KINH KIM CANG

Tôi nghe như vầy;[[2]] Một hôm đức Phật ở thành Xá vệ, nơi vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, cùng các vị đại tỳ kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị.

Đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá vệ khất thực. Vào trong thành, [chư tăng] theo thứ tự khất thực rồi trở về tịnh xá. Thọ trai xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, trải tòa ra ngồi.

Lúc ấy Trưởng lão Tu Bồ Đề từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, bày vai phải, quỳ gối phải, cung kính chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát.

“Thế Tôn! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ đề,[[3]] nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?

Phật dạy: “Lành thay! Lành thay! Tu Bồ Đề, đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, Ta sẽ vì các ông mà giảng thuyết.  Nếu có kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Bồ đề, nên trụ tâm như thế này, nên hàng phục tâm như thế này.”

− “Bạch Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe.”

Phật dạy Tu Bồ Đề: “Các vị Đại Bồ Tát[[4]] nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sanh: Hoặc sanh từ bào thai, hoặc sanh từ trứng, hoặc sanh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sanh ra, hoặc có sắc, hoặc không có sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng,[[5]] Ta đều độ cho nhập vào Vô dư Niết bàn.[[6]] Như vậy diệt độ vô số chúng sanh, nhưng thật không có chúng sanh nào được diệt độ.’[[7]]

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả,[[8]] thì chẳng phải là Bồ Tát.

 “Lại nữa, Tu Bồ Đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng mà bố thí.

“Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng.

“Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức[[9]] ấy chẳng thể suy lường.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Hư không phương đông có thể suy lường được chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.”

“Tu Bồ Đề! Hư không các phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ,[[10]] phương trên, phương dưới có thể suy lường được chăng?”

− “Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.”

“Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể suy lường.

“Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm[[11]] theo như cách đã chỉ dạy.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể nhìn vào thân tướng mà cho đó là Như Lai[[12]] chăng?”

− “Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Chẳng thể nhìn vào thân tướng mà thấy Như Lai.

“Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng thân tướng thật chẳng phải là thân tướng.”

Phật dạy Tu Bồ Đề: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng thật chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai.[[13]]

Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Liệu có chúng sanh nào nghe lời thuyết dạy này[[14]] được sanh lòng tin chân thật[[15]] chăng?” 

Phật bảo Tu Bồ Đề: “Chớ nên nói thế! Như Lai diệt độ rồi, năm trăm năm sau (thời mạt pháp) sẽ có những người giữ giới,[[16]] tu phước,[[17]] đối với lời thuyết này thường sanh lòng tin chân thật. Nên biết những người này chẳng phải chỉ ở nơi một, hai, ba, bốn, năm… đức Phật gieo trồng căn lành,[[18]] mà thật đã ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật gieo trồng căn lành,

[những người ấy] nghe lời thuyết này, dù chỉ một niệm cũng sanh lòng tin trong sạch.[[19]]

“Tu Bồ Đề! Như Lai tất sẽ thấy biết những chúng sanh ấy được vô lượng phước đức. Vì sao vậy? Những chúng sanh ấy không sanh khởi các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, không khởi pháp tướng, cũng không khởi phi pháp tướng.[[20]]

“Vì sao vậy? Những chúng sanh ấy nếu tâm chấp giữ tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu giữ lấy pháp tướng tức mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

“Vì sao vậy? Nếu giữ lấy phi pháp tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

“Vì thế, chẳng nên chấp giữ lấy pháp, cũng chẳng nên chấp giữ lấy phi pháp.[[21]]

“Do nơi nghĩa này, Như Lai thường nói: Các vị tỳ kheo nên biết, pháp Phật thuyết như cái bè qua sông.[[22]]

Pháp (Phật) còn nên xả bỏ, hà huống những gì chẳng phải pháp (Phật)!”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật đã dạy, không có pháp gì gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,[[23]] cũng không có một pháp Như Lai có thể thuyết.[[24]]

“Vì sao vậy? Chỗ thuyết pháp của Như Lai thảy đều chẳng thể chấp giữ lấy, chẳng thể nói ra, chẳng phải là pháp, cũng chẳng phải phi pháp.

“Vì sao vậy? Tất cả các bậc thánh hiền đều thành tựu pháp vô vi, nhưng có chỗ sai biệt.”[[25]]

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy món báu đầy trong cõi tam thiên đại thiên thế giới mà bố thí, được phước đức nhiều chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Phước đức ấy, chẳng có tánh phước đức, nên Như Lai nói là nhiều phước đức.”

“Nếu lại có người thọ trì chỉ bốn câu kệ trong kinh này,[[26]] vì người khác mà giảng nói, phước này hơn hẳn phước bố thí kia.

“Vì sao vậy? Hết thảy chư Phật và giáo pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của các ngài đều từ nơi kinh này mà ra.

“Tu Bồ Đề! Vì vậy mà nói rằng: Pháp Phật tức chẳng phải là pháp Phật.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tu đà hoàn có nên khởi niệm: Ta được quả Tu đà hoàn chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? Tu đà hoàn gọi là nhập vào dòng thánh,[[27]] nhưng thật không có chỗ nhập. Chẳng nhập vào hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng, nên mới gọi là Tu đà hoàn.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tư đà hàm có nên khởi niệm: Ta được quả Tư đà hàm chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? Tư đà hàm gọi là một lần trở lại,[[28]] nhưng thật không có trở lại, nên mới gọi là Tư đà hàm.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A na hàm có nên khởi niệm: Ta được quả A na hàm chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? A na hàm gọi là không trở lại,[[29]] nhưng thật chẳng phải là không trở lại, nên mới gọi là A na hàm.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A la hán[[30]] có nên khởi niệm: Ta được đạo A la hán chăng?

− Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? Thật không có pháp gọi là A la hán. Thế Tôn! Nếu vị A la hán khởi niệm rằng: Ta được đạo A la hán, tức là vướng mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.[[31]]

− “Thế Tôn! Phật dạy rằng con được phép Tam muội Vô tránh, cao quý nhất trong loài người, là bậc A la hán cao quý nhất đã lìa bỏ tham dục. Con chẳng khởi niệm này: Ta là bậc A la hán lìa bỏ tham dục.

