tử: Sanh tử theo “Nghiệp”.  

      − Bất tư nghị Biến Dịch sanh tử: Sanh tử theo “Nguyện”!!!

[[35]Ngu phu: Người chưa Giác Ngộ!!!

[[36]] bảy hàng học nhơn, hàng Hữu học trong Tứ quả Thánh gồm: Hướng Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn quả; Hướng Tư Đà Hàm, Tư Đà Hàm quả; Hướng A Na Hàm, A Na Hàm quả và Hướng A La Hán!!!

[[37]] Bốn thứ Trụ Địa phiền não:

 − Kiến Nhứt Thiết Xứ Trụ Địa phiền não: Thấy nghe điên đảo mà sinh phiền não…

 − Dục Ái Trụ Địa phiền não: Tham mê Ngũ Dục mà sanh phiền não…

 − Sắc Ái Trụ Địa phiền não: Chấp Thân và Cảm Thọ mà sanh phiền não…

 − Vô Minh Ái Trụ Địa phiền não: Tham ưa các Pháp và Tưởng không dứt mà sinh phiên não…

[[38]] Dị bản (bản dịch khác) còn dịch “Sắc Ái..” là “Hữu Ái Trụ Địa phiền não”

[[39]] ‘Phiền não’ tương ưng với ‘tâm’: Phiền não dứt, tâm thanh tịnh; Tâm không, phiền não không!!!

[[40]] ‘Vô Minh Trụ Địa’ chẳng tương ưng với ‘tâm’: Tâm Thanh tịnh (không phiền não) vẫn chưa dứt Vô Minh Trụ Địa… Vì thế, tuy Nhị thừa chứng được Niết Bàn, nhưng chưa ra khỏi Vô Minh Trụ Địa!!!

[[41]] Chỉ khi nào không còn Vô Minh Trụ Địa thì Phiền Não Trụ Địa mới rốt ráo tịch diệt… Vì sao như vậy???  Khi dứt Vô Minh Trụ Địa mới thành tựu Thật Trí, nơi Thật Trí mới biết rằng phiền não cùng Bồ Đề chẳng hai, vì đồng một tự tánh Thanh Tịnh!!!

[[42]] ‘thủ’ chi: Chi thứ 9 (sau Ái, trước Hữu) trong 12 chi nhân duyên, chi này cuối nhóm Trung Tế, đầu nhóm Hậu Tế… Vì thế, thủ chi là nghiệp nhân của Hậu Hữu Thân… Nếu thủ chi diệt, “Sơ Tướng Vô Minh” diệt; Sơ Tướng Vô Minh diệt, ba thời đồng tịch diệt; Ba thời đồng tịch diệt, Hậu Hữu Thân diệt; Hậu Hữu Thân diệt, ba cõi tự Niết Bàn!!!

[[43]] Giống như Hoa Sen thường mọc trên bùn, bùn (hôi tanh) là Sở duyên mà cũng hay làm Duyên (để Sen có mùi thơm)… Vô Minh Ái Trụ Địa cũng như thế, hay phát khởi các món phiền não… Tuy nhiên, chính Vô Minh Trụ Địa làm chỗ Sở Y cho các Thánh quả… Chỉ trừ, Như Lai Vô Thượng Trí mới thật biết rằng Vô Minh Trụ Địa và Vô Lậu Quả đồng một Tự Tánh!!!

[[44]Vô Minh Ái trụ địa: Thuộc … ; Vô Minh Trụ Địa: Thuộc Lầm!!!

[[45]]  Nhị thừa, ra khỏi Ba cõi, mà chẳng biết Thiệt tướng Ba cõi… Vì thế, chỗ Vô Lậu chẳng được Tự tại!!!

