Kính lễ Ngài LÝ TỨ – Tác giả của cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN!
Kính thưa các bạn đọc!
Vào khoảng đầu tháng 4 năm 2014, một duyên lành đã đến với con, đó là bắt gặp cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN (bản photocopy – trên giấy A4) do một người bạn giới thiệu.
Sau khi đọc khoảng 10 trang, con đã có một cảm xúc rất khó tả, thôi thúc muốn gặp ngay tác giả.
Khoảng vài tuần sau, mong ước của con đã trở thành hiện thực. Được gặp Ngài, sau đó nghe Ngài thuyết giảng về những điều liên quan đến tu tập trong Phật đạo, con đã tâm phục, khẩu phục về trí tuệ và quyết định đảnh lễ để trở thành học trò. (Hôm đó trên tờ lịch có ghi là “Ngày sách Việt Nam” 21/4/2014).
Đã hơn 5 năm theo Ngài tu học, cho đến nay cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN con đọc đi, đọc lại rất nhiều lần, nhưng chưa bao giờ giảm đi tính hấp dẫn, ngược lại sự cuốn hút của cuốn sách càng mãnh liệt hơn, sâu thẳm như tuần tự bước ra biển lớn. Bên cạnh đó nhờ chánh kiến soi đường mà con có niềm tin vững chắc (bất thối chuyển) và ngày càng tinh tấn trên đạo lộ “Thấy khổ mà được vui, dứt tập mà được an vui, chứng diệt được mãi vui, tu đạo (có trí tuệ) mà ung dung tự tại”.
Cuốn sách PHẬT GIÁO VÀ THIỀN! được trình bày có cấu trúc như một luận văn khoa học về Phật đạo, giúp người đọc đi từ cạn đến sâu, từ tổng quan đến chi tiết, giảng giải, cắt nghĩa rất rõ ràng làm sáng tỏ nhiều khái niệm, bởi văn tự bát nhã, đi thẳng vào vấn đề liên quan, cần thiết… Giúp người đọc sớm nhận ra bức tranh toàn cảnh về tu tập Phật đạo từ trước đến nay một cách chân thực về Lịch sử Phật giáo và thiền của Việt Nam qua các thời kỳ… và người đọc được trang bị những lý luận cơ bản, chân lý, nhất là những sự khác biệt… mà nhiều người chưa từng nghe, chưa từng biết, chưa từng xuất hiện (trên mạng xã hội, kể cả ý tưởng luận giải từ những người khác…) nhưng khi bắt gặp trong cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN thì vô cùng lợi lạc bởi diệu pháp này có thể cởi trói cho mình, cho người, nhằm “Đoạn mê khai giác; tồi tà hiển chánh” và thành tựu trí tuệ!
Phần cuối cuốn sách CHÁNH KIẾN thay cho tổng kết, có lẽ là mục tiêu tối thượng của tác giả, nhằm gửi gắm tâm nguyện đến người đọc mong muốn sự thay đổi căn bản về nhận thức Chánh kiến, có như thế mới đủ điều kiện để đi tiếp trên con đường CHÁNH PHÁP.
Xin phép được ghi lại một vài cảm nhận của bản thân khi được Ngài chỉ dạy (thông qua đề tài TỨ NIỆM XỨ) và “Chánh Kiến” từ cuốn sách PHẬT GIÁO VÀ THIỀN soi đường.
Một người mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo có thể ví như đang bị lạc lối ở trong rừng sâu đêm tối.
Ánh sáng giác ngộ là điều kiện vô cùng quan trọng và rất cần thiết để dẫn dắt người này ra khỏi rừng rậm của vô minh.
Tu hành trong Phật đạo thấu tỏ được tứ niệm xứ cũng ví như người có được nguồn sáng dẫn đường.
Điều cực kỳ quan trọng này đã được Thế Tôn thuyết như sau:
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ”.
Tu hành đúng sẽ cho ra kết quả “đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”.
Ngược lại, hệ quả của việc tu hành sai tất yếu cho ra kết quả sai. Phiền não ngày càng tăng, tam độc phát tác càng mạnh là việc khỏi bàn cãi, cũng giống như trung tâm điều khiển máy tính (CPU) mắc lỗi từ hệ thống. Không biết điều này, vẫn chấp chặt với nó mà không gặp phải rắc rối, mới là chuyện lạ.