− “Bạch Thế Tôn! Nếu con khởi niệm: Ta được đạo A la hán, Thế Tôn tất chẳng nói: Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A lan na.[[32]] Vì con đây thật không vướng mắc ở chỗ làm, nên mới nói rằng: Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A lan na.”

Phật hỏi Tu Bồ Đề: “Ý ông nghĩ sao?

Như Lai trước kia ở nơi Phật Nhiên Đăng có chỗ được pháp chăng?”

− “Bạch Thế Tôn, chẳng có. Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật không có chỗ được pháp.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật chăng?”

− “Bạch Thế Tôn, chẳng có. Vì sao vậy? Việc trang nghiêm cõi Phật đó, thật chẳng phải trang nghiêm, gọi là trang nghiêm.”[[33]]

“Tu Bồ Đề! Vì vậy mà các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như thế này: Chẳng nên trụ nơi hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng mà sanh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sanh tâm.

“Tu Bồ Đề! Như người kia có thân hình như núi chúa Tu di. Ý ông nghĩ sao? Thân ấy là lớn chăng?”

− Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất lớn.

Vì sao vậy? Phật thuyết chẳng phải thân, gọi là thân lớn.”[[34]]

“Tu Bồ Đề! Như trong sông Hằng có bao nhiêu là cát, mỗi hạt lại là một sông Hằng. Ý ông nghĩ sao? Số cát trong tất cả những sông Hằng ấy là nhiều chăng?”

− Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Chỉ với số sông Hằng như thế còn nhiều không kể xiết, huống chi là cát trong những con sông ấy!”

“Tu Bồ Đề! Đây là thật ngữ.[[35]] Như có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng bảy món báu đầy trong cõi tam thiên đại thiên thế giới nhiều bằng số cát của những sông Hằng ấy mang ra bố thí, được phước nhiều chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

Phật dạy Tu Bồ Đề: “Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia.

“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Theo như kinh này mà thuyết dạy, cho đến chỉ bốn câu kệ, nên biết là nơi ấy hết thảy thế gian, trời, người, a tu la đều nên cúng dường như tháp miếu Phật. Huống chi có người đem hết sức mà thọ trì, đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết là người này thành tựu được pháp cao quý bậc nhất ít có.

“Nếu kinh điển này ở tại nơi nào, tức như có Phật hoặc bậc đệ tử cao quý đáng tôn trọng ở đó.”

Lúc ấy Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kinh này gọi tên là gì? Chúng con phải vâng giữ như thế nào?”

Phật dạy Tu Bồ Đề: “Kinh này gọi tên là Kim Cang Bát nhã Ba la mật. Nên theo như tên kinh mà vâng giữ. Vì sao vậy? Tu bồ đề! Phật thuyết Bát nhã Ba la mật tức chẳng phải Bát nhã Ba la mật.[[36]]

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”

Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Như Lai không có chỗ thuyết pháp.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Số vi trần[[37]] trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

“Tu Bồ Đề! Những vi trần ấy, Như Lai thuyết chẳng phải vi trần, tạm gọi là vi trần. Như Lai thuyết thế giới chẳng phải thế giới, tạm gọi là thế giới.[[38]]

 “Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Chẳng thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai thuyết ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, tạm gọi là ba mươi hai tướng.[[39]]

“Tu Bồ Đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Lại có người thọ trì kinh này, cho đến chỉ bốn câu kệ, vì người khác giảng nói, phước ấy rất nhiều.”[[40]]

− Bấy giờ, Tu Bồ Đề nghe thuyết kinh này, hiểu sâu nghĩa thú, cảm động đến rơi lệ, bạch Phật rằng: “Thật ít có thay,[[41]] Thế Tôn! Phật thuyết kinh điển này rất sâu xa, con từ trước đến nay dẫu được huệ nhãn nhưng chưa từng được nghe kinh như vậy.[[42]]

− “Bạch Thế Tôn! Nếu có người cũng được nghe kinh này, đem lòng tin tưởng trong sạch, liền khởi sanh tướng chân thật. Nên biết là người ấy thành tựu công đức[[43]] cao quý bậc nhất ít có.

“Bạch Thế Tôn! Tướng chân thật ấy tức là chẳng phải tướng, nên Như Lai tạm gọi là tướng chân thật.[[44]]

− “Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển này, tin hiểu thọ trì chẳng lấy chi làm khó. Nhưng nếu năm trăm năm sau cùng (của thời mạt pháp), có chúng sanh nào được nghe kinh này, tin hiểu thọ trì, người ấy quả là bậc nhất ít có. Vì sao vậy? Người ấy không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

“Vì sao vậy? Tướng ngã chẳng phải là tướng; tướng nhân, chúng sanh, thọ giả cũng chẳng phải tướng. Vì sao vậy? Lìa hết thảy các tướng gọi là chư Phật.

Phật bảo Tu Bồ Đề: “Đúng vậy, đúng vậy! Nếu có người được nghe kinh này mà chẳng thấy kinh sợ hoảng hốt, nên biết người ấy rất là ít có.

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Như Lai dạy rằng bậc nhất Ba la mật, tức chẳng phải bậc nhất Ba la mật, gọi là bậc nhất Ba la mật.

“Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói là chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật.

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Như Ta xưa kia bị vua Ca lỵ cắt xẻo thân thể từng phần. Lúc bấy giờ, Ta không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vì sao vậy? Trong lúc Ta bị cắt xẻo từng phần thân thể, nếu có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tất phải sanh lòng sân hận.”[[45]]

“Tu Bồ Đề! Lại nhớ đến quá khứ năm trăm đời trước, Ta làm một vị tiên nhẫn nhục. Lúc ấy Ta cũng không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

“Bởi vậy, Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên lìa hết thảy các tướng mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.[[46]] Chẳng nên trụ nơi hình sắc sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng sanh tâm. Nên sanh tâm không có chỗ trụ.

“Nếu tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ.[[47]]

“Vì thế, Phật dạy các vị Bồ Tát chẳng nên trụ tâm nơi hình sắc mà bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh nên bố thí như vậy.

“Như Lai dạy rằng hết thảy các tướng tức chẳng phải tướng. Lại dạy rằng hết thảy chúng sanh tức chẳng phải chúng sanh.