[[46]] A La Hán, Bích Chi Phật, Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa nhẫn đến Pháp Vân Địa… trên con đường tiến về Vô Thượng Trí, mỗi địa dứt một phần Vô Minh Trụ Địa, cho đến khi thành Đẳng Chánh giác mới dứt sạch Vô Minh này… Từ đó hết lầm, thấy biết các Pháp hoàn toàn đúng bản chơn của nó, không còn thừa sót sai lầm, gọi là Đấng biết rõ, thấy rõ, viên mãn chỗ đáng dứt, chỗ đáng hết, thành tựu Nhất Thiết Công Đức!!! 

[[47]]  Từ Sơ Quả đến Bát Địa!!!

[[48]] Từ Cửu Địa đến Thập Địa!!!

[[49]] Cảnh Giới của Đẳng Giác Bồ Tát (Cửu Địa)!!!

[[50]] Vì dứt Vô Minh Trụ Địa nên gọi là Chánh Đẳng Giác: Thấy cái Phật xưa thấy, biết cái Phật xưa biết, chứng cái Phật xưa chứng… Gọi là Niết Bàn Nhất Vị Bình Đẳng!!!

[[51]] Vô Minh Trụ Địa chính là cái gốc che mờ chân trí… Vì thế, hay sanh các tùy phiền não, bởi chưa dứt hết lỗi lầm từ các Pháp, do đó chẳng thể đắc các Pháp của chư Như Lai!!!

[[52]Chánh Sư Tử HốngChư Lậu Dĩ Tận, Phạm hạnh Dĩ Lập, Sở tác Dĩ Biện, Bất thọ Hậu Hữu”: Cả Nhị Thừa và Phật đều tuyên bố Tứ Thành Tựu này, chỉ khác nhau ở Bất Liễu Nghĩa và Liễu Nghĩa nên Phật được gọi là Đại A La Hán!!!

[[53]Bốn Ma: Tử Ma; Ngũ Ấm Ma; Thiên Ma và Phiền Não Ma.

      Chư Như Lai rốt ráo xô dẹp bốn Ma:

  − Thành tựu Phật Pháp Thân: Dứt diệt Tử Ma… Đây là Thân thường trụ, rốt sau của chư Như Lai, rốt ráo không còn Sanh Tử!!!

  − Viên mãn Phật Tánh: Dứt Ngũ Ấm Ma… Vì Ngũ Ấm của chư Như Lai chính là Phật Tánh!!!

  − Thành tựu Phật Nhãn: Dứt diệt Thiên Ma… Vì thấy hết thảy cảnh giới đều là Phật Cảnh!!!

  − Thành tựu Phật Pháp: Dứt sạch Phiền Não Ma… Vì Phật Pháp từ Phiền Não mà có!!!

[[54]] Chỗ chứng rốt ráo của Tam thừa đồng Vô Sanh Pháp Nhẫn cùng Bất Động Địa Bồ Tát, ý vị Thanh Lương chẳng khác Đại Thừa… Giống như người liếm mép đĩa mật, vị ngọt chẳng khác vị ngọt của nguyên đĩa (Niết Bàn Đồng Nhất Vị). Chỉ sai khác ít, nhiều, sâu, cạn… Vì thế, Kinh nói “Nhị Thừa nhập vào Đại Thừa”… Nhị thừa giống như hai con sông chảy về cửa biển Nhất thừa, cửa biển Nhất Thừa hòa vào Đại Hải, cho nên Tam thừa gọi là Nhất thừa!!!

[[55]] Niết Bàn; Pháp Thân; Người Chứng đồng nhất thể… Nhất thể này là cảnh giới tự chứng, chẳng do từ nơi khác mà chứng!!!

[[56]]  “cứu cánh Nhứt thừa” còn gọi là “tất cánh”, là quả của các quả… Vì thế không còn tương tục (Pháp Thân hay Như Lai Thân là thân rốt sau)!!!

[[57]] Như Lai Thường Trụ nên là chỗ Quy Y Thường Trụ!!!

[[58]] chúng Tam thừa: Chúng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Quyền thừa.