Đứng trước thực trạng tu tập hiện nay, mục tiêu giữ gìn Tam bảo là nghĩa vụ cao thượng của các Phật tử chân chính, ngay trong lúc này, cần phải học tập và làm theo tấm gương của Thế Tôn thông qua nội dung, ý nghĩa lời bạch của du sĩ Vekhanassa.
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng” (Kinh Vekhanassa).
Có thể thấy quy trình để giác ngộ, giải thoát và thành tựu trí tuệ, người tu hành phải thông qua bốn đế và 37 phẩm, như sợi dây xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng, làm cho quy trình hoạt động được trơn tru, hiệu quả thì chính đó là Tứ niệm xứ. Nếu NIỆM nào xa rời bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì phép tu đó là không chính thống.
Tứ diệu đế được ví như nền móng của ngôi nhà Phật đạo, bốn món Khổ, Tập, Diệt, Đạo diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp hình thành nên Tứ diệu đế, vì thế Tứ diệu đế và Tứ niệm xứ không thể tách rời nhau, hay nền móng Tứ diệu đế không thể hình thành, nếu không có sự tham gia cuả Tứ niệm xứ.
Người mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo cũng giống như người lính ra trận, cần biết rõ “giặc phiền não” đang ở đâu, do đâu mà sanh, làm sao mà diệt? … Thấu tỏ được những điều này mới có cơ may dành thắng lợi.
Phát hiện được Tứ niệm xứ cũng có thể ví như người đang ngụp lặn dưới đáy của hầm sâu vô minh, bỗng giác ngộ được rằng, nơi đây, ngay chỗ đang đau khổ này, cũng có 4 sợi dây (thân, thọ, tâm, pháp) dẫn lối.
Người đang đau khổ chỉ cần lần theo một trong bốn sợi dây đó cũng có khả năng thoát ra khỏi hang tối.
Người mới bắt đầu tu tập trong Đạo Phật, đang đứng trước một thực tế, Tam tạng kinh điển được giảng thuyết, nhân rộng, tạo thành những núi sách đồ sộ, mà không cẩn thận cũng sẽ bị sách đè, còn muốn đọc cho hết tất cả, thì phải làm di chúc cho con cháu mang theo, khi tiễn ra nghĩa trang. Đó chỉ là nói đến số lượng.
Còn về chất lượng, kinh dạy rằng (đại ý): Chỉ có con Nga Vương mới thẩm định được đâu là “sữa” đâu là “nước lã” trong đó, chưa nói đến trong nước có “độc” do vô tình, nhầm lẫn hay cố ý.
Trừ con Nga Vương khi đưa mỏ vào thì hút được sữa, còn các giống khác như Cò, Cuốc, Le le, Vịt trời đưa mỏ vào mà uống, nếu không trúng độc mất mạng, thì cũng phình bụng đi cấp cứu vì uống quá nhiều nước vô bổ. Đây cũng là tình trạng phổ biến, nhất là đối với những người (không giác ngộ) nhưng tự cho mình có trí thức (lấy thức làm tri) để tu hành.
Mặt khác, để chỉ sự tu hành lộn ngược hay còn gọi là điên đảo, trong các bản kinh Phật thường ví việc làm đó như “nấu cát mà đòi thành cơm”. Đây thực sự mới là vấn nạn nguy hiểm nhất hiện nay.
Tình trạng tu tập “điên đảo” là chuyên dài nhiều tập. Chỉ cần nêu một số điển hình về tình trạng tu tập hiện nay… cũng đủ trả lời cho câu hỏi tại sao người tu theo kinh Tứ niệm xứ, đã trên bảy năm, thậm chí 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa mà “cục ngu” vẫn còn nguyên, lại còn phát tác đủ thứ tham, sân, si, như bị bệnh ung thư giai đoạn cuối.
Muốn khắc phục được tình trạng này ta phải làm rõ nguyên nhân.
Ngu – Mê – Lầm trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) là nguyên nhân căn bản.
Bệnh của ba cõi cũng từ đây mà sanh khởi.
Nhưng đối với người mới tu tập ta có thể chỉ rõ hơn, chi tiết hơn.
Nguyên nhân khách quan: Đó là chân, giả lẫn lộn, đúng sai không rõ ràng, thông tin nhiễu loạn, làm người mới tu tập mất phương hướng, tự mình không thẩm định được.
Ngày xưa dân cư thưa thớt, vắng vẻ tìm được tìm người hỏi đường có vẻ khó khăn. Ngày nay ồn ào náo nhiệt, chưa kịp hỏi đường đã đã có nhiểu người đến giúp, chỉ phân vân một điều là mỗi người lại chỉ cho một hướng khác nhau, không biết đâu mà lần.