“Tu Bồ Đề! Lời nói của đấng Như Lai là chân chánh, đúng thật, như nghĩa, không hư dối, không sai khác.

“Tu Bồ Đề! Như Lai có chỗ được pháp, pháp ấy không thật, không hư.[[48]]

“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, cũng như người vào chỗ tối, không thể nhìn thấy.

“Nếu Bồ Tát chẳng trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, như người có mắt, khi ánh sáng mặt trời chiếu soi thấy đủ các màu sắc.

“Tu Bồ Đề! Về sau nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thường hay thọ trì đọc tụng kinh này, Như Lai dùng trí huệ Phật thấy biết những người này đều được thành tựu vô lượng vô biên công đức.

“Tu Bồ Đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, vừa lúc đầu ngày dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, đến giữa ngày lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, đến cuối ngày cũng lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí. Cứ như vậy trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, dùng thân mạng mà bố thí. Nếu có người nghe kinh điển này, trong lòng tin theo chẳng nghịch, được phước nhiều hơn cả những người dùng thân mạng mà bố thí kia. Huống chi là thọ trì, đọc tụng, vì người giảng giải!

 “Tu Bồ Đề! Kinh này có vô lượng vô biên công đức như thế, chẳng thể suy lường. Như Lai vì người phát tâm Đại thừa mà thuyết dạy, vì người phát tâm Tối thượng thừa mà thuyết dạy. Nếu có người thường hay thọ trì, đọc tụng, rộng vì người khác mà thuyết giảng, Như Lai tất sẽ thấy biết những người này đều được thành tựu công đức vô lượng vô biên chẳng thể suy lường. Những người như vậy có thể đảm đương gánh vác đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai.

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Nếu kẻ ưa pháp nhỏ,[[49]] vướng mắc vào những kiến giải: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tức chẳng thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng giải kinh này.

“Tu Bồ Đề! Bất cứ nơi nào có kinh này, hết thảy thế gian, các hàng trời, người, a tu la đều nên cúng dường. Nên biết nơi ấy tức là tháp Phật, nên cung kính đi quanh lễ bái, dùng các thứ hương hoa rải lên nơi ấy.

“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người trì kinh ấy dù cho đời trước đã tạo nghiệp ác lẽ ra phải đọa vào các đường dữ, nay nhân bị người khinh chê, nghiệp ác đời trước liền tiêu diệt,[[50]] được thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu Bồ Đề! Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp trước Phật Nhiên Đăng, Ta đã được gặp tám trăm bốn ngàn vạn ức na do tha([51]) đức Phật, và đều cung kính phụng sự không chút lỗi lầm. Nếu có người đời mạt pháp sau này thường thọ trì tụng đọc kinh này, người ấy được công đức so với công đức cúng dường chư Phật của Ta vượt hơn bội phần, trăm phần Ta chẳng theo kịp một, ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo kịp.

 “Tu Bồ Đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành vào đời mạt pháp thọ trì đọc tụng kinh này được nhiều công đức, nếu Ta nói ra đầy đủ sẽ có người nghe qua sanh tâm cuồng loạn, nghi ngờ chẳng tin.

“Tu Bồ Đề! Nên biết rằng, nghĩa kinh này không thể nghĩ bàn, quả báo cũng không thể nghĩ bàn.”

Bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?

Phật dạy Tu Bồ Đề: “Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên khởi tâm như thế này: ‘Ta nên diệt độ hết thảy chúng sanh; diệt độ hết thảy chúng sanh, nhưng thật không có chúng sanh nào diệt độ.’

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tức không phải Bồ Tát.

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng có. Như con hiểu theo nghĩa Phật thuyết, Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng trước kia không có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

Phật nói: “Đúng vậy, đúng vậy! Tu Bồ Đề, thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu Bồ Đề! Nếu như có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng hẳn đã không thọ ký cho ta: Ông về sau sẽ thành Phật hiệu Thích ca Mâu ni.

“Vì thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ta rằng: Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích ca Mâu ni.

“Vì sao vậy? Nói Như Lai đó, tức là nghĩa như của các pháp.[[52]]

“Nếu có người nói: Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu Bồ Đề! Như Lai có chỗ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong chỗ ấy không thật, không hư.

“Vì thế, Như Lai dạy rằng: Hết thảy các pháp đều là Phật pháp.[[53]]

“Tu Bồ Đề! Nói là hết thảy các pháp, tức chẳng phải pháp, vì thế chỉ tạm gọi là hết thảy các pháp.

“Tu Bồ Đề! Ví như thân người dài lớn.”

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, Như Lai nói rằng thân người dài lớn tức chẳng phải là thân lớn, chỉ tạm gọi là thân lớn.”

“Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng lại như vậy. Nếu nói rằng: Ta đang độ cho vô lượng chúng sanh, tức chẳng gọi là Bồ Tát.

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Vì thế Phật thuyết hết thảy các pháp đều không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng: ‘Ta đang làm trang nghiêm

cõi Phật’, như vậy chẳng gọi là Bồ Tát. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, gọi là trang nghiêm.

“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã,[[54]] Như Lai gọi đó thật là Bồ Tát.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có nhục nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có nhục nhãn.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có thiên nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có thiên nhãn.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có huệ nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có huệ nhãn.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có pháp nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có pháp nhãn.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có Phật nhãn.” [[55]]

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Trong sông Hằng có cát, Phật nói đó là cát chăng?”

− “Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai nói đó là cát.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát, lại có số sông Hằng cũng nhiều như số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều như số cát trong tất cả những con sông Hằng đó, như vậy là nhiều chăng?”

“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

Phật bảo Tu Bồ Đề: “Hết thảy chúng sanh trong số cõi Phật nhiều như vậy, nếu khởi tâm suy nghĩ, Như Lai đều biết. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tâm đều là không phải tâm, nên tạm gọi là tâm.

“Vì sao như thế? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ chẳng thể nắm bắt. Tâm hiện tại chẳng thể nắm bắt. Tâm vị lai chẳng thể nắm bắt.[[56]]

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy món báu đầy trong cõi tam thiên đại thiên thế giới để bố thí. Do nhân duyên ấy, được phước nhiều chăng?”

“Bạch Thế Tôn, quả đúng như vậy. Người ấy do nhân duyên bố thí, được phước rất nhiều.”