[[59]] Luận về Quy Y có hai:

Nhất thừa Quy Y Phật vì cầu chứng Cứu Cánh Tối Thượng nên gọi Tam Quy đầy đủ… Bởi lẽ, nơi Phật có đủ Pháp và Tăng!!!

Nhị thừa sợ Sanh Tử, cầu Niết Bàn nên chỉ Quy Y Pháp và Tăng… Vì thế, chẳng phải chỗ Quy Y cứu cánh!!!

[[60]] Thắng nghĩa thừa: Nơi Nhất thừa, Như Lai Hóa Hiện ra Pháp Nhị thừa, sự Hóa Hiện này là Thắng nghĩa!!!

[[61]] − Nhị thừa dùng tứ trí, tuần tự chứng các Đế của 4 Đế, vì thế, chẳng phải Nhứt Trí!!!

     − Nhất thừa, thấy thiệt tướng của 4 Đế bình đẳng, không tánh nên chỉ dùng Nhứt trí mà chứng 4 Đế này!!!

[[62]] Trí xuất thế: Như gương sáng đốn soi các sắc tượng, không tuần tự trải qua các duyên…; Kim Cang dụ: Dụ như Kim Cưong (Trí) hay phá tan vật chất (Phiền Não)!!! 

[[63]] Nhị thừa tiệm tu bốn Pháp Tứ Đế, thành tựu viên mãn dứt các phiền não Trụ Địa gọi là “Thánh Đế”… Giống như trái Xoài từ từ chín đến chín hẳn, gọi là trái “Xoài chín”!!!

[[64]] Vỏ của các phiền não: Gồm Vô Minh Trụ Địa và Phiền não Trụ Địa;

 − Vô Minh Trụ Địa (thuộc Trí) chia làm ba phần:

Nhuận Chi Vô Minh: Năm căn mê mờ khi xúc đối năm trần cảnh…

Căn Bản Vô Minh: Ý Mê mờ khi sinh các Pháp…

Vô Minh Trụ Địa: Gồm Sở Tri Chướng và Ngu nơi Xuất Thế Pháp…

 − Phiền Não Trụ Địa (thuộc Tâm) gồm 4 món:

Kiến Nhứt Thiết Xứ Phiền Não Trụ Địa: Điên đảo nơi thấy nghe mà sanh phiền não…

Dục Ái Phiền Não Trụ Địa: Tham ưa 5 Trần mà sinh phiên não…

Sắc Ái Phiền Não Trụ Địa: Tham ưa Thân và các Cảm Thọ mà sinh phiên não…

Vô Minh Ái Phiền Não Trụ Địa: Tham ưa các Pháp và Tưởng không dứt mà sinh phiên não…

 ● Nhị thừa tiệm tu, dùng Hữu Tác Tứ Đế Thánh Trí tiêu trừ Tứ Trụ Địa Phiền Não mà chẳng đoạn được Vô Minh Trụ Địa…   Gọi là “Trí Đế Sơ Khởi”!!!

 ● Nhất thừa (Bát Địa, Cửu Địa, Thập Địa): Tuần tự dùng Nhất Thiết Trí, tùy theo chỗ cạn, sâu;  Phá Vô Minh Trụ Địa  cho đến cuối Tối Hậu Thân mới sạch (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bản Vô Minh được phá khi vừa Giác Ngộ),  gọi là “Trí Nhất Thiết Xuất Thế”!!!

 ● Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác, dùng Kim Cang Trí Đẳng Chánh Giác phá vỡ vỏ Vô Minh Trụ Địa ngay khi vừa chứng, gọi là “Trí Xuất Thế Đệ Nhất”!!!

[[65]] Cùng là Một Thánh Đế nhưng có 2 tầng cạn, sâu khác nhau:

  − Thánh Đế của Nhị Thừa: Do Như Lai Quyền Phương Tiện Thiện Xảo Hóa Hiện để khiến Họ vào Hữu Dư Niết Bàn…

  − Thánh Đế của Như Lai: Chỉ Cảnh Giới chơn thiệt, rốt ráo của Đại Niết Bàn!!!