Nguyên nhân chủ quan: Người mới tu tập không đủ sáng suốt để xử lý thông tin nhằm đưa ra kết quả đúng dẫn đến tu mù hay tu theo ai đó.
Điều này cũng giống như người bệnh tự đoán bệnh rồi mua thuốc uống liều, hoặc mượn đơn thuốc hàng xóm về uống theo.
Đề ra giải pháp, làm sao cho phàm phu hết ngu, người giác hết mê, người trí hết lầm trên bốn chỗ, biết rút ra bài học quý giá từ những người đã trải qua hoặc đã từng vấp ngã là giải pháp tối ưu nhất dành cho người mới bắt đầu tu tập.
Muốn hết ngu phải giác ngộ, biết mình ngu được coi là sự kiện giác ngộ đầu tiên, bởi Kinh Pháp cú dạy:“Người ngu biết mình ngu. Nhờ vậy mà có trí. Người ngu tưởng có trí. Đích thị là chí ngu”.
Sau khi giác ngộ được điều này, người khôn ngoan biết tìm đến Nga Vương mà đảnh lễ.
Lễ thứ nhất bẻ gãy cờ kiêu; lễ thư hai văng hết ngu si; lễ thứ ba phát sanh trí tuệ.
Sau khi được thọ nhận rồi thì không những “sữa” được uống thỏa thích mà lạc, tô, đề hồ cũng được Nga Vương ban phát rộng rãi.
Các kho báu chứa những món ăn thượng diệu bồi dưỡng trí tuệ, có tên (Phật giáo và thiền, Tâm pháp, Vô đối môn, Anh lạc luận…) ví như lạc, tô, đề hồ được Nga Vương luyện thành, đã mở rộng cánh cửa.
Gã cùng tử sau khi đảnh lễ, được nhận làm con, một bước vào nhà, bỗng thành giàu có.
Từ nay, kiếp thân cò lặn lội bờ ao để kiếm sống qua ngày được chấm dứt, những mối nguy hiểm về thức ăn được loại trừ. Thân cò đã hóa kiếp, sư tử con đã được sinh ra.
Sự thật này có thể chứng minh bằng phép thử, bởi rồng sinh ra bảy ngày đã biết làm mưa, sư tử con mới biết tập gầm thì chồn, cáo, dã can quanh đó cũng phải so đầu rụt cổ, nháo nhác tìm nơi ẩn nấp.
Giác ngộ trong Đạo Phật có thể ví như người tỉnh giấc sau một giấc mơ dài việc tiếp theo là phải học tập để có trí tuệ mới giúp được mình cứu được người.
Việc đầu tiên của kẻ trí là phải phân biệt được thế nào là các loại trí.
Trí thế gian lấy thức làm trí gọi là trí thức do hư vọng tâm mà có.
Trí để điều phục tâm từ loạn động trở về thanh tịnh gọi là giác trí do thanh tịnh tâm mà sanh, lìa mê, lìa giác thật trí mới hiện.
Nhận biết điều này rất cần thiết giúp người mới bắt đầu tu tập luôn luôn cảnh giác, giữ được chánh niệm, tránh được lỗi lấy trí thế gian để làm công cụ thanh tịnh tâm. Việc làm này là điên đảo, cũng như người mù đang giảng giải, bàn về màu sắc.
Cuốn sách PHẬT GIÁO VÀ THIỀN được phát hành, như phát pháo, báo hiệu mệnh lệnh tổng tấn công trên khắp chiến trường đánh “giặc phiền não”, là tiếng còi báo hiệu sự rời bến của con tàu Bát Nhã. Là vầng thái dương báo hiệu mặt trời xuất hiện.
Con đường giác ngộ, giải thoát và trí tuệ đã được xác định rõ ràng Ngôi nhà Bát chánh đạo đã được khai móng và làm lễ đặt đá. Ngũ căn đã sanh, ngũ lực đã chuyển, những búp hoa trên chi cành giác ngộ đang tiếp tục hé nở trong vườn Lý Gia, khoe sắc, tỏa hương chào đón một mùa xuân an lạc đang xuất hiện trên thế gian này.
Có hạnh phúc nào hơn, khi những lời nguyện cao thượng đang trở thành hiện thực./.
Con cung kính đảnh lễ Ngài Lý Tứ!!!
Con, LÝ THÁI ĐĂNG

SÁCH DO NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ VÀ CÔNG TY SÁCH MINH THẮNG PHÁT HÀNH