 “Tu Bồ Đề! Nếu phước đức có thật, Như Lai chẳng nói là được nhiều phước đức. Vì phước đức là không, nên Như Lai nói là được nhiều phước đức.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy sắc thân đầy đủ thấy đó là Phật chăng?

“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên lấy sắc thân đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, sắc thân đầy đủ tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, tạm gọi là sắc thân đầy đủ.”

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai chăng?

“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, tạm gọi là các tướng đầy đủ.”

“Tu Bồ Đề! Ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: ‘Ta đang có chỗ thuyết pháp.’ Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Nếu có người nói Như Lai có chỗ thuyết pháp, tức là hủy báng Phật, chẳng thể hiểu được chỗ Ta thuyết dạy.

“Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp, chẳng pháp nào có thể thuyết, gọi là thuyết pháp.”

Bấy giờ, ngài Huệ Mạng[[57]] Tu Bồ Đề bạch Phật:

“Thế Tôn! Liệu có chúng sanh nào ở đời vị lai nghe pháp này sanh lòng tin theo chăng?”

Phật dạy: “Tu Bồ Đề! Đó chẳng phải là chúng sanh, chẳng phải không là chúng sanh.[[58]]

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Chúng sanh đó Như Lai dạy rằng chẳng phải chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh.”[[59]]

Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Phật được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không có chỗ được sao?”

Phật dạy: “Đúng vậy, đúng vậy! Tu Bồ Đề! Ta đối với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng có lấy một phần nhỏ pháp có thể được, nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả mà tu hết thảy pháp lành,[[60]] nên thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu Bồ Đề! Chỗ nói là pháp lành, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp lành, chỉ tạm gọi là pháp lành.[[61]]

“Tu Bồ Đề! Như trong tam thiên đại thiên thế giới có các núi chúa Tu di, có người dùng bảy món báu tích tụ nhiều như các núi ấy mà bố thí. Lại có người lấy kinh Bát nhã Ba la mật này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng nói. Phước đức của người bố thí, so với người trì kinh thật trăm phần chẳng bì được một, trăm ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo kịp được.

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Các ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: ‘Ta đang độ chúng sanh.’

“Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Thật không có chúng sanh nào được Như Lai độ. Nếu có chúng sanh được Như Lai độ, Như Lai tất có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

“Tu Bồ Đề! Như Lai dạy rằng ngã tức chẳng phải ngã, chỉ vì phàm phu mê lầm cho đó là ngã.

“Tu Bồ Đề! Phàm phu, Như Lai dạy rằng chẳng phải phàm phu.[[62]]

“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai chăng?”

Tu Bồ Đề thưa: “Đúng vậy, đúng vậy. Lấy ba mươi hai tướng mà quán, đó là Như Lai.”

Phật bảo Tu Bồ Đề: “Nếu lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai, vậy Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai.[[63]]

Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật thuyết dạy, chẳng nên lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

 “Nếu dùng sắc thấy Phật,

Dùng âm thanh cầu Phật.

Là người hành tà đạo,

Chẳng thể thấy Như Lai (Phật Trí).”

(Nhược dĩ sắc kiến ngã, / Dĩ âm thanh cầu ngã,

 Thị nhân hành tà đạo, / Bất năng kiến Như Lai)

“Tu Bồ Đề! Nếu ông khởi nghĩ rằng: Như Lai chẳng dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ như thế. Chớ nghĩ rằng Như Lai chẳng dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu Bồ Đề! Nếu ông khởi ý nghĩ rằng: ‘Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thuyết giảng các pháp đoạn diệt.’ Chớ nghĩ như thế.  Vì sao vậy? Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với pháp chẳng

thuyết nghĩa đoạn diệt.[[64]]

“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng bảy báu đầy trong những thế giới nhiều như cát sông Hằng mang ra bố thí. Lại có người hiểu biết hết thảy các pháp là vô ngã nên thành tựu được hạnh nhẫn nhục. Công đức của người này vượt hơn vị Bồ Tát làm việc bố thí.

“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Là vì các vị Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức.”

Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức?”

“Tu Bồ Đề! Bồ Tát có làm việc phước đức đều chẳng nên tham trước, nên nói là chẳng thọ nhận phước đức.

 “Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: ‘Như Lai có đến, hoặc có đi, hoặc có ngồi, hoặc có nằm.’ Người ấy thật chẳng hiểu nghĩa Ta thuyết dạy. Vì sao vậy? Như Lai đó, chẳng từ đâu mà đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.[[65]]

“Tu Bồ Đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, lấy cả cõi tam thiên đại thiên thế giới nghiền nát thành vi trần. Ý ông nghĩ sao? Số vi trần ấy là nhiều chăng?”

− Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Nếu những vi trần này là thật có, Phật tất chẳng nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật dạy rằng các vi trần, tức chẳng phải vi trần, tạm gọi là vi trần.

 “Thế Tôn! Chỗ Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới, tức chẳng phải thế giới, chỉ tạm gọi là thế giới.

“Vì sao vậy? Nếu thế giới là có thật, tức là một tướng hòa hợp. Như Lai dạy rằng một tướng hòa hợp tức chẳng phải một tướng hòa hợp, gọi là một tướng hòa hợp.”

“Tu Bồ Đề! Một tướng hòa hợp,[[66]] chẳng nên nói ra.

Chỉ vì kẻ phàm phu tham chấp sự việc ấy (do vậy, không thể giác ngộ).[[67]]

“Tu Bồ Đề! Nếu có người nói rằng Phật thuyết dạy những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Người ấy có hiểu được nghĩa Ta thuyết dạy chăng?”

− “Bạch Thế Tôn, người ấy chẳng hiểu được nghĩa Như Lai thuyết dạy. Vì sao vậy? Thế Tôn dạy rằng những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, chẳng phải là những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, chỉ tạm gọi là những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.”

“Tu Bồ Đề! Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với hết thảy các pháp, nên thấy biết như thế này, tin hiểu như thế này, chẳng sanh khởi pháp tướng.[[68]]

“Tu Bồ Đề! Chỗ nói là pháp tướng đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp tướng, chỉ tạm gọi là pháp tướng.

“Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng bảy món báu đầy khắp trong vô số A tăng kỳ thế giới mà bố thí. Lại có những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Bồ đề, thấu suốt kinh này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người diễn thuyết, phước đức này hơn phước bố thí kia.