[[66]] Khi Mê, Như Lai TàngTàng Thức… Hết Mê, Như Lai Tàng là Như Lai Tàng Tâm… Giác Ngộ rốt ráo, Như Lai Tàng là “Như Lai Tạng Pháp Thân Vi Mật Bất Khả Tư Nghì”!!!

[[67]Y hộ nơi tha: Y nơi người khác mà biết (Hữu Sư Trí)!!!

[[68]] Tự y hộ: Tự Giác Ngộ, chẳng do nơi người khác mà biết (Vô Sư Trí)!!!

[[69]] Tám nghĩa Thánh đế: Gồm 4 Thánh Đế Hữu Tác Trí và 4 Thánh Đế Vô Tác Trí.

[[70]] Vô tác Tứ Đế Trí, thấy được Tự tánh của Khổ là Không Tánh… Vì thế, chẳng có Tánh Khổ để diệt, gọi là “vô thỉ, vô tác, vô khởi, vô tận, thường, trụ, bất động, bổn tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ phiền não”!!!

[[71]] Như Lai Tạng không tánh nên phiền não cũng không tánh… Vì thế, Như Lai Tạng (Pháp Thân) chẳng rời phiền não mà phiền não chẳng thể đến được!!!

[[72]] Không; Bất Không Như Lai Tạng: Nơi Chơn Trí của Như Lai, phiền não không chung cùng nên gọi là Không; Chứ chẳng phải không có các pháp lành nên gọi là Bất Không!!!

[[73]] Trí Không Tánh Không, Bất Không Như Lai Tạng, các Đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… Cũng chỉ Tin mà được vào (Tùy Tín Hành) chứ chẳng phải Thấu Suốt mà được vào (Tùy Pháp Hành)!!!

[[74]] Nhị thừa chẳng biết thật nghĩa Trí Không Tánh Không, Bất Không Như Lai Tạng… Nên Y theo Tứ Điên Đảo mà chuyển hiện… Vì thế, Trí Không Tánh của Nhị thừa chẳng phải thật nghĩa Trí Không Tánh!!!

   ⁕ Tứ Điên Đảo gồm: Vô Thường tưởng Thường; Vô Ngã tưởng Ngã; Khổ tưởng Lạc; Bất Tịnh tưởng Tịnh… chính các cặp Pháp đối đãi Điên Đảo này khiến Nhị thừa bỏ Khổ cầu Vui, bỏ Bất Tịnh cầu Tịnh… Mà tạm được Trí Không Tánh… Cho nên mới nói Trí Không Tánh của Nhị Thừa chẳng phải Chân Thật Nghĩa!!!

[[75]] Chỉ có Trí Không Tánh Như Lai Tạng của Như Lai, mới thấy rõ Thật Tướng của các Khổ, cho nên Phiền não Khổ chẳng chung cùng Như Lai Tàng Tâm, nơi chẳng chung cùng này gọi là rốt ráo “đoạn hoại các phiền não, tu tất cả đạo khổ diệt”… Nhị thừa chẳng thể thấy, chẳng thể hiểu được!!!

[[76]Quy Y Nhất Đế!!!

[[77]] Xét tột lý của Bốn Đế, tùy vào địa vị, tùy vào nhãn lực của người tu hành trong Phật Đạo… Ta thấy, có đến bốn thứ lớp sai biệt:

Phàm phu vô văn nơi 4 Tục Đế, với Nhục nhãn và Thiền nhãn: Thấy Khổ, Tập, Diệt, Đạo đều là tướng Hữu Vi, là Pháp phá hoại, là 4 món Vô Thường vì chẳng biết nghĩa Đế… Vì chẳng biết nghĩa Đế, nên Kinh nói “Phàm phu có Khổ, có Tập mà không có Đế”!!!

A La Hán, Bích Chi Phật, Bát Địa chứng Diệt Đế Vô Vi gọi là Tứ Thánh Đế, với Pháp nhãn:  Thấy 4 Đế có 3 Đế Vô Thường và 1 Đế là Thường… Tức Khổ, Tập, Đạo thuộc tướng Hữu Vi, chỉ có Diệt ĐếVô Vi… Vì bởi, các quả vị này y nơi Hữu tác Thánh Đế mà thành tựu,  nên lầm tưởng Đạo Đế là Hữu Vi, cho rằng chỗ Diệt do tu Đạo mà thành, mà không biết rằng Đạo Đế cũng là Vô Vi, vì Đạo Đế ấy là Đạo Xuất Thế, thành tựu Đạo Đế chính là thành tựu Nhất Thiết Trí!!!

Cửu Địa đến Thập Địa, thành tựu rốt ráo Đạo Đế, trong Tứ Chân Đế, với Huệ nhãn: Thấy thiệt tướng của 4 Đế là Không Đế, Vô Vi, Vô Tác, chẳng thể phá hoại, nên cho rằng 4 Đế tự Không “Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”, vì rốt ráo Không nên 4 Đế là Thường!!!

Chư Như Lai với Phật Nhãn: Như Thật biết rằng 4 Đế chẳng phải Hữu Vi chẳng phải  Vô Vi, chẳng phải Thường chẳng phải Vô Thường… Vì Phật Pháp Bốn Đế là do Hóa Phật tuyên thuyết, để giúp Hữu tình tiến về Vô Thượng quả, chứ chẳng phải là Thiệt nghĩa của Pháp Thân Như Lai Tàng Chơn Thiệt;

Pháp Thân Như Lai Tàng Chơn Thiệt không do Pháp gì làm thành!!!

[[78]] hàng Thanh Văn, Duyên Giác ở đây là nói về Bảy Học Nhơn; Chẳng phải là A La Hán và Bích Chi Phật!!!

[[79]] Gọi là Tịnh Trí: Vì đã rời lìa 2 Kiến Chấp (Thường, Đoạn) của Phàm phu và Ngoại Đạo!!!

[[80]] − Đoạn Kiến: Ngu phu chấp rằng Ngũ Ấm hoại diệt là hết!!!

      − Thường Kiến: Có hạng Ngu phu lại chấp rằng, con quạ vĩnh viễn đen, con cò vĩnh viễn trắng!!!

[[81]] Gọi là Tứ Đảo Tưởng!!!

[[82]] Chánh Kiến này do Tin mà thành!!!

[[83]] Những Phật Tử này chưa phải từ “Chơn Trí” sanh!!!

[[84]Bốn Trí Nhập Lưu còn gọi là Tứ Sở Y Trí:

 − Với Nhị Thừa: Y nơi bốn Đế mà nhập vào dòng Niết Bàn, gọi là bốn Trí Nhập Lưu.

 − Với Nhất Thừa: Tứ sở Y gồm 4 món “Y Pháp bất y Nhân; Y Nghĩa bất y Ngữ; Y Trí bất y Thức; Y kinh Liễu Nghĩa bất y kinh Bất Liễu Nghĩa”!!!

[[85]] Sanh Tử Y nơi Như Lai TạngSanhDiệt; Chẳng phải Như Lai Tạng có Sanh có Diệt!!!

[[86]] Như Lai Tạng Tánh chẳng Hữu Vi, chẳng Vô Vi; Siêu quá Ý Thức phân biệt!!!

[[87]] Thấy rằng có Phược, có Giải không rời Như Lai Tạng nhưng Như Lai Tạng Tánh chẳng Phược, chẳng Giải!!!

[[88]] Chán Khổ Vui; Cầu Niết Bàn đều Y nơi Như Lai Tạng mà thành lập, nhưng Như Lai Tạng thì chẳng có Pháp Chán Khổ Vui; chẳng có Pháp Cầu Niết Bàn… Những Pháp này chỉ do nơi 6 Thức duyên Cảnh Sở Tri mà hiện!!!