“Thế nào là vì người diễn thuyết? Chẳng chấp giữ nơi tướng, như như bất động. Vì sao vậy?

Hết thảy pháp hữu vi,

  Như mộng, ảo, bọt, bóng,

  Như sương sa, điện chớp.

  Nên quán sát như vậy.”

(Nhất thiết hữu vi pháp,

 Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

 Như lộ diệc như điện,

 Ưng tác như thị quán.)

Phật thuyết kinh này rồi, Trưởng lão Tu Bồ Đề cùng các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di,[[69]] hết thảy thế gian, trời, người, a tu la nghe Phật dạy đều hết sức hoan hỷ, tin nhận, vâng làm theo.


[[1]] Kim cang có 2 phần: Tự độ và độ tha.

Kim Cang Tâm: Tâm như Hư Không, không có gì có thể phá hoại được.

Kim Cang Trí (Bát Nhã): Trí như gió Năng Diệt, có thể phá hoại hết thảy phiền não, lậu hoặc của chúng sanh.

[[2]] Tôi nghe như vầy: Có 2 nghĩa, thế gian và xuất thế.

Nghĩa thế gian: Lời A Nan theo lịch sử…

Nghĩa xuất thế: Chỉ nghe (thấy) theo thanh tịnh tự tâm, không nghe (thấy) theo đảo điên của trần cảnh (âm thanh, sắc tướng)!!!

[[3]] ..“phát tâm A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề”:  Thường được nói gọn là phát tâm Bồ đề. (A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề là đọc theo âm tiếng Phạn, Anuttarā saṃyak saṃbodhi; Hán dịch là Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng tức là quả vị Phật). Người phát tâm A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề là người nguyện sẽ tu học cho đến khi được quả vị Phật, quyết không thối chí giữa đường…

[[4]] Bồ Tát (Bodhisattva; Hán dịch âm là Bồ đề Tát đỏa): Được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả những ai phát tâm tu đạo Bồ Tát; (Hán dịch nghĩa là Giác hữu tình) Nghĩa là những người phát tâm hành đạo Bồ Tát, mang lại sự giác ngộ cho hết thảy chúng sanh…

[[5]] Đại ý của đoạn này muốn nêu lên hết thảy các loài chúng sanh trong Ba cõi, đó là Dục giới, Sắc giớiVô Sắc giới (Tam Giới).

   Khái niệm Tam giới trong Phật đạo không nhằm chỉ cho thế giới bên ngoài, nó là hiệu ứng nội tâm của một hữu tình khi mê (Tam giới duy tâm)… Vì thế, có thể coi học thuyết Tam giới là “Thế Giới Quan Tâm Thức” của Phật giáo, nó phản ảnh thế giới nội tâm chứ chẳng phải thế giới vật chất, càng không phải “Thế Giới Vô Hình ngoài tâm này”!!!

  Tam Giới (Ba cõi) được hình thành từ 3 tầng mê như sau:

  − Cõi Dục: Mê ngũ dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc), dứt được mê này ra khỏi Dục giới, sanh Thiền!!!

  − Cõi Sắc: Mê thân và các cảm thọ (sắc ấm và thọ ấm), dứt được mê này ra khỏi Sắc giới, đắc Sơ Thiền đến Tứ Thiền!!!

  − Cõi Vô Sắc: Mê các pháptưởng (Ý Thức và Tưởng Ấm), dứt được mê này chứng Tứ Không Định đến Diệt Thọ Tưởng Định, ra khỏi Vô Sắc giới, vào “Hữu Dư Y Niết bàn” (vì còn thừa sót lại Hành và Thức Ấm), còn gọi là Niết Bàn Vô Tưởng Thiên!!!

  − Đối với Tâm Tông, Ba cõi chỉ do một niệm Mê… Vô Niệm, “Tam giới tức thị Niết Bàn”!!!

[[6]] Vô dư Niết bàn (tiếng Phạn là Nirupadhiśeṣa nirvāṇa): Có 2 nghĩa,

Đối với Ba thừa (Tâm chứng): Viên mãn Diệt Đế, thành tựu Giải thoát Bất động, không còn thừa sót Hành và Thức (cơ sở sanh Pháp)…!!!

Đối với Nhất thừa (Trí chứng): Viên mãn Đạo Đế, thành tựu Nhất Thiết Trí, không còn thừa sót 2 phần sở trí ngu của Vô Minh Trụ Địa…!!!

[[7]] ..diệt độ vô số chúng sanh… : Bồ Tát biết rõ chúng sanh chỉ do một niệm . Vì thế, Bồ Tát độ hết thảy chúng sanh vào Vô Dư Niết Bàn (hết ) mà thiệt không có một chúng sanh nào được diệt độ.    Giống như người nằm mơ thấy chữa rất nhiều Bệnh Nhân, nhưng thật ra không có Bệnh Nhân nào được chữa… Hoặc, giống như người nằm mơ thấy đưa vô số người sang sông, nhưng thật ra không có người nào được đưa sang sông…!!!

[[8]] Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả: Gọi chung là Bốn tướng, bốn tướng này đều do nhận thức sai lầm mà sanh ra.

Tướng ngã: Lầm nhận rằng thật có “ta”.

Tướng nhân: Lầm nhận rằng thật có “người”.

Tướng chúng sanh: Lầm nhận rằng thật có chúng sanh.

Tướng thọ giả: Lầm nhận các tướng hư dối như đẹp, xấu, sang, hèn,   …là thật!!!

[[9]] Phước đức: Có hai thứ, hữu lậu và vô lậu.

Phước đức Hữu lậu (của người không giác ngộ): Đầy đủ vật phẩm thế gian nhưng còn phiền não, lậu hoặc…

Phước đức Vô lậu (của người giác ngộ): Đầy đủ vật phẩm thế gian nhưng không còn phiền não, lậu hoặc…!!!

[[10]] Bốn phương phụ: Các phương Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc.

[[11]] ..trụ tâm: Bồ Tát lấy chỗ không trụ mà trụ!!!

[[12]] Như Lai: Là Trí tuệ tối thượng, vô vi, vô tướng… chứ chẳng phải hình tướng (..âm thanh) hư vọng bên ngoài…!!!