[[89]] Như Lai Tạng không phải là Cảnh Giới của các thứ Kiến!!!

[[90]] Như Lai Tạng là chỗ Sở Y của các Pháp Thế Gian và Xuất Thế; Nhưng Tự Tánh của nó rời lìa Thế Gian và Xuất Thế!!!

[[91]] Như Lai Tạng không Tánh nên rời lìa Thiện, Bất Thiện!!!

[[92]] Chữ ‘tâm’ ở đây là nói đến ‘Bổn Tâm Thanh Tịnh’, chứ chẳng phải  ‘Hư Vọng Tâm’;… Nơi Bổn Tâm Thanh Tịnh các Pháp chẳng thể Nhiễm Ô được… Giống như người nhậm mắt thấy có muôn ngàn Hoa Đốm trong Hư Không… mà kỳ thực, Hư Không chẳng bị Hoa Đốm làm Nhiễm Ô!!!

[[93]] Như người Giàu ngủ mê, nằm mơ thấy minh nghèo đói; Nghèo đói trong giấc mơ chẳng thể làm người Giàu nghèo đói được… Vì Tự Tánh Thanh TịnhThường, là Thật; Các Pháp Nhiễm Ô thì Vô Thường, Không Thật… Cho nên cái Vô Thường Không Thật chẳng thể làm nhiễm ô cái Thường, cái Thật!!! 

[[94]đại pháp: Giác Ngộ Nhất thừa.

[[95]] − tăng thượng tín tâm: Tùy Tín Hành…

      − tùy thuận pháp trí: Tùy Pháp Hành…

[[96]] Năm Pháp Tùy Thuận Pháp Trí (để hiểu được Thanh Tịnh Tự Tâm và Tâm bị Nhiễm Ô):

 − Quán sát Tâm ThứcCảnh: Quán sát 3 Duyên hòa hiệp (Căn, Trần, Thức; Thập Bát Giới)… Tịch Diệt Tâm, Pháp, thấy được Bổn Tâm!!!

 − Quán sát Nghiệp báo: Quán sát hành trạng của Nhân, Duyên, Quả, Báo… Để thấy Nghiệp Quả Phi Hữu, Phi Vô!!!

 − Quán sát Pháp Nhãn của A La Hán: Quán sát cách Nhị thừa thủ hộ Tịnh Trí… Để thực chứng các Pháp Không Tánh!!!

 − Quán sát Tâm Tự Tại ưa thích Thiền Duyệt: Quán sát hành tướng xuất ly 3 cõi… Để hết Điên Đảo!!!

 − Quán sát thánh thần thông biến của Nhị thừa: Quán sát chỗ thông, bít của Sáu Căn… Để các Căn Viên Thông, hết Ngăn Ngại!!!

[[97]] Người thành tựu thậm thâm Pháp Trí: Hạng Liễu Ngộ!!!

[[98]] Người tùy thuận Pháp Trí: Y theo Pháp mà tu hành!!!

[[99]] Tín Tâm không lay chuyển!!!

[[100]] Điều đại kỵ trong Phật Đạo đó là: Chưa thấu suốt mà dạy người… Rắn độc hại người chỉ giết chết một đời; Dạy sai Phật Pháp giết chết Trí Tuệ (Huệ Mạng) người trong Vô Lượng đời!!!

[[101]] niệm Phật:

 − Niệm Phật: Một lòng nhớ nghĩ Công Đức, Trí Tuệ và Lời Dạy của Phật…

 − Niệm Pháp: Một lòng thực hành lời dạy của Phật cho đến thành tựu…

 − Niệm Tăng: Người thành tựu hai Niệm trên gọi là Đệ Nhất Nghĩa Tăng

Đây là ý nghĩa của Quy Y Phật Bảo gồm đủ Ba Bảo!!!

[[102]] Kiều Thi Ca : Là Thiên Đế Thích.