[[13]] ..thấy Như Lai: Phải rời lìa cái thấy (nghe) hình tướng (âm thanh) hư dối…!!!

[[14]] ..lời thuyết dạy này:

 − Cầu Phật Pháp: Cầu cái không Pháp (chứ không phải cầu có một Pháp để tu)..

 − Cầu Phật Đạo: Cầu cái không Đạo để thành …

 − Cầu Phật Quả: Cầu cái không Quả để chứng…!!!

[[15]] .. lòng tin chân thật (tín lực): Lòng tin của người đã giác ngộ. Đã tịch diệt các thứ tâm hư vọng…!!!

[[16]] ..giữ giới:

 − Giới Xuất Thế: Theo tổ Huệ Năng “Tâm bình là giữ Giới”…

 − Giới Vô Lậu: Thành tựu “Các căn tu tập”…

 − Giới Kim Cang: Bất ưng trụ Sắc; Thanh; Hương; Vị; Xúc; Pháp sanh Tâm…!!!

[[17]] ..tu phước: Bố thí cho người thành tựu Kim Cang Tâm và Kim Cang Trí… Vì thế, Phật dạy: “Nên biết những người này chẳng phải chỉ ở nơi một, hai, ba, bốn, năm… đức Phật gieo trồng căn lành, mà thật đã ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật gieo trồng căn lành”!!!

[[18]] Người tu hành muốn hiện tại và các đời vị lai không quên mất Phật chủng (Phật chủng tánh, Phật tánh) phải thành tựu từ một cho đến đầy đủ sáu Chủng tánh của Phật tánh, đó là: Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh, Thánh Chủng Tánh, Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh và Diệu Giác Chủng Tánh (gọi chung là Lục Chủng Tánh Anh Lạc)!!!    

   Vì sao như vậy???  Lục chủng tánh Anh Lạc đối với Phật quả giống như hạt giống (nhân) và quá trình thành tựu cây trồng (đến quả); Không có hạt giống (nhân Phật) thì không thể thành tựu quả (Phật Quả). Đây là 6 hạt giống vô gián (không có sự gián đoạn), bất thối (không thối chuyển), và là điều kiện  “Ắt có và Đủ” để viên mãn Phật tánh (thành Phật đủ mười danh hiệu)!!!

  Ta có thể hiểu, hữu tình tồn tại là nhờ có Không đại (Hư không)… Hư không phải vô gián, hô hấp phải bất thối, thiếu một trong hai điều kiện này, đời sống nhất định phải chấm dứt!!!

   Lại cũng có thể hiểu, Pháp giới của Chư Phật được chia thành 6 phần không bằng nhau, mỗi Chủng tánh nương nơi một phần của Pháp giới ấy mà tăng trưởng cho đến khi viên mãn hết sáu phần, mới thành tựu Đại Bồ Đề thọ (cây Chánh Đẳng Chánh Giác)!!!

Viên mãn Phật tánh là viên mãn tám đức (tính chất): Từ, Bi, Hỷ, XảThường, Ngã, Lạc, Tịnh… Nói rõ hơn:

Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh và Thánh Chủng tánh (thành tựu Bình Đẳng tâm, khai Pháp Nhãn): Cho ra các tính chất Từ, Lạc, Hỷ và một phần của Xả, Tịnh…

•  Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh (thành tựu Đẳng PhápVô Đẳng Đẳng Trí, khai Huệ Nhãn còn gọi là Bồ Tát Nhãn): Có thêm các tính chất Bi, Tịnh và một phần tính chất Thường, Xả…

•  Diệu Giác Chủng Tánh (thành tựu Vô Thượng Đẳng Huệ, khai Phật Nhãn cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác!!!): Có thêm tính chất Ngã, Thường và rốt ráo Xả

(Phân tích trên dựa vào “Chiết Phát Đẳng Pháp Thần Công” của Lý Gia!!!!!!)

[[19]] Vô niệm mới là niệm trong sạch nhất. Vì thế, trụ nơi Vô niệm sẽ phát sinh lòng tin trong sạch!!!

[[20]] ..pháp tướng, phi pháp tướng: Không khởi quan niệm đó là tướng ấy hoặc chẳng phải là tướng ấy…!!!

[[21]] Lời Phật thuyết như ngón tay chỉ mặt trăng… Nên từ bỏ ngón tay để thấy mặt trăng!!!  Ngôn ngữ Kinh như dẫn dược (nước…), ý vị của Kinh mới là thuốc chữa bệnh!!!  Vì thế, chỉ nên đạt nghĩa quên lời… Vì lời ấy chính là phi pháp!!!

[[22]] Giống như người nằm mơ, thấy dùng bè (Pháp Phật) qua sông… Đến giữa dòng, giật mình thức giấc (Giác Ngộ) mới biết rằng: Chẳng có bờ này (Thế gian)!!! Chẳng có bờ kia (Xuất thế)!!! Chẳng có bè (Phật Pháp)!!! Cũng chẳng có dòng sông (Ba Cõi)!!!… Thành tựu Đệ Nhất Pháp Ấn; Kinh Lăng Già gọi là “Mộng qua sông” đã tỉnh!!!

[[23]] Ví như Hư Không, chẳng do một pháp gì làm ra…!!!

[[24]] Ví như, Hư không không có Hoa đốm, nhưng người nhậm mắt (có công đức), sẽ thấy Hoa đốm hiện trong Hư không (lời Phật Thuyết)… Giống như, cái trống (Như Lai) không có tiếng kêu, nhưng có người đánh (Chúng Sanh có công đức), sẽ phát ra tiếng kêu …

   Đây là hình ảnh của Bi nguyện hợp với Bi Ngưỡng tự sanh các pháp lành…!!!

[[25]] ‘Tâm’ đồng nhưng ‘Trí’ không đồng!!!

[[26]“.. bốn câu kệ trong kinh này,” (Kinh văn: “nãi chí tứ cú kệ đẳng”):

  Tứ cú kệ đẳng (Tứ cú Kim Cang): Lời giảng nói nào khiến mình và người

   − Không bị bốn bệnh (Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt); 

   − Hết bốn  tướng (Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả); 

   Không kẹt bốn câu (Đồng, Dị;    Có, Không;     Chẳng phải có, Chẳng phải không;     Thường, Vô thường)!!!

[[27]] Tu đà hoàn (Śrotāpanna; Hán dịch là Nhập lưu hay Dự lưu): Nghĩa là “nhập vào dòng”, ở đây là dòng các vị thánh. Là quả vị thứ nhất trong bốn quả thánh của Nhị thừa, tức Sơ quả (quả đầu tiên), nên xem như mới bắt đầu được nhập vào (dự vào) dòng thánh…

[[28]] Tư đà hàm (Sakṛḍāgāmin; Hán dịch là Nhất vãng lai hay Nhất lai):  Nghĩa là “một lần trở lại”. Là quả vị thứ hai. Người chứng đắc quả thánh này còn tái sanh một lần nữa trong cõi trời người…

[[29]] A na hàm (Anāgāmi; Hán dịch là Bất lai hay Bất hoàn): Nghĩa là “không trở lại”. Là quả vị thứ ba. Người chứng đắc quả này, do nghiệp lực đã hết nên không còn phải thọ thân tái sanh. Thật ra, người này cũng phải tái sanh lên một cõi trời gọi là Bất Hoàn Thiên, sống ở đó và tu tập cho đến khi hết thọ thân ấy thì thành A la hán…

[[30]] A la hán (Arhat): Là quả vị cuối cùng, cao nhất trong bốn thánh quả. Vị A la hán hoàn toàn dứt bỏ mọi triền phược, đạt đến cảnh giới giải thoát…

[[31]] Tu đà hoàn, Tư đà hàm … đến các quả vị thuộc về tâm chứng trong Phật đạo, hữu tình tự có, do chướng đạo (vô minh) che lấp nên thành chúng sanh. Nay trừ sạch chướng đạo, quả vị tự hiện, vì thế không thể nói ‘nay được quả vị’… Giống như nước trong bị nhiễm bẩn, nay làm sạch bẩn thì nước trong trở lại… Giống như người từ chỗ sáng đi vào chỗ tối nay lại trở ra chỗ sáng… Đây là cảnh giới ‘tâm chứng’ (Diệt đế), chưa phải là cảnh giới ‘trí chứng’ (Đạo đế)!!!

[[32]] ..hạnh A lan na (Kinh văn: “nhạo A lan na hạnh giả”): Người ưa thích hạnh A lan na. (Arañña: Hán dịch âm ‘A lan na’; Có chỗ trong kinh Phật  dịch âm là A lan nhã, A luyện nhã…). Danh từ này dùng chỉ nơi yên tĩnh, thanh tịnh; Vị Tỳ kheo sống ở đó để chuyên tâm tu tập. Vì thế, thường được dùng với nghĩa chung chỉ cho chùa chiền, tự viện. (Hán dịch là Vô tránh thanh hay Viễn ly xứ, nghĩa là nơi không có những tiếng cãi cọ, tranh chấp, nơi xa lìa thế tục).   Hạnh A lan nhã là một trong mười hai hạnh đầu đà. Người giữ hạnh này chỉ chọn sống suốt đời ở những nơi A lan nhã…

[[33]] Bồ Tát dùng thanh tịnh tâm trang nghiêm cõi Phật. Vì thế, gọi là lấy không trang nghiêm để trang nghiêm!!!

[[34]] Cái gì có hình tướng (hữu hạn) thì không thể gọi là lớn!!!

[[35]]   thật ngữ:Ngã, là Thường, là Chân lý bất biến!!!

[[36]] Bát nhã Ba la mật chẳng phải là pháp…Nếu đây là pháp, thì chẳng thể gọi là Bát nhã Ba la mật!!!

[[37]] Vi trần: Hạt bụi rất nhỏ…

[[38]] Vi trầnThế giới cho đến các cảnh duyên… Tự các thứ ấy chẳng phải là các pháp… Tự nó chẳng có các nghĩa của Pháp Tánh, Pháp Tướng, Pháp Danh, Pháp Vị, Pháp Giới… Chỉ khi nào ‘Ý Thức’ tiếp cận, bấy giờ, năm món trên mới xuất hiện. Vì thế, ‘Vi trần, phi Vi trần, Thế giới, phi Thế giới (chỉ tạm gọi)’!!!  Nói chung, những thứ ấy chẳng phải là pháp…!!!

[[39]] Ba mươi hai tướng Như Lai chẳng phải là pháp!!!

[[40]] Trong các pháp bố thí, bố thí không pháp là bố thí tối thượng. Bố thí Kinh Kim Cang chính là bố thí không pháp!!!

[[41]] Thật hy hữu thay!

[[42]] Tu Bồ Đề rơi lệ, vì thấy được nghĩa tối thượng không pháp!!!

[[43]] Công đức: Thành quả (thù lao) của Lục chủng tánh Anh lạc. Có 3 loại sai biệt:

Công đức Thế gian và Xuất Thế gian: Do thành tựu một phần Tập đế (Tu đà hoàn, dứt 3 kiết sử: thân kiến, giới cấm thủnghi) cho đến viên mãn Diệt đế (A la hán, dứt toàn bộ kiết sử) mà có; Công đức này thuộc về Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh và Thánh Chủng Tánh…(bằng số cát một phần cho đến toàn bộ một sông Hằng)!!!

Công đức xuất thế gian thượng thượng: Do thành tựu Đạo đế mà có; Công đức này thuộc về Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh…(bằng số cát vô lượng sông Hằng)!!!

Công đức của Bậc Vô tu Vô chứng (phi Thế gian, phi Xuất thế gian): Công đức này do hành công hạnh mà thành, thuộc về Diệu Giác Chủng Tánh và Phật… (bằng số cát bất khả thuyết sông Hằng)!!!

[[44]] Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là không tướng…!!!

[[45]] Bồ Tát lúc ấy đang tu nhẫn nhục Ba La Mật…!!!

[[46]]  ..phát tâm Vô Thượng.. : Là phát cái không phát!!!

[[47]] Nếu tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ (theo lời dạy của Như Lai)!!!

[[48]] Pháp của Như Lai giống như tiếng trống, tiếng trống chẳng thật chẳng hư… Pháp của Như Lai giống như tiếng vang, tiếng vang chẳng thật chẳng hư!!!

[[49]] Pháp nhỏ: Kiến giải bất liễu nghĩa của Ngoại đạo và Nhị thừa!!!

[[50]] Nghiệp quả phi hữu phi vô … Giống như giấc mơ, nói có cũng trật, nói không cũng trật!!! Một phen giật mình tỉnh dậy, giấc mơ tự mất!!!

[[51]] na do tha (tên một đại lượng số; Ấn Độ thời Phật): Chỉ số lượng rất lớn (rất nhiều)…

[[52]] ..nghĩa như của các pháp: ..Không tánh, không tướng, không tâm, không pháp…!!!

[[53]] Một pháp tự nó không là Thế pháp hay Phật pháp, vì bản lai các pháp không tánh không tướng… Cái được gọi là Phật pháp, khi vào tay kẻ , Pháp ấy lập tức trở thành Thế pháp (Pháp trói buộc)… Còn cái được gọi là Thế pháp, nhưng vào tay kẻ trí, với sức thiện xảo của mình, Pháp ấy tức thì trở thành Phật pháp (Giác ngộ; Giải thoát; Trí tuệ)!!!

[[54]]  ..thông đạt pháp vô ngã: Bồ Tát biết rõ bản lai chúng sanh tự không có ngã, ngũ ấm không ngã, vì thế các pháp cũng không có ngã…!!!

[[55]] Các thứ nhãn:

Nhục nhãn: Chỉ thấy theo Nghiệp…

Thiên nhãn: Thấy rõ các cảnh giới của Thiền Định…

Pháp nhãn: Thấy các Niết Bàn…

Huệ nhãn: Thấy Thiệt tướng…

Phật nhãn: Thấy các cõi Phật (Phật quốc)!!!

[[56]]   Tam (ba) Tâm bất khả đắc:

Quá khứ: Như mộng, không thể đem giấc mơ về hiện tại, vì thế  không thể nắm bắt được… 

Vị lai: Như huyễn (ảo thuật) chỉ có trong tưởng tượng (vì chưa xảy ra) nên cũng không nắm bắt được…

Hiện tại: Như ảnh, không thể nắm bắt được vì niệm niệm sanh diệt không ngừng…!!!

[[57]] Huệ Mạng: một trong các danh hiệu của Trưởng lão Tu bồ đề (Subhūti). Những tên gọi khác theo Hán dịch là Thiện Nghiệp, Thiện Hiện, Thiện Cát…

[[58]] Thân tướng là chúng sanh, nhưng tâm trí chẳng phải là tâm trí của chúng sanh!!!

[[59]] Theo kinh Đại Bát Nhã, hạng này gọi là Siêu Nhân Loại!!!

[[60]] ..tu hết thảy pháp lành: Chẳng tận Hữu vi, chẳng trụ Vô vi.!!!

[[61]] ..Pháp của Như Lai phi Hữu, phi Vô!!!

[[62]Mê, Ngộ; Trí, Ngu; Phàm, Thánh…. chỉ tại một Tâm này!!!  Các thứ ấy chỉ có danh tự mà không thực thể, như sừng thỏ lông rùa!!!

[[63]] Vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có đủ ba mươi hai tướng tốt như Phật…

[[64]] Pháp Phật: Chẳng Hữu chẳng Vô, Chẳng Ác chẳng Thiện; Chẳng Thường chẳng Đoạn; Chẳng Sanh chẳng Diệt… Mà cũng là Hữu, Vô; Ác, Thiện; Thường, Đoạn; Sanh, Diệt; … Siêu quá các quan niệm thế gian…. Vì thế, chẳng phải nghĩa đoạn diệt mà là “Trung Đạo Pháp”!!!

[[65]] Như Lai xuất hiện trong đời: Như Mặt TrờiÁnh Sáng… Mặt trời chẳng khởi nghĩ ‘ta đem Ánh Sáng để trừ diệt bóng tối’. Khi tối, Mặt trời cũng chẳng khởi nghĩ ‘ta đem Ánh Sáng trở về’… Sáng hoặc tối, chỉ do phước duyên hay công đức chúng sanh tự thấy như vậy!!!  Phật có ba thân:

Báo Thân: Do Phước Duyên mà thấy…

Hóa Thân: Do Công Đức mà thấy …

Pháp Thân: Do Trí Tuệ mà thấy …!!!

[[66]] Nhất hợp tướng (một tướng hòa hợp): Thuộc về Thế luận; Hướng ngoại cầu pháp… Thế gian cho rằng, ‘Thế Giới’ do vô lượng Vi trần hợp lại, Vi trần là do Thế Giới tan hoại mà thành… Cho đến khi không còn thấy Vi trần hay Thế Giới, gọi đó là “không”!!!  Đây là cái không của Hữu vi … Bởi lẽ: Sự không; Niệm không; Pháp không… Vẫn còn tồn tại trong tâm thức (không thể giải thoát)… Cho nên, nghĩa này chẳng thể ứng dụng tu tập Trong Phật Đạo!!!… Vì nó chẳng phải là nghĩa không đích thực (Vô Vi). Chính vì điều này, nên Phật dạy: “Tu bồ đề! Một tướng hòa hợp, chẳng nên nói ra. Chỉ vì kẻ phàm phu tham chấp sự việc ấy.”(do vậy, không thể Giác Ngộ)!!!

[[67]] Nhất thiết Phật ngữ tâm: Phật thuyết pháp chỉ nói đến tâm, đến pháp… Chẳng nói đến sự vật, sự việc, vi trần hay thế giới… Nếu tham trước những thứ ấy, đích thị là phàm phu!!!

[[68]] Chỉ nên thấy biết: Bản lai các Pháp tự không…

   Khi nào thấy có Pháp tướng, Pháp tánh, Pháp giới, Pháp Danh, Pháp vị… mà cho đó là thật…

   Người tu hành nên biết rằng: “Đây là cái thấy của điên đảo mê lầm.”!!! 

  Vì thế Phật dạy:Tu bồ đề! Chỗ nói là pháp tướng đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp tướng, chỉ tạm gọi là pháp tướng”!!!

[[69]] Tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di: gọi chung là Bốn chúng, tức là hàng đệ tử Phật. Tỳ kheo và tỳ kheo ni là hai chúng xuất gia. Ưu bà tắc và ưu bà di là hai chúng tại gia, tức là hàng cư sĩ nam và cư sĩ nữ…